Đây là bước đột phá trong tư duy của Đảng, chuyển từ thu hút đầu tư theo số lượng sang phát triển nền tảng đầu tư chiến lược, lấy chất lượng, công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực chủ yếu. Bài viết tập trung phân tích thực trạng phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, làm rõ những vấn đề đặt ra, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm phát triển mạnh mẽ kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam trong thời gian tới.
1. Đặt vấn đề
Trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài luôn giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới đã phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài góp phần to lớn vào tăng trưởng kinh tế, huy động nguồn vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mở rộng xuất khẩu, tạo việc làm và nâng cao năng lực hội nhập quốc tế.
Bước vào giai đoạn phát triển mới, với mục tiêu "Phấn đấu đến năm 2030 Việt Nam là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đời sống của Nhân dân được nâng cao và hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, vì một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội" [1] đòi hỏi thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trở thành nguồn lực quan trọng được đặt trong tổng thể của chiến lược phát triển đất nước.
Xuất phát từ yêu cầu đó, ngày 08/6/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Nghị quyết đã xác lập những quan điểm, mục tiêu và giải pháp mang tính chiến lược nhằm đổi mới tư duy thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn đầu tư nước ngoài, chuyển từ ưu tiên số lượng sang coi trọng chất lượng, hiệu quả, đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ và phát triển bền vững. Trên cơ sở đó, việc nghiên cứu, đề xuất các giải pháp phát triển mạnh mẽ kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Thực trạng và mục tiêu kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài của Việt Nam
Quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được hình thành và phát triển gắn liền với tiến trình đổi mới, hội nhập quốc tế và hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Qua các kỳ Đại hội, nhận thức của Đảng về vị trí, vai trò của kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng đầy đủ, toàn diện và phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong từng giai đoạn. Kế thừa và phát triển những quan điểm đó, ngày 08/6/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Nghị quyết đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài khi chuyển mạnh từ tư duy thu hút đầu tư theo số lượng sang chú trọng chất lượng, hiệu quả, công nghệ, đổi mới sáng tạo và giá trị gia tăng; ưu tiên thu hút các dự án thuộc lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ nguồn, công nghệ lõi, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và kinh tế tuần hoàn; đồng thời gắn phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, phát huy nội lực, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và hội nhập quốc tế sâu rộng.
Đây là định hướng có ý nghĩa chiến lược, tạo cơ sở chính trị quan trọng để phát triển mạnh mẽ khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài theo hướng chất lượng, hiệu quả và bền vững, góp phần thực hiện mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.
Đánh giá thực tiễn phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, Nghị quyết số 10-NQ/TW khẳng định: "Sau gần 40 năm đổi mới và mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã không ngừng phát triển, không chỉ bổ sung nguồn lực đầu tư quan trọng, mà còn góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực, mở rộng thị trường xuất khẩu" [2]. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân và có nhiều đóng góp tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài không chỉ bổ sung nguồn vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển mà còn là kênh quan trọng để tiếp nhận công nghệ tiên tiến, phương thức quản trị hiện đại, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế.
Thông qua hoạt động của các doanh nghiệp kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, Việt Nam từng bước tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu, mở rộng thị trường xuất khẩu, nâng cao năng lực cạnh tranh và từng bước khẳng định vị thế là một trong những nền kinh tế có độ mở cao trên thế giới. Văn kiện Đại hội XIV khẳng định: "Khu vực kinh tế tư nhân phát triển năng động với số lượng doanh nghiệp ngày càng tăng, đóng góp khoảng 51% GDP, trên 30% thu ngân sách, sử dụng 82% lao động" [3], kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của đất nước.
Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được, Nghị quyết số 10-NQ/TW cũng chỉ rõ: "Chất lượng và hiệu quả thu hút, quản lý, sử dụng đầu tư nước ngoài chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và chưa đáp ứng được những yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới của đất nước. Tỉ lệ dự án tham dụng lao động, tài nguyên, đất đai, năng lượng, gia công, lắp ráp còn cao, tỉ lệ nội địa hóa, giá trị tăng thêm hình thành ở Việt Nam còn thấp; liên kết với doanh nghiệp trong nước chưa cao, chuyển giao công nghệ còn hạn chế; còn hiện tượng cạnh tranh thu hút đầu tư theo số lượng ở một số địa phương. Dòng vốn đầu tư gián tiếp còn nhỏ, chưa tương xứng với tiềm năng thị trường. Hoạt động góp vốn, mua bán, sáp nhập doanh nghiệp của các quỹ đầu tư, định chế tài chính toàn cầu, nhà đầy tư nước ngoài còn hạn chế, quản lý thiếu chặt chẽ [4].
Xuất phát từ yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, Nghị quyết số 10-NQ/TW xác định phát triển mạnh mẽ khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, "Đưa Việt Nam trở thành điểm đến có sức cạnh tranh thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài trung và dài hạn chất lượng cao cho đầu tư phát triển, quản lý và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài nhằm nâng cao năng lực sản xuất, tạo sự liên kết, lan tỏa với các khu vực kinh tế trong nước, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và tham gia sâu các chuỗi cung ứng toàn cầu" [5].
Mục tiêu cụ thể của Đảng ta đặt ra: "Đến năm 2030, phấn đấu đưa Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu ASEAN về môi trường đầu tư kinh doanh, năng lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo…Giai đoạn 2026-2030 thu hút vốn đầu tư nước ngoài đăng ký khoảng 200-300 tỷ USD, vốn thực hiện khoảng 150-200 tỷ USD"... Chất lượng dòng vốn đầu tư tiếp tục được nâng lên, trong đó có 75% vốn đầu tư nước ngoài đến từ các nền kinh tế phát triển, số lượng tập đoàn đa quốc gia trong danh sách Fortune 500 có hoạt động đầu tư tại Việt Nam tăng 30%. Đồng thời tỷ lệ nội địa hóa trong bình trong các ngành công nghiệp chủ lực đạt từ 45-50%; phấn đấu có khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó có khoảng từ 500 – 1000 nhà cung ứng cấp I; tỷ trọng lao động qua đào tạo trong cơ cấu sử dụng lao động đạt khoảng 80%, nâng cao tỷ lệ người Việt Nam đảm nhiệm vị trí kỹ thuật, quản lý, nghiên cứu, thiết kế vận hành, chuỗi cung ứng trong các dự án đầu tư nước ngoài chất lượng cao [6].
Tầm nhìn đến năm 2045, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được định hướng trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; góp phần đưa Việt Nam trở thành một trong những trung tâm sản xuất và dịch vụ thông minh của khu vực. "Phấn đấu đến năm 2045, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư xã hội, đóng góp khoảng 30% GDP của đất nước; góp phần đưa Việt Nam trở thành nước phát triển thu nhập cao" [7]. Đây là một mục tiêu to lớn, tạo lập mối liên kết chặt chẽ, hiệu quả giữa khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể và kinh tế tư nhân, tạo nên sức mạnh tổng hợp để thực hiện mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và nâng cao vị thế của Việt Nam trong nền kinh tế toàn cầu.
2.2. Một số giải pháp phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách và nâng cao chất lượng môi trường đầu tư kinh doanh.
Đây là giải pháp có ý nghĩa nền tảng nhằm tạo lập môi trường đầu tư minh bạch, ổn định và có khả năng cạnh tranh quốc tế. Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài giữa các quốc gia ngày càng gay gắt, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật như: Luật đầu tư, Luật doanh nghiệp, Luật đất đai…và các nội dung Luật liên quan về thuế, khoa học và công nghệ theo hướng đồng bộ, thống nhất, bảo đảm tính dự báo, tính ổn định lâu dài và tạo môi trường thuận lợi để các nước đầu tư nguồn vốn trong quá trình phát triển đất nước. Đồng thời, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số trong quản lý nhà nước, thực hiện cơ chế thuận lợi, rút ngắn thời gian giải quyết các thủ tục đầu tư, nâng cao trách nhiệm của các cơ quan quản lý trong hỗ trợ nhà đầu tư.
Bên cạnh đó, cần xây dựng cơ chế phù hợp theo từng khu vực, từng vùng, miền, chuyển mạnh từ ưu đãi theo quy mô vốn sang ưu đãi theo chất lượng dự án, trình độ công nghệ, giá trị gia tăng, mức độ đổi mới sáng tạo và khả năng liên kết với doanh nghiệp trong nước. Đồng thời, thực hiện quá trình này luôn bảo đảm tính thống nhất trong chỉ đạo giữa Trung ương và địa phương, hạn chế tình trạng cạnh tranh thu hút đầu tư bằng mọi giá, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và xã hội. Một môi trường đầu tư ổn định, minh bạch và cạnh tranh sẽ là yếu tố quyết định để Việt Nam thu hút được dòng vốn đầu tư có nguồn chất lượng cao trong giai đoạn mới.
Thứ hai, đổi mới định hướng thu hút đầu tư nước ngoài theo hướng chất lượng cao, công nghệ cao và phát triển bền vững.
Trong thời gian tới, việc thu hút kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cần chuyển từ mục tiêu gia tăng số lượng dự án sang ưu tiên chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng tạo ra nguồn lực phát triển đất nước. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta xác định khoa học và công nghệ luôn đóng vai trò đặc biệt quan trọng, là nhân tố thúc đẩy mạnh mẽ thúc đẩy đất nước phát triển nhanh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Văn kiện Đại hội XIV Đảng xác định rõ: "Phát triển mạnh khoa học và công nghệ phục vụ yêu cầu thúc đẩy đổi mới sáng tạo, để khoa học và công nghệ thực sự trở thành động lực hàng đầu, đáp ứng những yêu cầu phát triển kinh tế nhanh và bền vững trong giai đoạn tới" [8]. Do đó, cần tập trung thu hút các tập đoàn đa quốc gia có năng lực công nghệ, tài chính và quản trị hiện đại đầu tư vào các lĩnh vực như công nghệ bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ sinh học, năng lượng tái tạo, công nghiệp xanh, chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn và các ngành công nghiệp hỗ trợ có hàm lượng khoa học công nghệ cao.
Song song với đó, cần xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng dự án đầu tư ngay từ khâu cấp phép, bảo đảm các dự án kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên, tiết kiệm năng lượng và thực hiện đầy đủ trách nhiệm xã hội. Đối với các dự án sử dụng công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều tài nguyên hoặc có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cần kiên quyết không chấp thuận. Đồng thời, tăng cường giám sát, theo dõi quá trình triển khai dự án nhằm bảo đảm các cam kết về chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước.
Thứ ba, tăng cường liên kết giữa khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Một trong những hạn chế lớn của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài hiện nay mà Đảng ta xác định rõ là: "Tỉ lệ dự án thâm dụng lao động, tài nguyên, đất đai, năng lượng, gia công, lắp ráp còn cao; tỉ lệ nội địa hóa, giá trị tăng thêm hình thành ở Việt Nam còn thấp; liên kết với khu vực doanh nghiệp trong nước chưa cao, chuyển giao công nghệ còn hạn chế; còn hiện tượng cạnh tranh thu hút đầu tư theo số lượng ở một số địa phương" [9]. Vì vậy, cần xây dựng các cơ chế khuyến khích doanh nghiệp kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cần tăng cường hợp tác với doanh nghiệp trong nước thông qua phát triển công nghiệp hỗ trợ, liên kết sản xuất, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và chia sẻ kinh nghiệm quản trị.
Bên cạnh đó, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực quản trị, đổi mới công nghệ, tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm và năng lực tham gia chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia. Đồng thời, đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thông qua đổi mới giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, tăng cường liên kết giữa nhà trường với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong đào tạo, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo. Việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sẽ góp phần tăng tỷ lệ người Việt Nam đảm nhiệm các vị trí quản lý, nghiên cứu, thiết kế và vận hành trong các doanh nghiệp kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài qua đó nâng cao hiệu quả lan tỏa của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế.
Thứ tư, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với các hoạt động của kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và phát triển bền vững.
Trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng, việc phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cần gắn chặt với yêu cầu, mục tiêu bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia dân tộc, trên cơ sở bình đẳng, bảo đảm giữ vững độc lập, tự chủ của nền kinh tế và bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia. Theo đó, cần hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát toàn bộ vòng đời của các dự án kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; tăng cường thanh tra việc thực hiện pháp luật về đầu tư, thuế, lao động, môi trường, chuyển giá, chống thất thu ngân sách và bảo vệ quyền lợi người lao động.
Đồng thời, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về đầu tư nước ngoài, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số và trí tuệ nhân tạo trong công tác quản lý, dự báo và đánh giá hiệu quả các dự án kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Cùng với đó, cần có cơ chế sàng lọc các dự án đầu tư liên quan đến những lĩnh vực nhạy cảm về quốc phòng, an ninh, hạ tầng chiến lược, dữ liệu và công nghệ lõi; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật, bảo đảm môi trường đầu tư minh bạch, công bằng và lành mạnh. Việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước sẽ góp phần sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài, phát huy tối đa lợi ích tối đa của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đối với phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời giữ vững chủ quyền, an ninh kinh tế và định hướng phát triển bền vững của đất nước.
3. Kết luận
Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng và Nhà nước trong tiến trình đổi mới, hội nhập quốc tế và xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Qua 40 năm đổi mới đã chứng minh kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mở rộng xuất khẩu, tạo việc làm, nâng cao năng lực sản xuất và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế. Đặc biệt, Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy của Đảng khi chuyển mạnh từ mục tiêu thu hút đầu tư theo số lượng sang phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài theo hướng chất lượng, hiệu quả, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững, phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Tuy nhiên, trước những biến động nhanh chóng của kinh tế thế giới và yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, việc phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đòi hỏi phải được đặt trong tổng thể chiến lược xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng. Theo đó, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế và môi trường đầu tư; đổi mới định hướng thu hút nguồn vốn nước ngoài tạo nên chất lượng cao; tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước; thúc đẩy chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư nước ngoài. Thực hiện đồng bộ các giải pháp đó sẽ góp phần phát huy hiệu quả nguồn lực đầu tư nước ngoài, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững, hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2045 đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nông Văn Tư
Trường Sĩ quan Lục quân 1
Chú thích:
[1], [8]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, tr. 262, tr. 268.
[2], [4], [5], [6], [7], [9]. Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, Hà Nội, tr. 1, 1, 3, 3, 9, 1.
[3]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, tr. 292.
Tài liệu tham khảo:
- 1. Hồng Anh (2026), Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong kỷ nguyên mới: Từ quan điểm chỉ đạo đến mục tiêu chiến lược, https://tcnnld.vn/news/detail/72396/Phat-trien-kinh-te-co-von-dau-tu-nuoc-ngoai-trong-ky-nguyen-moi-Tu-quan-diem-chi-dao-den-muc-tieu-chien-luoc.html, ngày 27/6/2026.
- 2. Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, ngày 08/6/2026.
- 3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội.
- 4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội.
- 5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2019), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Phần I, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội.
- 6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2019), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Phần II, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội.