Trên cơ sở phân tích định hướng hoàn thiện pháp luật thuế TNCN gắn với chuyển đổi số quốc gia và cải cách hệ thống thuế đến năm 2030, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện nhằm hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh trên nền tảng số. Các giải pháp tập trung vào việc sửa đổi, bổ sung Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật Quản lý thuế theo hướng nhận diện rõ các loại thu nhập số; hoàn thiện cơ chế định danh, chia sẻ dữ liệu và quản lý thuế dựa trên rủi ro; tăng cường vai trò của nền tảng số trong khấu trừ và nộp thuế tại nguồn; cải cách cơ chế hóa đơn điện tử; đồng thời nâng cao hiệu quả tổ chức thực thi thông qua đầu tư hạ tầng công nghệ, tăng cường phối hợp liên ngành và hỗ trợ người nộp thuế. Qua đó, bài viết góp phần làm rõ yêu cầu và nội dung hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập cá nhân trong bối cảnh kinh tế số, hướng tới mục tiêu bảo đảm thu đúng, thu đủ, thu kịp thời, đồng thời tạo lập môi trường kinh doanh số minh bạch, công bằng và bền vững.
Từ khoá: Thuế thu nhập cá nhân; cá nhân kinh doanh; nền tảng số; kinh tế số; quản lý thuế dựa trên dữ liệu; khấu trừ thuế tại nguồn
MỞ ĐẦU
Quá trình chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế số trong những năm gần đây đã làm thay đổi căn bản phương thức tổ chức hoạt động kinh doanh, đặc biệt là sự gia tăng nhanh chóng của các mô hình kinh doanh dựa trên nền tảng số như thương mại điện tử, mạng xã hội, nền tảng chia sẻ nội dung, ứng dụng di động và các dịch vụ số xuyên biên giới. Trong bối cảnh đó, cá nhân kinh doanh trên nền tảng số ngày càng trở thành một chủ thể quan trọng trong nền kinh tế, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng, tạo việc làm và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, chính sự linh hoạt, phi tập trung và xuyên biên giới của các hoạt động kinh doanh số cũng đặt ra nhiều thách thức mới đối với công tác quản lý nhà nước nói chung và quản lý thuế nói riêng. Thực tiễn tại Việt Nam cho thấy, pháp luật thuế thu nhập cá nhân (TNCN) hiện hành chủ yếu được xây dựng trên cơ sở các mô hình thu nhập và kinh doanh truyền thống, chưa theo kịp sự xuất hiện và phát triển nhanh chóng của các loại thu nhập phát sinh trong môi trường số. Nhiều vấn đề pháp lý nảy sinh như: khó khăn trong việc nhận diện cá nhân kinh doanh trên nền tảng số; chưa có cơ chế đầy đủ để xác định chính xác doanh thu và căn cứ tính thuế; hạn chế trong chia sẻ và khai thác dữ liệu giữa các chủ thể liên quan; hiệu quả của cơ chế khấu trừ, khai thay, nộp thay thuế còn chưa cao; cũng như khoảng cách đáng kể giữa quy định pháp luật và khả năng tổ chức thực thi trên thực tế. Những hạn chế này không chỉ làm gia tăng nguy cơ thất thu thuế mà còn ảnh hưởng đến tính công bằng, minh bạch của hệ thống thuế và môi trường kinh doanh số. Xuất phát từ yêu cầu hoàn thiện thể chế kinh tế số, cải cách hệ thống thuế theo định hướng hiện đại, minh bạch và dựa trên dữ liệu, việc nghiên cứu, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh trên nền tảng số có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Trên cơ sở phân tích định hướng hoàn thiện pháp luật và thực trạng áp dụng trong giai đoạn 2020–2025, bài viết tập trung đề xuất hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp luật thuế TNCN và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật, góp phần bảo đảm thu đúng, thu đủ, thu kịp thời, đồng thời thúc đẩy sự phát triển lành mạnh, bền vững của kinh tế số ở Việt Nam
NỘI DUNG
1. Định hướng hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh trên nền tảng số[TN1]
Có thể thấy rõ rằng, việc hoàn thiện pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh trên nền tảng số không phải là điều chỉnh cục bộ, tình thế, mà là một yêu cầu có tính chiến lược, gắn với quá trình chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số và cải cách hệ thống thuế đến năm 2030. Định hướng chung là phải xây dựng một khuôn khổ pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đủ khả năng bao quát các mô hình thu nhập mới trong môi trường số, tạo lập cơ chế quản lý dựa trên dữ liệu và rủi ro thay vì chỉ dựa vào kê khai tự giác, đồng thời bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu thu đúng, thu đủ, thu kịp thời với việc khuyến khích đổi mới sáng tạo, thúc đẩy sự phát triển của các mô hình kinh doanh số.
Trước hết, pháp luật về thuế thu nhập cá nhân cần được hoàn thiện theo định hướng làm rõ và mở rộng phạm vi điều chỉnh đối với các loại thu nhập phát sinh từ nền tảng số, khắc phục tình trạng phải suy đoán từ các quy định chung như hiện nay. Việc Luật Thuế thu nhập cá nhân chủ yếu được thiết kế trên nền tảng các loại hình thu nhập truyền thống dẫn tới nhiều loại thu nhập đặc thù của cá nhân kinh doanh trên nền tảng số chưa được mô tả rõ, gây lúng túng trong áp dụng. Do đó, định hướng sửa đổi luật cần hướng tới việc nhận diện và quy định rõ các nhóm thu nhập gắn với hoạt động kinh doanh trên nền tảng số như thu nhập từ bán hàng qua sàn thương mại điện tử, mạng xã hội, thu nhập từ sáng tạo nội dung số, từ quảng cáo trực tuyến, từ chia sẻ doanh thu với nền tảng, từ tiếp thị liên kết, từ quà tặng ảo, từ dịch vụ số xuyên biên giới…; đồng thời xác lập nguyên tắc phân loại thu nhập bảo đảm ranh giới tương đối rõ giữa thu nhập từ kinh doanh và các loại thu nhập khác của cá nhân. Trên cơ sở đó, việc xác định căn cứ tính thuế, cách thức xác định doanh thu, chi phí được trừ, tỷ lệ thu nhập chịu thuế đối với từng nhóm thu nhập số phải được quy định minh bạch, dễ dự đoán và có tính ổn định tương đối.
Tiếp theo, trong bối cảnh thực tiễn cho thấy khó khăn nổi bật nằm ở việc định danh và nhận diện chính xác cá nhân kinh doanh trên nền tảng số, định hướng hoàn thiện pháp luật cần chuyển mạnh sang mô hình quản lý dựa trên định danh số thống nhất. Việc sử dụng số định danh cá nhân thay thế mã số thuế theo Thông tư về đăng ký thuế đã tạo tiền đề kỹ thuật quan trọng, nhưng mới dừng lại ở phía cơ quan thuế và người nộp thuế. Bước tiếp theo, pháp luật cần định hướng theo hướng ràng buộc rõ trách nhiệm của các chủ thể trung gian - sàn thương mại điện tử, nền tảng mạng xã hội, đơn vị trung gian thanh toán, tổ chức tín dụng - trong việc xác thực và gắn tài khoản kinh doanh với số định danh cá nhân hoặc mã số thuế của người kinh doanh. Nói cách khác, pháp luật phải tạo dựng một hạ tầng định danh thuế thống nhất, trong đó mọi giao dịch kinh doanh trên nền tảng số của cá nhân đều có thể truy ngược về một chủ thể đã được định danh rõ ràng trong hệ thống thuế.
Định hướng quan trọng nữa là hoàn thiện pháp luật theo hướng xây dựng cơ chế dữ liệu và chia sẻ dữ liệu làm trụ cột cho quản lý thuế trong môi trường số. Các số liệu thực tiễn cho thấy ngành Thuế đã bước đầu hình thành kho dữ liệu lớn về giao dịch thương mại điện tử, hóa đơn điện tử, tài khoản kinh doanh, song dữ liệu vẫn còn phân tán, chưa bảo đảm liên thông, chưa có chuẩn thống nhất và còn phụ thuộc nhiều vào thiện chí cung cấp của nền tảng, ngân hàng, trung gian thanh toán. Do đó, pháp luật cần cụ thể hóa rõ phạm vi, nội dung, tần suất và hình thức chia sẻ dữ liệu bắt buộc giữa cơ quan thuế với các chủ thể liên quan; quy định chuẩn dữ liệu tối thiểu; thiết lập cơ chế trách nhiệm pháp lý khi không cung cấp, cung cấp chậm hoặc cung cấp không đầy đủ, không chính xác dữ liệu; đồng thời song hành với các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, bí mật kinh doanh, bảo đảm dữ liệu thuế được khai thác đúng mục đích, đúng thẩm quyền. Chỉ trên cơ sở đó, cơ quan thuế mới có thể chuyển dịch thực chất sang mô hình quản lý theo rủi ro, phát hiện sớm các trường hợp cá nhân có thu nhập lớn nhưng chưa kê khai hoặc kê khai không đầy đủ.
Một định hướng then chốt khác là tăng cường vai trò của chính các nền tảng số trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế, đặc biệt là cơ chế khấu trừ, khai thay, nộp thay thuế thu nhập cá nhân cho người nhận thu nhập. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy nếu đặt toàn bộ gánh nặng kê khai lên cá nhân kinh doanh - vốn phân tán, đa dạng, trình độ hiểu biết pháp luật không đồng đều - thì rất khó bảo đảm tính bao quát và công bằng. Do đó, pháp luật cần định hướng theo hướng xác định rõ trường hợp, điều kiện, phạm vi và quy trình mà theo đó sàn thương mại điện tử, nhà cung cấp dịch vụ số, nền tảng mạng xã hội có trách nhiệm khấu trừ, khai thay, nộp thay thuế thu nhập cá nhân cho cá nhân kinh doanh, đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích của các bên thông qua cơ chế đối soát, hoàn thuế, khiếu nại, giải quyết tranh chấp. Cơ chế này phải được thiết kế thận trọng để vừa phù hợp với pháp luật dân sự, pháp luật thương mại, vừa tránh gây sốc, xáo trộn quá lớn cho hoạt động của doanh nghiệp nền tảng.
Gắn với đó, pháp luật cũng cần được hoàn thiện theo hướng tái thiết kế cơ chế hóa đơn điện tử phù hợp với đặc thù giao dịch trên nền tảng số, khắc phục khoảng trống hiện nay trong việc lập hóa đơn cho các giao dịch nhỏ lẻ, diễn ra liên tục qua livestream hoặc tin nhắn. Định hướng có thể là xây dựng các mô hình hóa đơn điện tử rút gọn dành riêng cho giao dịch số; cơ chế hóa đơn điện tử do sàn hoặc nền tảng khởi tạo thay cho cá nhân trên cơ sở dữ liệu đơn hàng; hoặc các giải pháp kỹ thuật cho phép lập hóa đơn tự động theo từng giao dịch, theo phiên livestream hoặc theo kỳ đối soát. Mục tiêu là vừa bảo đảm truy vết được doanh thu, vừa không tạo gánh nặng thủ tục không cần thiết đối với những cá nhân kinh doanh có tần suất giao dịch cao, giá trị đơn lẻ nhỏ.
Bên cạnh những định hướng mang tính kỹ thuật, việc hoàn thiện pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh trên nền tảng số còn phải quán triệt nguyên tắc công bằng, trung lập và tương thích với xu hướng quốc tế. Công bằng ở đây được hiểu theo nhiều tầng: công bằng giữa cá nhân kinh doanh trên nền tảng số và cá nhân kinh doanh truyền thống; giữa cá nhân và tổ chức có cùng mức doanh thu; giữa các nhóm thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ. Pháp luật thuế không nên tạo ra ưu thế thuế khóa cho mô hình kinh doanh số so với mô hình truyền thống, nhưng cũng không nên áp đặt cơ chế quá nặng nề khiến cá nhân nản lòng, cản trở đổi mới sáng tạo. Đồng thời, trong bối cảnh các giao dịch số, nhất là giao dịch qua nền tảng xuyên biên giới, ngày càng phổ biến, việc hoàn thiện pháp luật trong nước cần tham chiếu, tiệm cận dần với các chuẩn mực và khuyến nghị quốc tế về đánh thuế kinh tế số, tránh xung đột, chồng chéo khi Việt Nam tham gia sâu hơn vào các cơ chế hợp tác thuế toàn cầu.
Cuối cùng, định hướng hoàn thiện pháp luật không thể tách rời cải cách tổ chức thực thi và tăng cường năng lực của cơ quan thuế. Những bất cập về hạ tầng dữ liệu, nguồn nhân lực, phương thức quản lý theo dõi dòng tiền, xử lý vi phạm… mà Chương 2 đã chỉ ra cho thấy nếu chỉ sửa luật, nghị định, thông tư mà không song hành với đầu tư cho hệ thống công nghệ thông tin, đào tạo đội ngũ cán bộ thuế, hoàn thiện quy trình quản lý rủi ro, cơ chế phối hợp liên ngành thì pháp luật dù được sửa đổi tiến bộ đến đâu cũng khó đi vào cuộc sống. Vì vậy, định hướng của việc hoàn thiện pháp luật trong Chương 3 cần được nhìn nhận theo nghĩa rộng, không chỉ là điều chỉnh các quy định mang tính quy phạm, mà còn là tạo lập khung pháp lý hỗ trợ cho chuyển đổi số trong quản lý thuế, xây dựng văn hóa tuân thủ thuế trong cộng đồng cá nhân kinh doanh trên nền tảng số, qua đó bảo đảm cho hoạt động quản lý thuế thu nhập cá nhân đối với nhóm chủ thể này diễn ra ổn định, bền vững và minh bạch hơn trong dài hạn.
2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh trên nền tảng số
Trước hết, cần sửa đổi, bổ sung Luật Thuế thu nhập cá nhân theo hướng nhận diện rõ nhóm thu nhập từ hoạt động kinh doanh trên nền tảng số. Bên cạnh các nhóm thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ tiền lương, tiền công, thu nhập từ bản quyền… Luật cần bổ sung hoặc làm rõ khái niệm và phạm vi của thu nhập phát sinh từ hoạt động kinh doanh qua sàn thương mại điện tử, mạng xã hội, nền tảng chia sẻ nội dung, ứng dụng di động, trò chơi trực tuyến, dịch vụ số xuyên biên giới. Trên cơ sở đó, luật cần quy định rõ nguyên tắc phân loại: trường hợp nào được coi là thu nhập từ kinh doanh (có tính thường xuyên, có tổ chức, có yếu tố đầu tư nguồn lực), trường hợp nào chỉ là thu nhập không thường xuyên; đồng thời bổ sung cơ chế xác định căn cứ tính thuế phù hợp với đặc thù từng loại thu nhập (ví dụ: thu nhập chia sẻ doanh thu với nền tảng, hoa hồng tiếp thị liên kết, quà tặng ảo, thu nhập từ lượt xem và quảng cáo). Việc luật hóa những nguyên tắc này sẽ khắc phục tình trạng cơ quan thuế và người nộp thuế phải suy đoán từ các quy định chung, tạo nền tảng pháp lý thống nhất cho việc ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết.
Thứ hai, cần hoàn thiện quy định về căn cứ tính thuế và phương pháp xác định doanh thu, chi phí đối với cá nhân kinh doanh trên nền tảng số. Điều 10 Luật Thuế thu nhập cá nhân hiện mới quy định chung về căn cứ tính thuế là doanh thu tính thuế và tỷ lệ thu nhập chịu thuế nhưng chưa làm rõ cách xác định doanh thu trong môi trường số, nơi giao dịch thường được thanh toán qua nhiều kênh, nhiều lớp trung gian, nhiều loại tiền tệ. Giải pháp là bổ sung quy định cho phép cơ quan thuế sử dụng dữ liệu từ sàn thương mại điện tử, nền tảng số, tổ chức trung gian thanh toán, ngân hàng và Cổng thông tin điện tử dành cho nhà cung cấp nước ngoài làm căn cứ xác định doanh thu tính thuế; đồng thời, đối với một số loại hình kinh doanh số có chi phí đặc thù như chi phí quảng cáo trực tuyến, chi phí nền tảng, chi phí sản xuất nội dung, cần nghiên cứu bổ sung cơ chế chi phí được trừ hoặc tỷ lệ chi phí hợp lý, tránh đánh thuế trên doanh thu gộp mà không xét đến cấu trúc chi phí thực tế. Việc thiết kế tốt cơ chế căn cứ tính thuế sẽ giúp chính sách thuế vừa chặt chẽ vừa hợp lý, hạn chế xung đột, khiếu nại trong thực tiễn.
Thứ ba, cùng với việc sửa đổi Luật Thuế thu nhập cá nhân, cần sửa đổi, bổ sung Luật Quản lý thuế và các nghị định hướng dẫn theo hướng tái thiết kế cơ chế đăng ký thuế, định danh và quản lý hồ sơ đối với cá nhân kinh doanh trên nền tảng số. Trên nền tảng sử dụng số định danh cá nhân thay thế mã số thuế, pháp luật nên quy định bắt buộc việc gắn số định danh cá nhân với mọi tài khoản kinh doanh trên sàn thương mại điện tử, tài khoản người bán trên nền tảng mạng xã hội, tài khoản nhà sáng tạo nội dung trên các nền tảng chia sẻ video, cũng như với tài khoản thanh toán, ví điện tử sử dụng cho hoạt động kinh doanh. Các nghị định về đăng ký thuế, thương mại điện tử và quản lý dịch vụ trung gian thanh toán cần được sửa đổi theo hướng: (i) quy định rõ trách nhiệm của sàn, nền tảng, trung gian thanh toán trong việc thu thập, xác thực và cập nhật thông tin định danh thuế của cá nhân kinh doanh; (ii) thiết lập nghĩa vụ thông báo định kỳ cho cơ quan thuế về danh sách tài khoản kinh doanh và thay đổi thông tin; (iii) bổ sung chế tài xử phạt, thậm chí cơ chế tạm dừng cung cấp dịch vụ đối với các tổ chức không tuân thủ nghĩa vụ này. Nhờ đó, việc định danh và nhận diện đối tượng nộp thuế sẽ không chỉ dựa vào kê khai tự giác mà được bảo đảm ngay từ khâu thiết lập tài khoản kinh doanh trên nền tảng số.
Thứ tư, cần xây dựng một khung pháp lý đầy đủ, chi tiết về chia sẻ dữ liệu phục vụ quản lý thuế trong môi trường số. Những hạn chế về thiếu chuẩn dữ liệu, thiếu tần suất cung cấp, thiếu cơ chế trách nhiệm trong việc cung cấp dữ liệu của sàn thương mại điện tử, nền tảng số, ngân hàng và trung gian thanh toán đòi hỏi phải có quy định cụ thể ở cấp nghị định. Giải pháp là ban hành hoặc sửa đổi các nghị định hiện hành theo hướng: (i) xác định rõ loại dữ liệu tối thiểu phải cung cấp như thông tin định danh của cá nhân, tổng doanh thu, số lượt giao dịch, kênh thanh toán, dữ liệu đối soát với nhà cung cấp nước ngoài…; (ii) quy định tần suất, hình thức và chuẩn kỹ thuật của việc truyền nhận dữ liệu; (iii) xác lập cơ chế bảo vệ dữ liệu cá nhân và bí mật kinh doanh, trong đó nêu rõ phạm vi, mục đích sử dụng dữ liệu của cơ quan thuế; (iv) thiết kế chế tài đủ mạnh đối với hành vi không cung cấp, cung cấp chậm, cung cấp không chính xác hoặc cố ý làm sai lệch dữ liệu. Đồng thời, cần bổ sung các quy định về thẩm quyền của cơ quan thuế trong việc khai thác, phân tích dữ liệu lớn và áp dụng quản lý rủi ro, qua đó hợp pháp hóa mô hình quản lý dựa trên dữ liệu vốn đã được ngành Thuế triển khai thí điểm trong thời gian qua.
Thứ năm, một nhóm giải pháp trọng tâm là hoàn thiện cơ chế khấu trừ, khai thay, nộp thay thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập phát sinh trên nền tảng số. Trên thực tế, việc đặt nghĩa vụ kê khai, nộp thuế thu nhập cá nhân hoàn toàn vào tay cá nhân kinh doanh nhỏ lẻ tỏ ra không hiệu quả, nhất là đối với thu nhập xuyên biên giới, thu nhập từ nhà cung cấp nước ngoài. Do đó, pháp luật cần sửa đổi, bổ sung Nghị định về quản lý thuế và các thông tư hướng dẫn để: (i) xác định rõ những loại thu nhập số mà nền tảng, nhà cung cấp dịch vụ, tổ chức chi trả có nghĩa vụ khấu trừ, khai thay, nộp thay (chẳng hạn, thu nhập từ chia sẻ doanh thu quảng cáo, tiền thưởng nền tảng, doanh thu từ kho ứng dụng, khoản thanh toán qua cổng thanh toán được nền tảng kiểm soát); (ii) quy định cụ thể tỷ lệ khấu trừ, thời điểm khấu trừ, cách thức kê khai và nộp thay; (iii) quy định cơ chế đối soát để người nộp thuế được khấu trừ số thuế đã nộp thay vào nghĩa vụ thuế tổng thể của mình, tránh đánh thuế trùng; (iv) đối với nhà cung cấp nước ngoài, bổ sung nghĩa vụ đăng ký, kê khai và khấu trừ theo mô hình Cổng thông tin điện tử dành cho nhà cung cấp nước ngoài, đồng thời quy định chế tài khi không thực hiện. Việc thiết kế hợp lý cơ chế khấu trừ, khai thay, nộp thay sẽ giúp thuế đi theo dòng tiền, thu được ngay tại nguồn, giảm đáng kể nguy cơ thất thu.
Thứ sáu, cần cải cách sâu hơn cơ chế hóa đơn điện tử để phù hợp với đặc thù giao dịch của cá nhân kinh doanh trên nền tảng số. Hệ thống pháp luật hiện hành về hóa đơn điện tử tuy đã tạo nền tảng kỹ thuật quan trọng nhưng vẫn thiên về mô hình giao dịch tại điểm bán vật lý, chưa có quy định riêng cho các giao dịch nhỏ lẻ, tần suất cao qua livestream, nhắn tin, đặt hàng qua nền tảng. Do đó, cần nghiên cứu bổ sung: (i) cơ chế hóa đơn điện tử gộp theo kỳ cho các cá nhân có tần suất giao dịch cao nhưng giá trị đơn hàng nhỏ, cho phép lập một hóa đơn tổng hợp theo phiên livestream hoặc theo chu kỳ đối soát với nền tảng; (ii) cơ chế cho phép sàn thương mại điện tử, nền tảng số lập hóa đơn điện tử thay mặt cá nhân kinh doanh trên cơ sở dữ liệu đơn hàng, thanh toán, sau đó cung cấp bản sao cho người bán và người mua; (iii) các mẫu hóa đơn điện tử rút gọn áp dụng riêng cho dịch vụ, nội dung số, phù hợp với thực tế giao dịch hoàn toàn trực tuyến. Những điều chỉnh này sẽ giúp bảo đảm truy vết doanh thu mà không biến nghĩa vụ lập hóa đơn thành gánh nặng hành chính không khả thi đối với cá nhân kinh doanh[1].
Thứ bảy, để bảo đảm tính răn đe và phù hợp với thực tiễn vi phạm trong môi trường số, pháp luật cần bổ sung các quy định riêng về chế tài xử phạt hành vi vi phạm nghĩa vụ thuế trong kinh doanh trên nền tảng số. Các nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế hiện mới dừng ở quy định chung, chưa tính đến tính chất tinh vi, ẩn danh của hành vi trốn thuế qua tài khoản ảo, ví điện tử không định danh, trung gian thanh toán nước ngoài. Giải pháp là bổ sung các hành vi vi phạm đặc thù, như: cố ý không gắn tài khoản kinh doanh với số định danh cá nhân, chia tách doanh thu qua nhiều tài khoản để tránh ngưỡng thuế, không cung cấp hoặc cung cấp sai lệch dữ liệu giao dịch cho cơ quan thuế, cấu kết với nền tảng hoặc bên trung gian để che giấu dòng tiền…; đồng thời quy định tình tiết tăng nặng đối với hành vi sử dụng công nghệ để che giấu, xóa dấu vết số. Song song với đó, cần thiết kế cơ chế khuyến khích tự giác khai bổ sung, nộp bổ sung thuế, chẳng hạn, giảm mức phạt, tiền chậm nộp để tạo động lực cho những cá nhân đã từng vi phạm nhưng muốn quay lại tuân thủ.
Cuối cùng, việc hoàn thiện pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh trên nền tảng số cũng cần gắn với việc hoàn thiện các quy định về giải quyết tranh chấp, khiếu nại và bảo vệ quyền lợi người nộp thuế trong môi trường số. Cần bổ sung quy định tạo hành lang pháp lý cho các hình thức giải quyết khiếu nại, thắc mắc về thuế qua môi trường điện tử; quy định rõ trách nhiệm cung cấp thông tin, giải trình của cơ quan thuế khi sử dụng dữ liệu lớn và mô hình quản lý rủi ro để xác định nghĩa vụ thuế; đồng thời thiết lập cơ chế để cá nhân có thể tra cứu, kiểm tra thông tin dữ liệu giao dịch, số thuế đã bị khấu trừ, số thuế đã nộp thay. Điều này không chỉ góp phần bảo đảm quyền của người nộp thuế mà còn củng cố niềm tin xã hội, khuyến khích sự hợp tác giữa cá nhân kinh doanh trên nền tảng số với cơ quan thuế.
3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh trên nền tảng số
Bên cạnh việc hoàn thiện nội dung pháp luật, một yêu cầu có ý nghĩa quyết định đối với quản lý thuế thu nhập cá nhân trong môi trường số là nâng cao hiệu quả tổ chức thực thi. Thực tiễn giai đoạn 2020-2025 cho thấy khoảng cách lớn giữa quy định pháp luật và khả năng tổ chức thực hiện, đặc biệt trong các khâu định danh, thu thập và đối soát dữ liệu, khấu trừ và nộp thay, kiểm tra chuyên đề và xử lý vi phạm. Do đó, các giải pháp trong mục này tập trung vào việc nâng cao năng lực tổ chức của cơ quan thuế, hoàn thiện hạ tầng dữ liệu, tăng cường phối hợp liên ngành, đẩy mạnh truyền thông - hỗ trợ, đồng thời thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện trong hoạt động quản lý thuế.
Trước hết, cần nâng cao năng lực công nghệ thông tin và hạ tầng dữ liệu của ngành Thuế nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý trong bối cảnh số hóa toàn diện. Hệ thống quản lý thuế cần được phát triển theo kiến trúc tập trung, tích hợp, cho phép kết nối tự động và thời gian thực với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, hệ thống thanh toán của ngân hàng, các tổ chức trung gian thanh toán, các sàn thương mại điện tử và nền tảng số, cũng như Cổng thông tin của nhà cung cấp nước ngoài. Để thực hiện điều này, cần đầu tư xây dựng hệ thống phân tích dữ liệu lớn (big data analytics), công cụ khai phá dữ liệu, và các mô hình đánh giá rủi ro về thuế áp dụng cho cá nhân kinh doanh trên nền tảng số. Cơ quan thuế cần ưu tiên triển khai hệ thống đối soát tự động doanh thu giữa dữ liệu nền tảng, dữ liệu ngân hàng và dữ liệu hóa đơn điện tử để kịp thời phát hiện các dấu hiệu bất thường. Việc tăng cường khả năng xử lý dữ liệu thời gian thực cũng là tiền đề để áp dụng hiệu quả cơ chế khấu trừ và nộp thay thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập phát sinh từ hoạt động kinh doanh số.
Thứ hai, cần tăng cường năng lực của đội ngũ cán bộ thuế theo hướng chuyên môn hóa trong quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng số. Cán bộ thuế không chỉ cần hiểu pháp luật thuế mà còn phải có kỹ năng về công nghệ thông tin, hiểu mô hình hoạt động của các nền tảng số, phương thức thanh toán số, đặc thù của dòng tiền xuyên biên giới và hành vi vi phạm trong môi trường số. Do vậy, ngành Thuế cần xây dựng chương trình đào tạo chuyên sâu về (i) quản lý thuế dựa trên dữ liệu, (ii) nhận diện rủi ro từ giao dịch số, (iii) phân tích mạng lưới thanh toán và dòng tiền, (iv) ngăn chặn trốn thuế công nghệ cao; đồng thời bố trí các đơn vị chuyên trách theo lĩnh vực nền tảng số, sàn thương mại điện tử và nhà cung cấp nước ngoài. Cùng với đó, cần sửa đổi quy trình kiểm tra, thanh tra theo hướng dựa trên phân tích rủi ro, hạn chế thanh tra tràn lan, tập trung vào nhóm cá nhân có doanh thu lớn hoặc có dấu hiệu bất thường, nhờ vậy vừa tiết kiệm nguồn lực vừa nâng cao hiệu quả thực thi.
Thứ ba, cần đẩy mạnh cơ chế phối hợp liên ngành giữa cơ quan thuế với các bộ, ngành và nền tảng số, đặc biệt là Bộ Công Thương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Công an và các sàn thương mại điện tử. Hiệu quả quản lý thuế thu nhập cá nhân trong môi trường số phụ thuộc rất lớn vào việc chia sẻ dữ liệu, đối soát định kỳ và kiểm tra liên thông. Do đó, cần thiết lập các quy trình phối hợp chính thức theo hướng: (i) Bộ Công Thương cập nhật định kỳ danh sách website và ứng dụng thương mại điện tử, thông tin chủ tài khoản và doanh thu; (ii) Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp quản lý hoạt động cung cấp dịch vụ mạng xã hội, livestream, nền tảng nội dung số và chia sẻ dữ liệu tài khoản kinh doanh theo chuẩn thống nhất; (iii) Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo các ngân hàng và tổ chức trung gian thanh toán chuẩn hóa mã giao dịch, phân loại giao dịch kinh doanh và thiết lập đầu mối chia sẻ dữ liệu giao dịch theo thời gian thực; (iv) Bộ Công an hỗ trợ xác thực định danh, xử lý gian lận, tài khoản giả mạo hoặc che giấu dòng tiền; (v) các nền tảng số trong nước và nhà cung cấp nước ngoài tuân thủ nghĩa vụ cung cấp dữ liệu và thực hiện khấu trừ thuế tại nguồn theo đúng pháp luật. Một cơ chế phối hợp chặt chẽ và thường xuyên sẽ giảm đáng kể tình trạng dữ liệu phân tán, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý thuế trên không gian số.
Thứ tư, để pháp luật được thực hiện hiệu quả, cần tăng cường truyền thông chính sách, hướng dẫn chi tiết và hỗ trợ pháp lý cho cá nhân kinh doanh trên nền tảng số. Nhiều khó khăn trong thực tiễn xuất phát từ việc người nộp thuế chưa hiểu rõ quy định hoặc có tâm lý e ngại vì cho rằng thủ tục phức tạp. Cơ quan thuế cần đẩy mạnh truyền thông theo hướng đa nền tảng, gồm website, mạng xã hội, các nền tảng video ngắn, phối hợp với các sàn thương mại điện tử và hội nhóm người bán hàng, người sáng tạo nội dung để phổ biến quy định về đăng ký thuế, hóa đơn điện tử, kê khai, nộp thuế và khấu trừ tại nguồn. Bên cạnh đó, cần xây dựng hệ thống giải đáp tự động (chatbot) trên Cổng thông tin điện tử thuế và ứng dụng eTax Mobile, giúp cá nhân tiếp cận thông tin chính sách dễ dàng hơn[2]. Trong giai đoạn đầu áp dụng các quy định mới, cơ quan thuế nên triển khai chương trình hỗ trợ kê khai, hỗ trợ đăng ký thuế tại các địa phương, trung tâm thương mại, các cộng đồng kinh doanh trên mạng xã hội, qua đó tạo sự đồng thuận và giảm chi phí tuân thủ cho người nộp thuế.
Thứ năm, cần tiếp tục mở rộng và hoàn thiện các dịch vụ thuế điện tử nhằm giảm chi phí tuân thủ và tăng tính minh bạch. Dựa trên sự thành công của eTax Mobile, cơ quan thuế cần phát triển thêm các chức năng như: (i) đối soát doanh thu tự động với nền tảng; (ii) cảnh báo rủi ro và nhắc nhở nghĩa vụ thuế cho cá nhân; (iii) tra cứu lịch sử giao dịch đã bị khấu trừ thuế; (iv) tạo hóa đơn điện tử tích hợp theo từng phiên giao dịch livestream; (v) hỗ trợ kê khai nhanh cho các loại thu nhập hỗn hợp. Cùng với đó, cần mở rộng dịch vụ thanh toán qua ví điện tử, ngân hàng số, đồng thời thiết lập hệ thống giám sát giao dịch để kịp thời phát hiện các trường hợp có dấu hiệu trốn thuế, nhất là khi sử dụng tài khoản nước ngoài hoặc nhận thu nhập qua kênh không chính thức.
Thứ sáu, để nâng cao hiệu quả thực thi, cần tăng cường kiểm tra, thanh tra theo phương pháp quản lý rủi ro, tập trung vào nhóm đối tượng có khả năng trốn thuế cao. Thay vì thanh tra theo chuyên đề rộng, cơ quan thuế cần áp dụng mô hình đánh giá rủi ro dựa trên: (i) chênh lệch giữa doanh thu nền tảng và doanh thu kê khai; (ii) tần suất giao dịch bất thường; (iii) dấu hiệu phân tán dòng tiền qua nhiều tài khoản; (iv) sử dụng ví điện tử hoặc tài khoản nước ngoài không trùng định danh; (v) hoạt động livestream có doanh số lớn nhưng không xuất hóa đơn. Việc áp dụng quản lý rủi ro không chỉ nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm mà còn tạo môi trường công bằng giữa những người kinh doanh số tuân thủ và không tuân thủ. Cùng với đó, việc công khai các trường hợp vi phạm điển hình cần được thực hiện cẩn trọng, đúng pháp luật, nhằm tạo tính răn đe nhưng không gây hoang mang cho người nộp thuế.
Cuối cùng, để giải pháp thực thi pháp luật có tính bền vững, cần tăng cường hợp tác quốc tế về quản lý thuế đối với kinh tế số và thu nhập xuyên biên giới. Việt Nam cần tham gia sâu hơn vào các diễn đàn của OECD, ASEAN và các hiệp định thuế song phương nhằm đầy mạnh trao đổi thông tin thuế, đối soát dòng tiền quốc tế và chia sẻ dữ liệu nhà cung cấp nước ngoài. Cơ quan thuế cần đàm phán với các nền tảng lớn như Google, Meta, TikTok, Apple để chuẩn hóa cơ chế chia sẻ dữ liệu và khấu trừ thuế tại nguồn cho cá nhân Việt Nam. Đồng thời, cần tăng cường năng lực của Cổng thông tin dành cho nhà cung cấp nước ngoài, đảm bảo tính tự động, minh bạch và liên thông với hệ thống thuế nội địa. Việc hợp tác quốc tế không chỉ giúp quản lý tốt thu nhập xuyên biên giới mà còn góp phần đưa hệ thống thuế Việt Nam tiệm cận chuẩn mực toàn cầu.
Tổng thể các giải pháp nêu trên cho thấy việc nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật thuế thu nhập cá nhân trong môi trường số không chỉ là vấn đề của ngành Thuế mà là nhiệm vụ liên ngành, liên thông dữ liệu và dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại. Khi được triển khai đồng bộ, các giải pháp này sẽ góp phần thu hẹp khoảng cách giữa quy định pháp luật và thực tiễn, bảo đảm thu đúng, thu đủ, thu kịp thời, đồng thời tạo môi trường kinh doanh số minh bạch, công bằng và bền vững.
KẾT LUẬN
Sự phát triển của kinh tế số và các mô hình kinh doanh trên nền tảng số đã và đang làm thay đổi sâu sắc cấu trúc nguồn thu nhập của cá nhân, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới tư duy và phương thức quản lý thuế thu nhập cá nhân. Thực tiễn quản lý thuế tại Việt Nam cho thấy, mặc dù pháp luật đã có những bước điều chỉnh ban đầu nhằm thích ứng với môi trường số, song vẫn tồn tại nhiều bất cập cả về nội dung quy định pháp luật và hiệu quả tổ chức thực thi, dẫn đến nguy cơ thất thu thuế và làm suy giảm tính công bằng của hệ thống thuế. Trên cơ sở phân tích định hướng hoàn thiện pháp luật gắn với chuyển đổi số quốc gia và cải cách hệ thống thuế đến năm 2030, bài viết đã đề xuất một hệ thống giải pháp tương đối toàn diện nhằm hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân kinh doanh trên nền tảng số. Các giải pháp không chỉ tập trung vào việc sửa đổi, bổ sung Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật Quản lý thuế theo hướng nhận diện đầy đủ các loại thu nhập số, hoàn thiện cơ chế định danh, chia sẻ dữ liệu, khấu trừ và nộp thuế tại nguồn, mà còn nhấn mạnh yêu cầu nâng cao hiệu quả tổ chức thực thi thông qua đầu tư hạ tầng công nghệ, tăng cường năng lực của cơ quan thuế, đẩy mạnh phối hợp liên ngành và hỗ trợ người nộp thuế. Có thể khẳng định rằng, việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật thuế thu nhập cá nhân trong môi trường số không chỉ là nhiệm vụ riêng của ngành Thuế mà là quá trình cải cách mang tính hệ thống, đòi hỏi sự tham gia đồng bộ của nhiều chủ thể và sự hỗ trợ của công nghệ hiện đại. Khi các giải pháp được triển khai một cách thống nhất và hiệu quả, pháp luật thuế thu nhập cá nhân sẽ thực sự trở thành công cụ quan trọng góp phần bảo đảm kỷ cương tài chính, thúc đẩy tuân thủ tự giác, đồng thời tạo lập môi trường kinh doanh số minh bạch, công bằng và bền vững trong dài hạn.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Quốc hội (2007), Luật Thuế thu nhập cá nhân, số 04/2007/QH12, đã được sửa đổi, bổ sung. Quốc hội (2019), Luật Quản lý thuế, số 38/2019/QH14. Chính phủ (2020), Nghị định số 126/2020/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế. Chính phủ (2022), Nghị định số 91/2022/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số nghị định về thuế. Bộ Tài chính (2021), Thông tư số 40/2021/TT-BTC hướng dẫn thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh. Bộ Tài chính (2021), Thông tư số 80/2021/TT-BTC hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế. Bộ Công Thương (2013), Nghị định số 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử, đã được sửa đổi, bổ sung. Tổng cục Thuế (2023), Báo cáo chuyên đề về quản lý thuế đối với hoạt động thương mại điện tử và kinh doanh trên nền tảng số Lê Hà Trang (2021), "Áp dụng hóa đơn điện tử ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng và những vấn đề đặt ra", Tạp chí Công thương điện tử, số 19 (Kỳ 2), tr 16. Lê Văn Thiệp (2016), Pháp luật Thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội - Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, tr 114.
[1] Lê Hà Trang (2021), "Áp dụng hóa đơn điện tử ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng và những vấn đề đặt ra", Tạp chí Công thương điện tử, số 19 (Kỳ 2), tr 16.
[2] . Lê Văn Thiệp (2016), Pháp luật Thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội - Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, tr 114.
[TN1]Lưu ý đề tài ko phải về quản lý thuế
Điều chỉnh lại nội dung trong mục này tương ứng với tên tiêu mục
ThS.NCS. Nguyễn Ngọc Ánh(1)
Nguyễn Xuân Cường(2)
[1] Giảng viên Khoa Đào tạo bồi dưỡng công chức, viên chức Toà án, Học viện Toà án
[2] Trợ giảng Khoa Đào tạo bồi dưỡng công chức, viên chức Toà án, Học viện Toà án.