NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUAN HỆ HỢP TÁC VIỆT NAM - LIÊN BANG NGA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Thứ năm, 19/03/2026 - 11:14

Quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga là quan hệ lịch sử truyền thống, bắn bó thân thiết và tôn trọng lẫn nhau; trong suốt 76 năm qua, mối quan hệ đó luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của chính phủ hai nước và được thúc đẩy toàn diện trên nhiều lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội đến quốc phòng, an ninh. Bài viết phân tích, làm rõ quan hệ hợp tác Việt Nam - Liên bang Nga thời gian qua; chỉ rõ những thách thức đặt ra trong quan hệ hợp tác Việt Nam - Liên bang Nga trong giai đoạn hiện nay; từ đó đưa ra các định hướng nhằm nâng cao hiệu quả hợp tác giữa hai nước thời gian tới.

1. Quan hệ giữa Việt Nam và Liên Bang Nga được hun đúc trong suốt chiều dài lịch sử, với sự tin cậy cao về chính trị. Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 đã mở ra thời kỳ mới trong quan hệ giữa hai dân tộc Nga - Việt, một con đường giải phóng dân tộc cho một đất nước thuộc địa đang chịu sự áp bức, bóc lột của thực dân và đế quốc. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sau nhiều năm bôn ba tìm đường cứu nước đã bắt gặp ánh sáng của Cách mạng tháng Mười Nga, tìm ra con đường giải phóng cho dân tộc và trên con đường của cách mạng Việt Nam. Sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời ngày 02/9/1945 (tiền thân của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày nay), đáp lại mong muốn "làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai" của Chính phủ lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, ngày 30/01/1950, Liên Xô là quốc gia thứ hai (sau Trung Quốc) thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với Việt Nam [1], [2].

Đây là sự kiện quan trọng đánh dấu bước thắng lợi lớn của Việt Nam dân chủ cộng hoà trên mặt trận ngoại giao, đồng thời phá vỡ thế bị cô lập trong kháng chiến chống Pháp, tranh thủ được sự ủng hộ của Liên Xô trong công cuộc đấu tranh bảo vệ đất nước, chống thực dân, đế quốc xâm lược những năm tiếp sau. Từ khi chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao, mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với Liên bang Nga không ngừng được củng cố và phát triển, đi vào chiều sâu hợp tác, với sự tin cậy cao về chính trị. Liên Xô là quốc gia công khai ủng hộ và tăng cường các hoạt động viện trợ cho Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược [2].

Sau ngày nước Nga Xô viết (Liên Xô) tan rã, Liên bang Nga là quốc gia kế tực của Liên Xô, quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga trong những năm đầu thấp niên 90 của thế kỷ XX chịu nhiều tác động, ảnh hưởng của bối cảnh tình hình thế giới có xu hướng suy giảm. Song đến giữa những năm 90 của thế kỷ XX, cùng với những điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của Nga và những thành công trong công cuộc Đổi mới của Việt Nam, mối quan hệ hợp tác truyền thống giữa hai nước đã nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của chính phủ hai nước. Đáng chú ý, ngày 16/6/1994, hai nước ký kết "Hiệp ước về những nguyên tắc cơ bản của quan hệ hữu nghị giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Nga" thay thế cho Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Liên Xô và Việt Nam (năm 1978), trong đó xác định những nguyên tắc mới trong quan hệ hợp tác, mở ra một thời kỳ mới trong quan hệ giữa hai nước [1], [2].

Cũng từ thời điểm này, quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Liên bang Nga đã được phát triển lên một tầm cao mới, không chỉ hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động hợp tác; tổ chức các chuyến thăm viếng cấp cao của lãnh đạo Đảng, Nhà nước mà Liên bang Nga cũng chính là quốc gia đầu tiên trên thế giới thiết lập quan hệ hợp tác Đối tác chiến lược với Việt Nam vào tháng 3/2001[1] và đến tháng 7/2012, hai nước đã chính thức nâng cấp quan hệ ngoại giao lên mức cao nhất là Đối tác chiến lược toàn diện[2].

2. Nghiên cứu, tìm hiểu về quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga trong suốt chiều dài 76 năm qua (tính từ thời điểm Liên Xô chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức đối với Việt Nam dân chủ cộng hoà) đến nay, hai nước đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật trong quan hệ hợp tác, được thể hiện qua các khía cạnh chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao

Quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga không ngừng được củng cố và phát triển thông qua các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao hai nước, cũng như thông qua các cơ chế tham vấn, đối thoại chiến lược thường niên như: Đối thoại chiến lược ngoại giao - quốc phòng - an ninh cấp Thứ trưởng Bộ Ngoại giao; Đối thoại chiến lược quốc phòng cấp thứ trưởng… Đáng chú ý, tháng 3/2001, Tổng thống V. Putin đã có chuyến thăm chính thức Việt Nam đầu tiên trên cương vị người đứng đầu Nhà nước Liên bang Nga. Trong chuyến thăm này, hai nước đã chính thức nâng cấp quan hệ Đối tác chiến lược và đến tháng 7/2012, trong chuyến thăm chính thức của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Việt Nam và Liên bang Nga đã ký tuyên bố chung về quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện. Gần đây, năm 2024, Tổng V. Putin tiếp tục có chuyến thăm chính thức theo lời mời của lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam, sau cuộc gặp, hai nước đã ra tuyên bố chung làm sâu sắc thêm mối quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện, tiếp tục đưa quan hệ hợp tác giữa hai nước đi vào chiều sâu, mới độ tin cậy cao về chính trị [2].

Thứ hai, trên lĩnh vực kinh tế

Kinh tế là một trong những trụ cột quan trọng trong quan hợp hợp tác giữa Việt Nam và Liên bang Nga. Hiện nay, Liên bang Nga là đối tác quan trọng hàng đầu về kinh tế đối với Việt Nam và hoạt động hợp tác về kinh tế, thương mại, đầu tư giữa Liên bang Nga và Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu hết sức nổi bật. Đáng chú ý, Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh kinh tế Á - Âu chính (EAEU) chính thức có hiệu lực từ năm 2016 đã mở ra bước phát triển mới trong quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các nước thành viên của tổ chức này, trong đó có Liên bang Nga, Belarus, Kazakhstan, Armrnia và Kyrgyzstan, không chỉ mở ra một thị trường khổng lồ trong xuất khẩu của Việt Nam mà còn thúc đẩy dòng chảy thương mại giữa các nước. Trong đó, Liên bang Nga là thị trường xuất khẩu các mặt hàng nông sản, thuỷ sản, may mặc lớn của Việt Nam; đồng thời cũng là đối tác hợp tác quan trọng trong lĩnh vực công nghiệp nặng, quốc phòng, an ninh. Dấu ấn của Liên bang Nga hiện hữu trong nhiều ngành công nghiệp trọng điểm của Việt Nam, nhất là trong lĩnh vực dầu khí, thuỷ điện, khai khoáng… đồng thời, Liên bang Nga cũng là địa bàn thu hút nhiều nhà đầu tư đến từ Việt Nam [2].

Thứ ba, trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh

Việt Nam và Liên bang Nga duy trì nhiều cơ chế đối thoại, hợp tác, phối hợp khác nhau trên lĩnh vực an ninh quốc phòng. Trong đó có hai cơ chế được hai nước coi trọng là Đối thoại chiến lược ngoại giao - quốc phòng - an ninh thường niên cấp Thứ trưởng thường trực ngoại giao và Đối thoại chiến lược quốc phòng cấp Thứ trưởng Quốc phòng. Chỉ tính riêng Đối thoại chiến lược quốc phòng cấp Thứ trưởng Quốc phòng được tổ chức lần đầu tiên vào năm 2013 đến nay đã trải qua 07 lần đối thoại, không chỉ khẳng định hợp tác quốc phòng tiếp tục là trụ cột trong quan hệ song phương giữa hai nước mà trong suốt thời gian đó, hai nước đã cử hàng trăm lượt đoàn chuyên gia để thăm viếng, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm nhằm tăng cường quan hệ về quốc phòng, an ninh. Đồng thời, Liên bang Nga cũng là đối tác truyền thống giúp đỡ Việt Nam trong đào tạo, huấn luyện sỹ quan Công an, Quân đội. Từ năm 2019 đến nay, trung bình mỗi năm, Liên bang Nga dành khoảng 1.000 suất học bổng cho sinh viên Việt Nam, trong đó số suất học bổng dành cho đào tạo liên quan đến sỹ quan An ninh, Quân đội chiếm tỉ lệ không nhỏ. Ngoài ra, Liên bang Nga cũng là đối tác có quan hệ hợp tác lớn nhất đối với Việt Nam về mua sắm vũ khí, chuyển giao công nghệ, nhiều thiết bị, phương tiện hiện đại phục vụ quốc phòng, an ninh hiện nay có nguồn gốc từ Nga, nhất là các loại máy bay chiến đấu, tàu ngầm, tàu hộ vệ tên lửa, hệ thống phòng không [2]…

Thứ tư, trên lĩnh vực văn hoá, khoa học, giáo dục

Trong những năm qua, hợp tác giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và Liên bang Nga đã được thúc đẩy mạnh mẽ với nhiều chương trình giao lưu văn hóa, đã được tổ chức thường xuyên, tạo điều kiện cho các nghệ sĩ, nhà nghiên cứu và người dân hai nước gặp gỡ, trao đổi và học hỏi lẫn nhau. Hai bên đã tổ chức định kỳ luân phiên các hoạt động hợp tác văn hóa theo các thỏa thuận đã ký như "Những ngày văn hóa Việt Nam", "Tuần phim Việt Nam" tại Nga và ngược lại, "Những ngày Hà Nội tại Mát-xcơ-va", "Những ngày "Mát-xcơ-va tại Hà Nội"...; tổ chức các triển lãm ảnh, tranh, hội thảo, cũng như làm phóng sự, viết bài về đất nước con người. Hai nước cũng tăng cường hợp tác về khoa học, công nghệ, nhất là về công nghệ hạt nhân và năng lượng, vật liệu mới, công nghệ Nano. Liên bang Nga cũng là đối tác dành sự quan tâm hỗ trợ đặc biệt giúp Việt Nam trên lĩnh vực giáo dục, với hàng nghìn suất học bổng mỗi năm; cùng với đó hai nước đã duy trì cơ chế luân phiên tổ chức các diễn đàn trao đổi chuyên sâu trên lĩnh vực giáo dục, như Diễn đàn hiệu trưởng các đại học Việt Nam - Liên bang Nga [2]…

3. Mặc dù quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga là mối quan hệ truyền thống, hữu nghị đặc biệt, được hun đúc qua thời gian và những biến động lịch sử, với sự tin cậy cao về chính trị. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, mối quan hệ giữa hai nước cũng đang phải đối mặt với những khó khăn, thách thức đến từ những biến động mau chóng, khó lường của tình hình thế giới, khu vực. Trong đó, nổi lên là một số nguy cơ, thách thức chủ yếu sau:

- Sự cạnh tranh chiến lược quyết liệt giữa Mỹ, các nước đồng minh phương Tây với Liên bang Nga, đặc biệt là sau khi Liên bang Nga phát động chiến dịch quân sự đặc biệt tại Ucraina. Bên cạnh việc áp các lệnh trừng phạt ở mức "vô tiền khoáng hậu" với Liên bang Nga, Mỹ và các nước phương Tây còn ra sức hậu thuẫn, tài trợ vũ khí, phương tiện chiến tranh cho Ucraina làm cho cuộc xung đột giữa Nga và quốc gia này kéo dài, nguy cơ khiến Nga sa lầy và bóp nghẹt nền kinh tế của Nga. Sức ép từ Mỹ, các nước phương Tây không chỉ nhằm vào Liên bang Nga mà còn hướng tới các quốc gia có quan hệ hợp tác với quốc gia này. Mặc dù Việt Nam thể hiện rất rõ chính sách ngoại giao "bốn không", tuy nhiên bối cảnh tình hình, sự cạnh tranh chiến lược đó cũng đặt ra những khó khăn, thách thức đòi hỏi Việt Nam phải giữ thế cân bằng, linh hoạt trong quan hệ hợp tác với các nước, bao gồm cả Liên bang Nga và Mỹ.

- Sự xích lại gần Trung Quốc của Nga khiến quốc gia này phải chịu những tác động, ảnh hưởng lớn, ảnh hưởng đến các quyết sách của họ trong quan hệ đối với Việt Nam. Đối với Trung Quốc, mặc dù hai nước đã thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện và không ngừng tăng cường hợp tác với phương châm 16 chữ vàng "Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai", tuy nhiên những bất đồng trong việc giải quyết tranh chấp chủ quyền biển đảo trên các đảo đá thuộc quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam giữa Việt Nam, Trung Quốc và một nước láng giềng vẫn là "trở ngại" lớn nhất trong quan hệ giữa hai nước. Việc Liên bang Nga và Trung Quốc sát lại gần trong quan hệ quốc tế có thể khiến cho Liên bang Nga phụ thuộc vào các quyết định của Trung Quốc, khiến cho nước này không còn thể hiện được tiếng nói bảo vệ tự do hàng hải trong quan hệ quốc tế, giảm sự ủng hộ đối với Việt Nam trong giải quyết vấn đề Biển Đông.

- Quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga có nguy cơ mất dần thời thế do Việt Nam phải tăng cường hợp tác với các nước khác. Việt Nam kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ quốc tế, chủ động mở rộng, tìm kiếm thêm nhiều thị trường mới và đối tác mới nhằm phục vụ hiệu quả cho mục tiêu phát triển đất nước. Trong bức tranh hợp tác đối ngoại ngày càng phong phú và sôi động đó, quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga đứng trước nguy cơ bị "lọt thỏm", thiếu sự nổi bật tương xứng giữa hàng loạt mối quan hệ hợp tác đang không ngừng được thúc đẩy và mở rộng. Mặc dù hai nước đã xác lập khuôn khổ Đối tác chiến lược toàn diện, song trên thực tế, nếu việc hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, khoa học - công nghệ và giao lưu nhân dân liên tục gặp phải những trở ngại, khó khăn và thiếu động lực mới, thì nền tảng của mối quan hệ này hoàn toàn có thể bị suy giảm theo thời gian. Đặc biệt, trong bối cảnh quốc tế hiện nay, khi Liên bang Nga đang phải đối mặt với các lệnh trừng phạt ngày càng gia tăng từ Mỹ và các nước phương Tây, khiến cho quá trình triển khai các hoạt động hợp tác với Việt Nam gặp nhiều trở ngại.

4. Thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp, mau lẹ, khó lường, với nhiều biến số khó dự báo nảy sinh từ sự chuyển hướng chính sách chiến lược của các nước; sự cạnh tranh quyết liệt về quân sự, kinh tế; áp lực chọn bên, chọn phe trong quan hệ quốc tế… Do đó, để củng cố và nâng cao hiệu quả quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với Liên bang Nga, hai nước cần quan tâm thực hiện các định hướng cơ bản sau đây:

Một là, trên lĩnh vực chính trị, ngoại giao, Việt Nam cần xác định rõ Liên bang Nga tiếp tục sẽ là đối tác chiến lược toàn diện, là người bạn tin cậy của Việt Nam trong quá trình hội nhập và phát triển. Thực tiễn hợp tác Việt Nam - Liên bang Nga trong nhiều năm qua cho thấy, hợp tác trên lĩnh vực chính trị rất quan trọng để tạo lập hợp tác toàn diện trên các lĩnh vực. Do đó, Việt Nam và Liên bang Nga cần củng cố và đẩy mạnh hợp tác giữa hai nước thông qua các chuyến thăm các cấp, nhất là cấp cao trên tất cả các kênh và các lĩnh vực. Đồng thời, cần quan tâm thúc đẩy đối thoại chính trị thường xuyên và thực chất ở những cấp cao nhất. Đồng thời, Việt Nam và Liên bang Nga cần đẩy mạnh việc cụ thể hóa các văn kiện pháp lý đã được ký kết, bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn, để quan hệ hợp tác giữa hai nước ngày càng đi vào thực chất, chiều sâu và cùng đề ra những biện pháp mở rộng những lĩnh vực hợp tác có tiềm năng góp phần thúc đẩy mối quan hệ song phương trên cơ sở rà soát, tháo gỡ và tìm ra giải pháp cho những khúc mắc còn tồn tại.

Hai là, trên lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, Việt Nam và Liên bang Nga cần tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực có thế mạnh của mỗi bên như năng lượng, dầu khí, nông nghiệp, công nghệ cao và quốc phòng. Chẳng hạn như trong lĩnh vực nông nghiệp, Liên bang Nga có thể cung cấp cho Việt Nam những nguyên liệu, công nghiệp chế biến và chăn nuôi. Ngược lại, Việt Nam có thể cung ứng những nông sản nhiệt đới - thế mạnh của nước nhiệt đới như Việt Nam. Hay như Liên bang Nga có thế mạnh về công nghệ lọc dầu có thể giúp đỡ Việt Nam xây dựng, cung ứng những công nghệ lọc dầu hiện đại. Ngược lại, Việt Nam có thể là cầu nối để Liên bang Nga xuất khẩu các mặt hàng sang các nước Đông Nam Á. Bên cạnh đó, hai nước cần quan tâm phát triển các chuỗi cung ứng và liên kết sản xuất. Việc liên kết sản xuất sẽ tận dụng tốt thế mạnh mỗi bên nhằm nâng cao chất lượng và giá thành sản phẩm trên thị trường quốc tế.

Ba là, trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh, Việt Nam cần tiếp tục tăng cường hợp tác với Liên bang Nga nhằm hiện đại hoá công nghệ quốc phòng, chú trọng hướng đến mục tiêu chuyển giao, làm chủ công nghệ hiện đại trên lĩnhh vực này góp phần thúc đẩy sản xuất, tự chủ trang thiết bị, phục vụ công tác quốc phòng, an ninh. Trong bối cảnh Liên bang Nga đang chịu hàng nghìn biện pháp bao vây, cấm vận như hiện nay, việc thúc đẩy hợp tác về quốc phòng - an ninh giữa hai nước cần được tính toán thận trọng, kỹ lưỡng với lộ trình hợp lý. Trong đó, Việt Nam cần tiếp tục quan tâm hợp tác, mua sắm, chuyển giao công nghệ, phương tiện kỹ thuật hiện đại, trang thiết bị quân sự; cử cán bộ, sinh viên, nhất là sinh viên Công an, Quân đội đào tạo, bồi dưỡng ở Liên bang Nga về các lĩnh vực thuộc thế mạnh của bạn. Ngoài ra cần quan tâm triển khai các nội dung, hình thức hợp tác khác phù hợp với bối cảnh tình hình, khả năng, điều kiện, sở trường của hai nước.

Bốn là, trên lĩnh vực văn hóa, khoa học, giáo dục, Việt Nam và Liên bang Nga cần tiếp tục đa dạng hoá nội dung và các hình thức hợp tác, trọng tâm là thực hiện có hiệu quả Chương trình hợp tác văn hóa Việt Nam - Liên bang Nga, với các nội dung, hình thức hợp tác thiết thực, hiệu quả. Đồng thời, cần duy trì và tăng cường tổ chức trao đổi đoàn chuyên gia, lãnh đạo các cấp, nhất là lãnh đạo các cơ quan chức năng hai nước; tổ chức cacs hoạt động giao lưu văn hoá, thể dục thể thao; các hội nghị, hội thảo, tập huấn. Đặc biệt, cần quan tâm lựa chọn những học sinh, sinh viên có tiềm năng, năng khiếu về các môn văn hóa, nghệ thuật gửi sang Liên bang Nga đào tạo nhằm bổ sung nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực này.

Quan hệ hợp tác Việt Nam - Liên bang Nga là mối quan hệ lịch sử lâu đời, trải qua nhiều khó khăn, thử thách, thậm chí là những biến động lớn về mặt chính trị, mối quan hệ truyền thống, hữu nghị đặc biệt đó vẫn tiếp tục được duy trì và không ngừng phát triển, ngày càng đi vào thực chất và chiều sâu. Tuy nhiên, trong bối cảnh tình hình mới, quan hệ hợp tác Việt Nam - Liên bang Nga đã và đang phải đối mặt với những khó khăn, thách thức đòi hỏi phải có những giải pháp phù hợp để không ngừng nâng cao hiệu quả hợp tác. Do đó, những định hướng được bài viết chỉ ra là những gợi mở quan trọng mà các cơ quan chức năng có thể nghiên cứu, vận dụng trong công tác tham mưu chiến lược nhằm duy trì và phát triển mối quan hệ này tiếp tục gặt hái được những "quả ngọ" trong thời gian tới./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ngô Đức Mạnh (2023), Chặng đường vẻ vang quan hệ Việt Nam – Liên bang Nga, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

2. Ngô Linh Nhi (2026), Chiến lược hướng Đông của Liên bang Nga dưới thời Tổng thống V. Putin và những tác động đối với an ninh quốc gia Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học, Học viện An ninh nhân dân.


[1] Tháng 3/2001, Tổng thống Liên bang Nga, V. Putin đã có chuyến thăm chính thức đến Việt Nam, tại đây lãnh đạo hai nước đã ký Tuyên bố chung về quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Liên bang Nga [1].

[2] Tháng 7/2012, Chủ tịch nước Việt Nam, Trương Tấn Sang thăm chính thức Liên bang Nga, hai nước đã ký Tuyên bố chung về quan hệ đối tác chiến lược toàn diện [2].

Ngô Linh Nhi

Học viên trung đội B2 D55 – Học viện ANND