Ảnh minh họa
Từ khóa: Công tác đảng, công tác chính trị; đổi mới; khu vực phòng thủ; xây dựng khu vực phòng thủ.
Key words: Party and political work; innovation; defense zone; development of defense zones.
1. Mở đầu
Xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố là phương thức cơ bản để tổ chức, huy động sức mạnh toàn dân và lực lượng vũ trang nhằm bảo vệ vững chắc địa phương và Tổ quốc. Trong tiến trình đó, công tác đảng, công tác chính trị đóng vai trò nhân tố quyết định trực tiếp đến việc xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần, củng cố "thế trận lòng dân" vững chắc.
Tuy nhiên, sự vận động của thực tiễn chính trị, kinh tế, xã hội và quốc phòng - an ninh đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nhận diện rõ những vấn đề cơ bản và đổi mới mạnh mẽ phương thức, nội dung tiến hành công tác đảng, công tác chính trị trong xây dựng khu vực phòng thủ hiện nay. Bài viết tập trung phân tích làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn đặt ra và đề xuất giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong xây dựng khu vực phòng thủ trong tình hình mới.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ biện chứng giữa chính trị và quân sự, quốc phòng và an ninh luôn là công cụ bạo lực sắc bén nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu chính trị của giai cấp lãnh đạo. Vận dụng sáng tạo nguyên lý đó vào điều kiện xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố, công tác đảng, công tác chính trị không tồn tại như một hoạt động đơn lẻ hay tách rời, mà cấu thành phương thức cơ bản, chủ yếu và xuyên suốt để hiện thực hóa triệt để nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với sự nghiệp quốc phòng, an ninh và lực lượng vũ trang nhân dân.
Chính bản chất chính trị sâu sắc ấy đã quy định quy luật khách quan rằng: ở đâu có nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và xây dựng khu vực phòng thủ, ở đó tất yếu phải có sự lãnh đạo của Đảng và hoạt động công tác đảng, công tác chính trị giữ vai trò "hạt nhân", định hướng chính trị cho mọi chủ trương, đề án, quy hoạch cũng như hành động thực tiễn. Hơn thế nữa, trong cấu trúc của nền quốc phòng toàn dân, hoạt động này còn đóng vai trò trực tiếp tác động vào nhân tố con người - trung tâm trong khu vực phòng thủ - nhằm chuyển hóa đường lối, quan điểm quân sự của Đảng thành niềm tin khoa học, ý chí chiến đấu kiên cường và hành động tự giác của đội ngũ cán bộ, chiến sĩ cùng các tầng lớp Nhân dân.
Xuất phát từ tầm quan trọng đó, thời gian qua, cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp trên địa bàn cả nước đã có nhiều nỗ lực trong lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong xây dựng khu vực phòng thủ, tạo những chuyển biến bước đầu về nhận thức và trách nhiệm của các lực lượng. Hệ thống chính trị từng bước được củng cố; công tác giáo dục chính trị, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh và xây dựng lực lượng vũ trang địa phương được duy trì triển khai.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn triển khai vẫn bộc lộ những khoảng trống đáng lưu ý: mặc dù chủ trương chung đã được quán triệt, nhưng ở một số cấp ủy, chính quyền cơ sở, nhận thức về vai trò của công tác đảng, công tác chính trị trong khu vực phòng thủ chưa thực sự sâu sắc và toàn diện; cá biệt vẫn tồn tại tư tưởng xem nhẹ hoặc khoán trắng nhiệm vụ cho cơ quan quân sự. Sự chuyển biến về trách nhiệm nêu gương của một số cán bộ chủ trì chưa cao, dẫn đến năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số tổ chức đảng trước các tình huống quốc phòng, an ninh phức tạp có mặt chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn. Cùng với đó, phương thức tiến hành công tác đảng, công tác chính trị ở một số cơ sở đôi khi còn mang nặng tính hình thức, dàn trải, thiếu tính dự báo trước các biến động tư tưởng xã hội. Công tác phối hợp hiệp đồng giữa các ban, ngành, đoàn thể trong hệ thống chính trị có lúc chưa thực sự đồng bộ, nhịp nhàng, còn biểu hiện chồng chéo hoặc đùn đẩy trách nhiệm. Đặc biệt, tiềm lực chính trị - tinh thần tại một số địa bàn trọng điểm, vùng đồng bào tôn giáo hoặc khu công nghiệp tập trung chưa thật sự vững chắc trước tác động mặt trái của kinh tế thị trường và không gian mạng.
Hiện nay, sự phát triển vô cùng phức tạp, tinh vi của các hình thái chiến tranh hiện đại - nơi không gian mạng trở thành một "mặt trận chiến lược" không tiếng súng - đang đặt ra những thách thức lớn đối với công tác tư tưởng của Đảng. Sự chồng chéo, đan xen giữa các yếu tố truyền thống và phi truyền thống, yêu cầu vận hành đồng bộ mô hình chính quyền địa phương hai cấp, chủ trương điều chỉnh tổ chức cơ quan quân sự địa phương theo hướng tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại, kết hợp cùng sự bùng nổ của mạng xã hội và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo ra những chuyển biến phức tạp trong tâm lý xã hội. Các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng không gian số để phát tán thông tin xấu độc, thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình" và "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" từ gốc rễ tư tưởng. Chính những đòi hỏi tất yếu và khắt khe từ thực tiễn khách quan ấy đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tiến hành chuyển đổi số toàn diện, xây dựng và triển khai đồng bộ các giải pháp đổi mới mang tính đột phá, nhằm khắc phục triệt để các biểu hiện trì trệ, lối mòn, xơ cứng trong nội dung, phương thức tiến hành công tác đảng, công tác chính trị trong xây dựng khu vực phòng thủ, bảo đảm giữ vững "trận địa tư tưởng" của Đảng trong mọi tình huống.
2.2. Định hướng và các giải pháp cơ bản nhằm đổi mới hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong xây dựng khu vực phòng thủ hiện nay
Để giải quyết triệt để những điểm nghẽn thực tiễn và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới, việc đổi mới hoạt động công tác đảng, công tác chính trị cần tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp chủ yếu sau:
Một là, đổi mới tư duy và hoàn thiện cơ chế lãnh đạo toàn diện của cấp ủy đảng.
Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp quốc phòng, an ninh và xây dựng khu vực phòng thủ. Theo đó, trước yêu cầu phát triển mới, cấp ủy các cấp cần đặc biệt chú trọng nâng cao tầm nhìn chiến lược, đổi mới mạnh mẽ tư duy lãnh đạo và phương thức ra nghị quyết đối với nhiệm vụ quân sự, quốc phòng địa phương. Cụ thể hóa quá trình này, các cấp ủy cần đưa các tiêu chí, chỉ tiêu cụ thể về đổi mới hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trở thành nội dung bắt buộc trong hệ thống nghị quyết thường kỳ, nghị quyết chuyên đề và chương trình công tác toàn khóa. Đồng thời, việc quán triệt sâu sắc các quy định mới của Trung ương về tổ chức đảng trong Quân đội phải gắn liền với yêu cầu kiện toàn, phát huy cao độ vai trò hạt nhân chính trị của đảng ủy quân sự và cấp ủy địa phương. Bên cạnh đó, các tỉnh ủy, thành ủy và cấp ủy quân sự cần chủ động rà soát, bổ sung, hoàn thiện quy chế lãnh đạo; phân định rành mạch, minh bạch thẩm quyền, trách nhiệm giữa tập thể cấp ủy và cá nhân người đứng đầu, qua đó khắc phục triệt để tình trạng đùn đẩy trách nhiệm hoặc buông lỏng lãnh đạo trong triển khai thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, quân sự địa phương.
Hai là, tạo hành lang pháp lý và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước của chính quyền địa phương.
Để bảo đảm các chủ trương, nghị quyết của Đảng thực sự đi vào cuộc sống và phát huy hiệu lực thực tiễn, chính quyền các cấp cần chủ động, kịp thời cụ thể hóa thành các chương trình hành động, kế hoạch và đề án quản lý nhà nước về quốc phòng, sao cho phù hợp với đặc thù của mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Song song với đó, cần ưu tiên phân bổ và bố trí nguồn ngân sách nhà nước ở địa phương một cách thỏa đáng, tập trung bảo đảm hạ tầng công nghệ thông tin, trang thiết bị kỹ thuật chuyên dụng và các điều kiện vật chất thiết yếu cho hoạt động công tác đảng, công tác chính trị. Mặt khác, phải đặc biệt coi trọng việc tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát; đồng thời kiên quyết đề cao trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu chính quyền các cấp trong thực hiện chức năng quản lý nhà nước về quốc phòng địa phương.
Ba là, đa dạng hóa nội dung, phương thức tiến hành gắn kết chặt chẽ với không gian số.
Trước tác động đa chiều từ không gian mạng, nội dung công tác đảng, công tác chính trị trong xây dựng khu vực phòng thủ, nhất là công tác tư tưởng đòi hỏi phải đổi mới toàn diện, sắc bén hơn nhằm bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng theo tinh thần Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đặc biệt, trong phương thức tiến hành, cần mạnh dạn chuyển dịch từ các mô hình tác nghiệp truyền thống sang ứng dụng hệ thống dữ liệu số, đẩy mạnh số hóa tài liệu, bài giảng giáo dục chính trị, đồng thời khai thác có hiệu quả các nền tảng truyền thông số, mạng xã hội chính thống để chủ động định hướng dư luận xã hội từ sớm, từ xa. Song song với đó, phải đặc biệt chú trọng nâng cao chất lượng nội dung sinh hoạt chi bộ quân sự cấp xã, kiện toàn công tác cán bộ, tăng cường các biện pháp bảo vệ an ninh mạng, bảo mật thông tin, qua đó không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị và khả năng thích ứng linh hoạt cho các lực lượng trong mọi phương án tác chiến hiện đại.
Bốn là, tinh gọn biên chế tổ chức và phát huy vai trò tham mưu nòng cốt của cơ quan quân sự.
Chất lượng và hiệu lực thực tiễn của công tác đảng, công tác chính trị phụ thuộc trực tiếp vào năng lực, sức sống của hệ thống tổ chức thực hiện. Do đó, cần tiếp tục đẩy mạnh việc sắp xếp, kiện toàn tổ chức và biểu biên chế cơ quan quân sự địa phương theo hướng tinh, gọn, mạnh, bảo đảm tính liên thông, đồng bộ và hiệu quả cao; đồng thời xây dựng cơ quan chính trị các cấp thực sự trở thành trung tâm tham mưu, chỉ đạo và hiệp đồng nhạy bén, sắc sảo. Hơn thế nữa, phải đặc biệt chú trọng đổi mới toàn diện công tác đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện nhằm không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy lãnh đạo mang tính liên ngành sâu sắc cùng kỹ năng ứng dụng công nghệ số, chuyển đổi số thành thạo cho đội ngũ cán bộ chủ trì, chính ủy, chính trị viên các cấp trong toàn lực lượng.
Năm là, đổi mới và hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành và phương thức kiểm tra, giám sát từ cơ sở.
Xây dựng khu vực phòng thủ vốn là biểu hiện tập trung của sức mạnh tổng hợp toàn hệ thống chính trị và toàn dân tộc. Do đó, đòi hỏi cấp thiết phải thực hiện nghiêm túc, thực chất Quy chế phối hợp số 168-QĐ/TW, Hướng dẫn số 331/HD-CT và Nghị định số 03/2019/NĐ-CP, tạo sự gắn kết nhịp nhàng giữa cơ quan quân sự với các ban đảng, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và lực lượng Công an nhân dân. Cùng với đó, để bảo đảm kỷ luật, kỷ cương của Đảng và pháp luật của Nhà nước được giữ vững trong mọi tình huống, cần đặc biệt tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy theo Quy định số 334-QĐ/TW của Ban Bí thư; đồng thời duy trì nền nếp sơ kết, tổng kết thực chất, khách quan nhằm kịp thời phát hiện, biểu dương và nhân rộng các mô hình hay, cách làm sáng tạo, các điển hình tiên tiến trong sự nghiệp xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc.
4. Kết luận
Đổi mới hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố là yêu cầu khách quan mang tính quy luật. Bằng việc thực hiện đồng bộ các giải pháp từ đổi mới tư duy lãnh đạo, quản lý nhà nước, hiện đại hóa phương thức, kiện toàn tổ chức đến hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành, chất lượng và hiệu lực của công tác đảng, công tác chính trị sẽ không ngừng được nâng cao. Qua đó, góp phần củng cố vững chắc tiềm lực chính trị - tinh thần, xây dựng khu vực phòng thủ ngày càng vững chắc, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Ban Chấp hành Trung ương. (2008), Nghị quyết về tiếp tục xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới, Số 28-NQ/TW, Hà Nội.
[2] Ban Chấp hành Trung ương. (2013), Quyết định ban hành Quy chế phối hợp giữa Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam với các cơ quan, tổ chức liên quan ở Trung ương trong xây dựng, hoạt động khu vực phòng thủ, Số 168-QĐ/TW, Hà Nội.
[3] Ban Chấp hành Trung ương. (2019), Kết luận về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 22/9/2008 của Bộ Chính trị (khóa X), Số 64-KL/TW, Hà Nội.
[4] Ban Chấp hành Trung ương. (2025), Quy định về tổ chức đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam, Số 332-QĐ/TW, Hà Nội.
[5] Ban Chấp hành Trung ương. (2025), Quy định về cơ quan chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam, Số 334-QĐ/TW, Hà Nội.
[6] Chính phủ. (2019), Nghị định về khu vực phòng thủ, Số 21/2019/NĐ-CP, Hà Nội.
[7] Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập 1, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
[8] Quốc hội. (2018), Luật Quốc phòng, Số 22/2018/QH14, Hà Nội.
[9] Tổng cục Chính trị. (2013), Hướng dẫn nội dung hoạt động của các ban Đảng, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội địa phương trong xây dựng, hoạt động khu vực phòng thủ, Số 331/HD-CT, Hà Nội.
Phạm Hồng Tấn
Khoa CTĐ, CTCT Học viện Quốc Phòng