Một số vấn đề về sức mạnh chiến đấu của quân đội và ý nghĩa trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay

Thứ ba, 21/04/2026 - 15:49

Tóm tắt: Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam cũng như trong tiến trình phát triển của nhân loại, thực tiễn đã khẳng định một quy luật khách quan: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược có mối quan hệ biện chứng, gắn bó chặt chẽ. Trong đó, sức mạnh quốc phòng – quân sự, mà nòng cốt là sức mạnh chiến đấu của quân đội, giữ vai trò đặc biệt quan trọng, là nhân tố trực tiếp bảo đảm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia, dân tộc.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh hiện nay, tình hình thế giới và khu vực diễn biến phức tạp; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng; tranh chấp chủ quyền, đặc biệt trên Biển Đông, tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Đồng thời, các thách thức an ninh phi truyền thống và tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang làm thay đổi phương thức tiến hành chiến tranh, với sự xuất hiện của chiến tranh công nghệ cao, chiến tranh thông tin và không gian mạng. Điều đó đặt ra yêu cầu cao đối với việc nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội. Đây là vấn đề vừa mang tính lý luận và thực tiễn, mà mỗi quốc gia trong đó có Việt Nam đang rất quan tâm.

2. Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu sức mạnh chiến đấu quân đội, từ trước đến nay có nhiều học giả, trường phái… đã nghiên cứu với các góc độ tiếp khác nhau như: Thời Hy Lạp cổ đại, đã đề cập đến vai trò và các yếu tố của sức mạnh chiến đấu quân đội nhưng không toàn vẹn và thiếu tính sâu sắc họ cho rằng: sức mạnh chiến đấu phụ thuộc vào quyết định của các nhà quân sự, phụ thuộc vào hoàn cảnh, tình trạng hành động có tính dũng cảm; con đường đi đến thắng lợi là việc chuẩn bị chu đáo ở sự tích tụ vật chất và tài năng của các nhà quân sự.

Quan điểm của các nhà quân sự Trung Quốc cổ đại, tiêu biểu có Tôn Tử, trong cuốn binh pháp của mình ông đã đưa ra các điều kiện để thắng hay bại thể hiện ở sức mạnh chiến đấu quân đội: "Quân vương có chủ trương đúng không, tướng soái có tài không? thực lực quân đội có hùng cường không? binh lính có được huấn luyện tốt không? pháp lệnh có được chấp hành không? có được thiên thời địa lợi không?"

Bên cạnh đó, C.Ph.C.laudơvit (1780-1831) là một nhà lý luận, sử học và tướng quân sự nổi tiếng người Phổ, được coi là cha đẻ của tư tưởng quân sự hiện đại phương Tây với tác phẩm nổi tiếng "Bàn về chiến tranh", cho rằng: Thắng lợi là kết quả của ưu thế thực sự về lực lượng, ưu thế này tất nhiên bao gồm cả lực lượng tinh thần và vật chất. Trong đó, sức mạnh chiến đấu của quân đội do nhiều yếu tố cấu thành và một trong những yếu tố quan trọng là nhân tố chính trị.

Trong lịch sử chống ngoại xâm, các triều đại Việt Nam luôn quan tâm đặc biệt đến việc xây dựng và củng cố sức mạnh chiến đấu của quân đội. Sự quan tâm này không chỉ dừng lại ở số lượng binh sĩ mà còn được thể hiện qua những tư tưởng, chính sách và chiến lược độc đáo, biến quân đội thành một lực lượng tinh nhuệ và bất khả chiến bại. Với quan điểm "Thực túc binh cường" – coi trọng yếu tố vật chất trong sức mạnh chiến đấu của quân đội, với chính sách như: "ngụ binh ư nông"; tiếp nối tư tưởng đó, nhà Trần đã phát triển lên một tầm cao mới với quan điểm "quân quý hồ tinh, bất quý hồ đa"…

Hiện nay, cùng với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, đặc biệt là vũ khí công nghệ cao. Các nhà lý luận quân sự tư sản thường tuyệt đối hóa yếu tố vật chất hoặc yếu tố tinh thần khi bàn về sức mạnh chiến đấu của quân đội.

Các quan về sức mạnh chiến đấu của quân đội nêu trên có những cống hiến nhất định. Tuy nhiên do bị chi phối bởi lập trường giai cấp, hạn chế về nhận thức và đứng trên lập trường thế giới quan duy tâm, nên chưa phản ánh chân thực, toàn diện về sức mạnh chiến đấu quân đội.

Trên cơ sở kế thừa những tinh hoa tư tưởng quân sự trên thế giới, với thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận biện chứng duy vật, quan niệm về sức mạnh chiến đấu quân đội đã được C.Mác – Ph. Ănggghen đặt nền móng, Lênin bảo vệ, phát triển và các đảng cộng sản kế thừa phát huy và tiếp tục khái quát và khẳng định: "Sức mạnh chiến đấu của quân đội là tổng thể các yếu tố vật chất, tinh thần và sự tương tác giữa các yếu tố đó quy định trạng thái, khả năng thực hiện nhiệm vụ chiến đấu của quân đội nhằm thực hiện mục đích chính trị của nhà nước giai cấp nhất định".

Từ quan niệm trên, xét về cấu trúc, sức mạnh chiến đấu của quân đội được hình thành từ hai nhóm yếu tố cơ bản có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.

Thứ nhất, yếu tố vật chất. Đây là nền tảng trực tiếp của sức mạnh chiến đấu, bao gồm quân số, cơ cấu tổ chức - biên chế và hệ thống vũ khí, trang bị kỹ thuật. Quân số và tổ chức hợp lý tạo điều kiện để xây dựng lực lượng có quy mô và khả năng cơ động phù hợp với yêu cầu tác chiến. Vũ khí, trang bị kỹ thuật quyết định khả năng tác chiến về hỏa lực, tầm xa, độ chính xác và mức độ bảo vệ lực lượng. Trong bối cảnh chiến tranh hiện đại, yếu tố này ngày càng có vai trò quan trọng. Đảng ta nhấn mạnh: "Đối với Quân đội, Đảng xác định ưu tiên hiện đại hoá: hải quân, phòng không - không quân, thông tin liên lạc, tác chiến điện tử, trinh sát kỹ thuật, cảnh sát biển"

Thứ hai, yếu tố tinh thần. Đây là yếu tố cốt lõi, giữ vai trò quyết định trong việc phát huy các yếu tố khác. Nó bao gồm bản lĩnh chính trị, ý chí chiến đấu, tinh thần kỷ luật và trình độ huấn luyện của bộ đội. Một quân đội có giác ngộ chính trị cao, có niềm tin vững chắc vào mục tiêu chiến đấu sẽ có khả năng vượt qua khó khăn, thử thách và phát huy tối đa tiềm năng của mình. Văn kiện Đại hội XIV khẳng định: "...lấy xây dựng vững mạnh về chính trị làm cơ sở, nâng cao chất lượng tổng hợp, trình độ sẵn sàng chiến đấu và sức mạnh chiến đấu đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc"

Trong thực tiễn, sức mạnh chiến đấu của quân đội được biểu hiện ở khả năng sẵn sàng chiến đấu, trình độ tổ chức, huấn luyện và năng lực xử lý các tình huống quốc phòng – an ninh. Trong thời bình, sức mạnh chiến đấu thể hiện chủ yếu ở chất lượng huấn luyện, trình độ chính quy, kỷ luật và khả năng cơ động của lực lượng. Khi chiến tranh xảy ra, sức mạnh chiến đấu được kiểm nghiệm trực tiếp thông qua hiệu quả tác chiến trên chiến trường. Đồng thời sức mạnh chiến đấu còn thể hiện ở khả năng răn đe chiến lược, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Như vậy, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về sức mạnh chiến đấu của quân đội là một hệ thống lý luận khoa học, toàn diện và biện chứng. Khi được vận dụng sáng tạo trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, đặc biệt thông qua đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, nó đã trở thành cơ sở lý luận vững chắc cho việc xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đủ sức bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống.

Nhận thức và quán triệt vị trí vai trò phải xây dựng và phát triển sức mạnh mạnh quân sự quốc gia nói chung, và sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng trong tình hình hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: "Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân, kiên định với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng". Đây là định hướng chiến lược, thể hiện sự kết hợp giữa yếu tố chính trị – tinh thần với yêu cầu hiện đại hóa về vật chất – kỹ thuật. Để thực hiện tốt quan điểm trên cần thực hiện tổng thể các định hướng giải pháp, trong đó có một số định hướng nội dung giải pháp cơ bản sau:

Một là, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, nâng cao sức mạnh chính trị - tinh thần và kỷ luật.

Xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, nâng cao sức mạnh chính trị – tinh thần và kỷ luật là giải pháp cơ bản, giữ vai trò quyết định đối với sức mạnh chiến đấu. Theo chủ nghĩa Mác – Lênin, đây là sức mạnh tổng hợp, trong đó nhân tố con người với bản lĩnh chính trị, ý chí và kỷ luật giữ vai trò quyết định. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng khẳng định: "Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, tuyết đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân, kiên định với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng...Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân...". Bên cạnh đó, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII khẳng định: "Chủ động phòng ngừa, đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ, "phi chính trị hóa" Quân đội của các thế lực thù địch".

Hai là, xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, có tổ chức và cơ cấu hợp lý.

Đây là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội. Bên cạnh nhân tố chính trị – tinh thần, tổ chức lực lượng và cơ cấu quân đội có vai trò trực tiếp quyết định khả năng triển khai, hiệp đồng và phát huy sức mạnh trong thực tiễn. Một quân đội được tổ chức khoa học, cơ cấu hợp lý sẽ sử dụng hiệu quả nguồn lực, nâng cao khả năng cơ động và năng lực tác chiến. Do đó, xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh là nền tảng để nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu trong điều kiện mới.

Để đạt hiệu quả, cần thực hiện tốt một số yêu cầu cơ bản sau: Tiếp tục điều chỉnh tổ chức, biên chế quân đội theo hướng tinh, gọn, hiệu quả ; xây dựng cơ cấu lực lượng quân đội hợp lý giữa các thành phần và các lực lượng ; bảo đảm sự phù hợp giữa tổ chức lực lượng quân đội với vũ khí, trang bị và phương thức tác chiến hiện đại.

Ba là, Hiện đại hóa vũ khí trang bị; phát triển khoa học và nghệ thuật quân sự.

Hiện đại hóa vũ khí, trang bị và phát triển khoa học, nghệ thuật quân sự là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội trong điều kiện chiến tranh hiện đại. Sự phát triển của khoa học – công nghệ và vũ khí mới đã làm thay đổi phương thức tác chiến, đòi hỏi quân đội phải nâng cao khả năng cơ động, chỉ huy và hiệp đồng, qua đó nâng cao chất lượng tổng hợp.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng khẳng định: "Tập trung nghiên cứu, phát triển, ứng dụng khoa học quân sự, khoa học an ninh...Chú trọng tổng kết thực tiễn,bổ sung, phát triển lý luận về quốc phòng, an ninh, nghệ thuật quân sự Việt Nam, nghệ thuật chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc...". Giải pháp tập trung hiện đại hóa vũ khí, trang bị phù hợp yêu cầu tác chiến mới; đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học – công nghệ quân sự và phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Bốn là, nâng cao chất lượng huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu; xây dựng đội ngũ cán bộ, sĩ quan có năng lực chỉ huy cao.

Huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu là nhiệm vụ trung tâm, thường xuyên của quân đội, đồng thời là con đường trực tiếp nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang. Chất lượng huấn luyện quyết định trình độ và khả năng chiến đấu của bộ đội, bảo đảm quân đội luôn chủ động, sẵn sàng xử lý kịp thời các tình huống quốc phòng – an ninh. Trong đó, đội ngũ cán bộ, sĩ quan giữ vai trò nòng cốt trong tổ chức, chỉ huy, quản lý và huấn luyện bộ đội.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng khẳng định: "Xây dựng cơ chế, chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút, trọng dụng nhân tài đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại" Quán triệt, thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị và phương châm "Chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị".

Do đó, cần tập trung đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện theo hướng sát thực tế chiến đấu, đối tượng tác chiến và nhiệm vụ từng lực lượng; đồng thời xây dựng đội ngũ cán bộ, sĩ quan có phẩm chất chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn, năng lực chỉ huy và khả năng làm chủ khoa học – công nghệ quân sự. Qua đó nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu, khả năng hiệp đồng và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của quân đội.

3. Kết luận

Nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam là nhiệm vụ chiến lược lâu dài, có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, góp phần xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong tình hình mới. Để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ này, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính trị trong quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, làm nền tảng cho mọi hoạt động sẵn sàng chiến đấu và phục vụ nhân dân. Đồng thời, phải đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện, diễn tập, coi trọng huấn luyện sát thực tiễn, sát tác chiến, tích hợp các yếu tố công nghệ cao, tác chiến không gian mạng, không gian vũ trụ và chiến tranh điện tử. Việc hiện đại hóa vũ khí, trang bị, kết hợp giữa mua sắm, tự nghiên cứu, chế tạo trong nước và chuyển giao công nghệ, phải gắn với đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn cao, đáp ứng yêu cầu của chiến tranh hiện đại. Bên cạnh đó, cần tăng cường quốc phòng toàn dân, kết hợp chặt chẽ với xây dựng nền kinh tế vững mạnh, phát triển khoa học – công nghệ, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc trong mọi tình huống.

Đại úy Lê Hồ Đức Việt - Đại úy Phạm Văn Việt

Hệ 2, Học viện Chính trị (Bộ Quốc Phòng)

Đại úy Nguyễn Trọng Duy, Khoa Triết học Mác - Lênin,

Học viện Chính trị (Bộ Quốc Phòng)


Tài liệu tham khảo:

1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tập I, II, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội.

2. Quân ủy Trung ương (2025), Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, Hà Nội.

3. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Hà Nội.

4. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, Tập 20, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

5. V.I.Lênin (2005), Toàn tập, Tập 41, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.