1. Trong những năm gần đây, quan hệ kinh tế, đầu tư, thương mại giữa Việt Nam và Campuchia đã đạt được nhiều thànnh tựu nổi bật, tính đến năm 2025, Việt Nam đứng thứ ba trong số các nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Campuchia và đứng thứ hai trong khối ASEAN, với hơn 200 dự án, tổng trị giá khoảng 3.5 tỷ USD đang được triển khai trong các lĩnh vực kim ngạch thương mại. Tính riêng 8 tháng đầu năm 2026, kim ngạch thương mại của hai nước đạt 8,7 tỷ USD, hai nước đang cùng nổ lực hướng tới mục tiêu 20 tỷ USD năm 2030. Lượng khách du lịch Việt Nam đến Campuchia đã vươn lên vị trí dẫn đầu trong số các thị trường khách quốc tế, đạt hơn 1,2 triệu người. Cùng với đó, Chính phủ hai nước thống nhất nhận định, hợp tác kinh tế còn nhiều dư địa để phát triển tương xứng với quan hệ chính trị và tiềm năng to lớn giữa hai quốc gia, do đó chủ trương đơn giản hoá các thủ tục đầu tư, duy trì cơ chế đối thoại định kỳ giữa chính phủ và doanh nghiệp hai nước mỗi năm 1 lần [1], [5].

Thủ tướng Lê Minh Hưng và Thủ tướng Hun Manet chứng kiến trao đổi văn kiện hợp tác
Về phía Campuchia, Thủ tướng Hun Manet đề nghị chuyển từ "hành lang giao thông" sang "hành lang kinh tế và sản xuất", doanh nghiệp hai nước dịch chuyển từ thương mại truyền thống, trao đổi hàng hóa đơn thuần sang đầu tư chế biến sâu, xây dựng mạng lưới kết nối giữa các nhà máy, khu công nghiệp và đơn vị logistic [1]. Hiện nay, hai nước đã tiến hành trao các Biên bản ghi nhớ: Biên bản ghi nhớ giữa Ngân hàng Quốc gia Campuchia và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank); Biên bản ghi nhớ giữa Bộ Công nghiệp, Khoa học, Công nghệ và Đổi mới Vương quốc Campuchia và Công ty cổ phần Cao su Chư sê Kampong Thom; Biên bản ghi nhớ giữa Tổng công ty Hàng không Việt Nam và Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) Đầu tư Sân bay Campuchia; Biên bản ghi nhớ giữa Tập đoàn VNPT và Công ty TNHH Angkor Data Communication Group [5].
Đáng chú ý, ngày 09/10/2026, hai nước đã ký kết nhiều văn kiện hợp tác, bao gồm Hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Campuchia về hợp tác giáo dục giai đoạn 2026 - 2030; Bản thỏa thuận thúc đẩy thương mai song phương giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Campuchia; Bản ghi nhớ thành lập Ủy ban hỗn hợp về thương mại giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Campuchia; Bản ghi nhớ giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Campuchia về việc quản lý, bảo vệ và phát huy Đài Hữu nghị Campuchia - Việt Nam; Bản ghi nhớ về hợp tác an ninh giữa Bộ Công an Việt Nam và Trung tâm quốc gia công nghệ thông tin Campuchia [1].
Trong bối cảnh hai nước tăng cường kết nối kinh tế mở rộng không gian phát triển, kết nối từ hạ tầng đến năng lượng, kinh tế số, kim ngạch thương mại song phương không ngừng gia tăng và ưu tiên dành nguồn lực thúc đẩy phát triển các chuỗi giá trị công nghiệp và nông sản xuyên biên giới, mở rộng công nghiệp chế biến, từng bước chuyển từ trao đổi thương mại truyền thống sang hợp tác đầu tư, sản xuất và chế biến sâu. Chuyến thăm của Thủ tướng Lê Minh Hưng đến Campuchia không chỉ tăng cường hơn nữa kết nối ngày càng chặt chẽ và có tính bổ trợ giữa hai nền kinh tế mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc triển khai các hoạt động hợp tác, thúc đẩy sự ra đời của hệ sinh thái gắn kết kinh tế toàn diện hơn giữa Việt Nam – Campuchia [1].
Nhìn lại chặng đường gần 60 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Campuchia, quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Campuchia đã luôn nhận được sự quan tâm định hướng, vun đắp của lãnh đạo hai nước, ngày càng đi vào thực chất và chiều sâu trong nhiều lĩnh vực, trong đó có hợp tác phát triển nguồn nhân lực. Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung khảo sát, làm rõ thực trạng, những kết quả đạt được trong phát triển nguồn nhân lực từ quan hệ hợp tác của hai nước, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm tiếp tục thúc đẩy và nâng cao lĩnh vực hợp tác này trong thời gian tới.

Giao lưu sinh viên Việt Nam - Campuchia
2. Từ kết quả nghiên cứu về quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Campuchia trong phát triển nguồn nhân lực thời gian qua, thấy nổi lên một số kết quả nổi bật cụ thể sau đây:
- Về số lượng sinh viên, nghiên cứu sinh. Trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2010, Việt Nam đã tiếp nhận gần 1.200 lưu học sinh Campuchia, trong đó có ¼ sinh viên đào tạo sau đại học; hơn 2.000 cán bộ Campuchia từng được đào tạo đại học tại Việt Nam đang công tác tại các cơ quan, tổ chức trong bộ máy nhà nước của Campuchia, trong đó nhiều người nắm giữ vị trí lãnh đạo cấp cao là minh chứng sinh động về sự giúp đỡ thiết thực và kết quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ mà Việt Nam đã dành cho Campuchia. Trong giai đoạn từ năm 1981 đến 2016, Việt Nam đã cấp 3.371 suất học bổng cho học sinh Campuchia [2], [4].
Theo Cục Hợp tác quốc tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo, lưu học sinh (LHS) Campuchia theo học diện học bổng hiệp định, thường xuyên có mặt ở Việt Nam hằng năm khoảng 600 người. Trong đó, trung bình mỗi năm, Việt Nam tiếp nhận 110 suất học bổng hệ đại học và sau đại học cho cán bộ, sinh viên Campuchia tại các cơ sở giáo dục đại học của Việt Nam; tiếp nhận 100 suất học bổng do Bộ Giáo dục, Thanh niên, Thể thao Campuchia tuyển chọn và 10 suất học bổng dành riêng cho con em cán bộ Đại sứ quán Campuchia tại Việt Nam. Bên cạnh đó, số LHS đi học theo diện ngoài hiệp định, tự túc kinh phí hằng năm duy trì khoảng 200 người, chủ yếu đăng ký học ngành y và tập trung ở một số tỉnh biên giới [2]. Bên cạnh đó, Việt Nam và Campuchia còn thực hiện việc trao đổi đoàn, giảng viên, chuyên gia giáo dục và tăng cường hợp tác trong lĩnh vực học thuật, tăng cường và hỗ trợ tại các diễn đàn giáo dục khu vực và quốc tế. Ngoài ra, Việt Nam và Campuchia còn ký thỏa thuận công nhận các văn bằng và học vị được cơ sở đào tạo của mỗi nước cấp cho LHS, tạo điều kiện cho LHS sau khi tốt nghiệp được học bậc học cao hơn và có công việc phù hợp với bằng cấp [2], [4].
Về số LHS Việt Nam ở Campuchia, căn cứ vào thỏa thuận hợp tác, hằng năm, Chính phủ Hoàng gia Campuchia cấp 15 suất học bổng cho cán bộ, sinh viên Việt Nam theo học ở các trường đại học của Campuchia bậc đại học và sau đại học. Đồng thời, Campuchia cũng cấp cho Việt Nam 20 suất học bổng ngắn hạn học tiếng Khmer trong vòng 2 năm tại Campuchia. Tính đến năm 2025, hiện có trên 100 LHS Việt Nam đang theo học ở Campuchia theo diện học bổng Hiệp định. Trước đó, trong giai đoạn từ 1982 đến 2016, Campuchia đã cấp cho Chính phủ Việt Nam 357 suất học bổng cho LHS Việt Nam [3], [4].
Trên cơ sở hiệp định, thoả thuận hợp tác của Chính phủ Việt Nam và Campuchia, những năm qua, các bộ, ngành, địa phương của Việt Nam đã chủ động trao đổi thông tin, phối hợp với các cơ quan chức năng của Campuchia triển khai các hoạt động hợp tác, tập trung vào việc phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh; giáo dục - đào tạo; y tế… Tính đến năm 2025, các ban, bộ, ngành, chính quyền các cấp của Việt Nam đã hỗ trợ Campuchia xây dựng 2 trường học ở tỉnh Ratanakiri (năm 2005), Trường Công binh Decho (năm 2015), công trình hạ tầng đào tạo hội trường và trụ sở làm việc của Trường Sỹ quan tạo nguồn Quân đội Hoàng gia Campuchia (2016). Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, các cơ sở giáo dục thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng Việt Nam đã đào tạo gần 10.000 cán bộ thực thi công vụ của Vương quốc Campuchia theo từng loại hình đào tạo, cả trung cấp, cao đẳng, đại học, sau đại học và bồi dưỡng kiến thức cho lãnh đạo, chỉ huy các cấp [4].
- Về cơ cấu bậc học. Theo số liệu thống kê, phần lớn sinh viên Campuhia tham gia đào tạo, bồi dưỡng ở Việt Nam ở các bậc đào tạo sau đại học (cao học, nghiên cứu sinh), chiếm khoảng 25% tổng số LHS Campuchia được đào tạo, bồi dưỡng ở Việt Nam thời gian qua. Ngoài ra, Việt Nam cũng ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Campuchia theo các chương trình ngắn hạn từ 3 đến 6 tháng trên các lĩnh vực chủ yếu như kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật và lý luận nghiệp vụ. Kết quả học tập của LHS Campuchia ở Việt Nam được các cơ sở giáo dục và đào tạo Việt Nam đánh giá tương đối cao, 98% tốt nghiệp, hoàn thành chương trình học tập đúng thời gian quy định [4].
Một số cơ sở giáo dục đại học của Việt Nam đã có bề dày lịch sử và nhiều thành tích xuất sắc trong việc tham gia đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, LHS Campuchia như: Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Y Hà Nội, Đại học Kiến trúc, Đại học Y Thái Bình, Trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp. Bên cạnh đó, các trường thuộc lực lượng vũ trang cũng tham gia tích cực và có nhiều đóng góp rất quan trọng trong công tác này [2], [4]. Đúng như phát biểu của Đại sứ quán Campuchia tại Việt Nam năm 2020, khẳng định: "Việt Nam đóng vai trò rất quan trọng trong việc đào tạo nhân lực cho Campuchia. Hai nước có nhiều điểm tương đồng, do vậy có nhiều thuận lợi trong đào tạo để các sinh viên khi về nước là có thể ứng dụng trong công việc và phục vụ Tổ quốc" [3].

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm Capuchia
3. Nhìn lại chặng đường gần 60 năm chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao, quan hệ Việt Nam - Campuchia đã đánh dấu nhiều bước tiến mới, củng cố và phát huy tiềm năng, lợi thế của mỗi nước trong quan hệ phối hợp ở các lĩnh vực, trong đó có phát triển nguồn nhân lực. Tuy nhiên, nhìn chung, vẫn còn nhiều dư địa để hai nước tiếp tục thúc đẩy quan hệ hợp tác trong lĩnh vực này. Thực tế đó đặt ra những yêu cầu, đòi hỏi đối với Việt Nam và Campuchia trong thời gian tới, nhất là cần quan tâm thực hiện có hiệu quả các định hướng sau:
Thứ nhất, thực tiễn cho thấy cơ chế hợp tác giáo dục giữa hai nước thời gian qua đang phát huy hiệu quả, song cần củng cố, hoàn thiện thêm cơ chế hợp tác này đồng thời với việc củng cố và hoàn thiện cơ chế hợp tác song phương trên các lĩnh vực khác như kinh tế, xã hội, chính trị, ngoại giao, an ninh, quốc phòng…; mở rộng cơ chế hợp tác đa phương để huy động thêm nhiều nguồn lực. Cùng với việc thực hiện cơ chế hợp tác ở tầng vĩ mô (cấp nhà nước, chính phủ) cần củng cố và mở rộng, đa dạng hóa cơ chế hợp tác ở các tầng nấc khác như giữa các địa phương (các tỉnh biên giới hai nước, các thành phố lớn…), các tổ chức, thiết chế giáo dục (các trường đại học, các cơ sở giáo dục, đào tạo lớn, có uy tín, có truyền thống), giữa các tổ chức kinh tế - xã hội (các doanh nghiệp, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế có quy mô đầu tư lớn ở /và vào hai nước…).
Thứ hai, đa dạng hoá nội dung hợp tác trong lĩnh vực giáo dục: Bên cạnh việc tiếp tục xem xét, tăng số lượng học bổng, mở rộng diện được cấp học bổng đào tạo, bồi dưỡng, hai nước cần thường xuyên phối hợp trao đổi đoàn chuyên gia nghiên cứu, học tập, trao đổi kinh nghiệm, nhất là đối với các lĩnh vực mà hai bên có thế mạnh; thúc đẩy việc liên kết đào tạo giữa các cơ sở giáo dục của Campuchia với cơ sở giáo dục của Việt Nam và quốc tế; hợp tác trong lựa chọn, cử giảng viên tham gia giảng dạy, đào tạo, bồi dưỡng tại các nước; phối hợp tổ chức các chương trình tập huấn ngắn hạn đối với nguồn nhân lực cho các bộ, ngành. Bên cạnh đó, các ban, bộ, ngành, chính quyền các địa phương cần căn cứ và yêu cầu, đòi hỏi của công tác thực tiễn, nhu cầu và tiềm năng hợp tác trong phát triển nguồn nhân lực… từ đó để tham mưu cấp có thẩm quyền và trực tiếp triển khai các hoạt động hợp tác theo hướng thiết thực, hiệu quả, đáp ứng đúng và trúng yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn.
Thứ ba, tiếp tục đẩy mạnh hợp tác giáo dục cả về chiều rộng và chiều sâu, phù hợp với điều kiện và yêu cầu mới của hai nước. Để tăng cường chiều sâu, tính hiệu quả trong việc hợp tác đào tạo. Hai nước cần rà soát thực trạng, yêu cầu nguồn nhân lực để có sự điều chỉnh về số lượng, ngành học, bậc học gửi đi đào tạo một cách hợp lý. Trước đây, LHS Campuchia gửi sang Việt Nam đào tạo chủ yếu ở bậc đại học; một số ngành nghề đào tạo chưa thực sự phù hợp với nhu cầu sử dụng (một số theo ý thích cá nhân). Hiện tại, nền giáo dục của Campuchia đã thay đổi, nhiều trường đại học có chất lượng có thể đảm đương được việc đào tạo nguồn nhân lực bậc đại học. Vì thế, về cơ cấu bậc học, nên giảm bớt lượng đào tạo đại học, tăng số lượng đào tạo thạc sỹ, tiến sỹ (có thể xem như đào tạo ra các máy cái), tăng diện đào tạo ngắn ngày, trao đổi học tập kinh nghiệm (có thể ưu tiên số đã từng học ở Việt Nam sang bổ sung, cập nhật kiến thức); về cơ cấu ngành học, nên ưu tiên các ngành về khoa học, công nghệ, y-dược, sư phạm (giáo dục nghề nghiệp)… là những ngành học có thể đáp ứng được nhu cầu xã hội Campuchia hiện nay.
Nâng cao hiệu quả hoạt động hợp tác trên các lĩnh vực trong quan hệ Việt Nam – Campuchia là chủ trương nhất quán, xuyên suốt của Đảng, Nhà nước Việt Nam nhằm tăng cường và không ngừng phát huy mối quan hệ hữu nghị truyền thống giữa hai nước, đóng góp tích cực vào sự phát triển và hoà bình trong khu vực và của mỗi nước. Do đó, từ kết quả nghiên cứu, bài viết đưa ra các định hướng, chỉ dẫn để các cơ quan chức năng có thể nghiên cứu, vận dụng vào công tác tham mưu và thực tiễn triển khai các hoạt động hợp tác, qua đó nâng cao hiệu quả phát triển nguồn nhân lực giữa hai nước thời gian tới.
ThS Cao Thị Mai Hoa
Viện Nghiên cứu châu Á - Thái Bình Dương,
Viện Hàn lâm KHXH - Thái Bình Dương
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Huy Bình (2026), Từ cao tốc đến kinh tế số, mở rộng kết nối Việt Nam – Campuchia, https://daibieunhandan.vn.
2. Cục Hợp tác quốc tế - Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tình hình hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo của Việt Nam (các năm từ 1981 đến 2025).
3. Lê Đình Chỉnh (2020), Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Campuchia (1930 - 2020). NXB Thông tin và truyền thông, Hà Nội.
4. Trần Xuân Hiệp (2018), 50 năm Quan hệ Việt Nam - Campuchia Thành tựu và triển vọng, NXB Thông tin và truyền thông, Hà Nội.
5. Lại Hoa - Văn Đỗ (2026), Nâng tầm hợp tác kinh tế Việt Nam - Campuchia, https://vov.vn.
6. Nguyễn Sỹ Tuấn (2015), Một số giải pháp nhằm tăng cường quan hệ và nâng cao hiệu quả hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Campuchia giai đoạn 2013 - 2020, Đề tài Nghị định thư, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.