Năng lực nghiên cứu khoa học của học viên sau đại học ở các trường đại học Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số

Thứ hai, 02/03/2026 - 10:31

Tóm tắt: Năng lực nghiên cứu khoa học của học viên sau đại học là biểu hiện tập trung của chất lượng đào tạo và trình độ phát triển tư duy khoa học trong giáo dục đại học. Trong bối cảnh chuyển đổi số, năng lực này đứng trước những yêu cầu mới về tri thức, kỹ năng và phương pháp tư duy nghiên cứu.

Bài viết luận giải một số vấn đề lý luận của năng lực nghiên cứu khoa học, phân tích thực trạng trong bối cảnh chuyển đổi số và đề xuất một số giải pháp cơ bản nâng cao năng lực nghiên cứu của học viên sau đại học, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học Việt Nam.

1. Mở đầu

Nghiên cứu khoa học có vai trò nền tảng, phản ánh trình độ phát triển của tư duy lý luận, năng lực sáng tạo và chất lượng đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao trong hệ thống giáo dục đại học và sau đại học. Đối với đào tạo sau đại học, năng lực nghiên cứu khoa học của học viên là tiêu chí quan trọng thể hiện mức độ làm chủ tri thức khoa học, khả năng vận dụng phương pháp nghiên cứu, tư duy độc lập trong giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn.

Hiện nay, chuyển đổi số đã và đang làm thay đổi môi trường học thuật, phương thức tổ chức đào tạo và hoạt động nghiên cứu khoa học. Ở Việt Nam, quá trình này được triển khai trong các trường đại học, tạo điều kiện mở rộng khả năng tiếp cận nguồn tri thức, đổi mới công cụ và phương pháp nghiên cứu. Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo đã chỉ rõ: "Gắn kết các hoạt động đào tạo với nghiên cứu, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia"(1). Tuy nhiên, năng lực nghiên cứu khoa học của học viên sau đại học vẫn bộc lộ những hạn chế nhất định về tư duy nghiên cứu, khả năng vận dụng phương pháp nghiên cứu hiện đại, kỹ năng khai thác và xử lý dữ liệu số, chuẩn mực đạo đức khoa học. Những hạn chế này cho thấy sự mâu thuẫn giữa yêu cầu khách quan của chuyển đổi số với trình độ phát triển của năng lực nghiên cứu khoa học ở học viên sau đại học. Vì vậy, nghiên cứu năng lực nghiên cứu khoa học của học viên sau đại học trong bối cảnh chuyển đổi số có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục - đảo tạo ở các trường đại học Việt Nam.

2. Nội dung

2.1. Một số vấn đề lý luận về năng lực nghiên cứu khoa học của học viên sau đại học ở các trường đại học Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số

Năng lực không đồng nhất với tri thức hay kỹ năng riêng lẻ, mà là sự tổng hợp hữu cơ giữa tri thức, phương pháp, kinh nghiệm, thái độ và phẩm chất cá nhân, được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động thực tiễn. Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, năng lực biểu hiện ở khả năng phát hiện vấn đề, xây dựng giả thuyết, lựa chọn và vận dụng phương pháp nghiên cứu, xử lý thông tin, khái quát hóa kết quả và chuyển hóa tri thức khoa học vào thực tiễn. Do đó, năng lực nghiên cứu khoa học được hiểu là khả năng của chủ thể trong việc tổ chức, triển khai và phát triển hoạt động nghiên cứu một cách độc lập, sáng tạo, có hiệu quả, trên cơ sở tuân thủ các chuẩn mực khoa học và đạo đức học thuật. Học viên sau đại học ở các trường đại học Việt Nam là lực lượng trực tiếp tham gia vào hoạt động nghiên cứu khoa học, là cầu nối giữa nghiên cứu lý luận với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội. Đây là lực lượng được trang bị nền tảng tri thức chuyên ngành nhất định, có khả năng tiếp cận các vấn đề khoa học ở trình độ lý luận cao hơn, song mức độ làm chủ phương pháp nghiên cứu và tư duy khoa học độc lập còn chưa đồng đều.

Chuyển đổi số là "việc sử dụng dữ liệu và công nghệ số để thay đổi tổng thể và toàn diện cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất"(3). Đây là quá trình tích hợp công nghệ số vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm tái cấu trúc, mô hình hoạt động nhằm tạo ra giá trị mới, tiến bộ, ưu việt hơn. Trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, chuyển đổi số đang tạo ra những tác động sâu rộng, đa chiều đối với hoạt động nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo sau đại học. Sự phát triển của các nền tảng số và hệ thống dữ liệu mở đã mở rộng mạnh mẽ khả năng tiếp cận tri thức khoa học, rút ngắn khoảng cách về không gian và thời gian trong quá trình tìm kiếm, khai thác và xử lý thông tin nghiên cứu, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng của quá trình nghiên cứu khoa học.

Năng lực nghiên cứu khoa học của học viên sau đại học ở các trường đại học Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số có thể hiểu là sự thống nhất biện chứng giữa tri thức khoa học, kỹ năng nghiên cứu và phương pháp tư duy sáng tạo, cho phép chủ thể vận dụng hiệu quả công nghệ số và các công cụ nghiên cứu hiện đại nhằm sáng tạo tri thức mới có giá trị khoa học và thực tiễn, đáp ứng yêu cầu đào tạo trong điều kiện chuyển đổi số hiện nay. Về cấu trúc, năng lực này bao gồm: tri thức khoa học, kỹ năng nghiên cứu và phương pháp tư duy sáng tạo.

Tri thức khoa học của học viên là yếu tố tiên quyết, cơ sở, nền tảng cấu thành năng lực nghiên cứu khoa học. Tri thức khoa học bao gồm hệ thống tri thức chuyên ngành, tri thức liên ngành và tri thức phương pháp luận, được tích lũy thông qua quá trình đào tạo và tự nghiên cứu.

Kỹ năng nghiên cứu khoa học của học viên thể hiện ở khả năng vận dụng tri thức đã có cùng các công cụ nghiên cứu hiện đại vào toàn bộ các khâu của quá trình nghiên cứu, từ phát hiện và xác định vấn đề, xây dựng giả thuyết, thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu đến trình bày, luận giải và công bố kết quả nghiên cứu trong môi trường số. Kỹ năng nghiên cứu không tồn tại tách rời tri thức, mà là hình thức hiện thực hóa tri thức trong hoạt động nghiên cứu cụ thể, qua đó biến tri thức tiềm năng thành năng lực nghiên cứu thực tế.

Phương pháp tư duy sáng tạo của học viên trong nghiên cứu khoa học là khả năng tư duy độc lập, phản biện và đổi mới, cho phép học viên vượt qua lối tư duy kinh nghiệm, một chiều và phụ thuộc, để tiếp cận các vấn đề khoa học một cách linh hoạt, hướng mở và gắn liền với thực tiễn. Phương pháp tư duy sáng tạo chi phối cách thức vận dụng tri thức và kỹ năng nghiên cứu, quyết định mức độ đổi mới, chiều sâu lý luận và giá trị phát triển của các kết quả nghiên cứu khoa học trong điều kiện chuyển đổi số hiện nay.

Như vậy, các thành tố cấu thành năng lực nghiên cứu khoa học của học viên sau đại học tuy có vị trí và vai trò khác nhau, nhưng tồn tại trong mối quan hệ thống nhất biện chứng. Trong mối quan hệ đó, tri thức khoa học giữ vai trò nền tảng và định hướng, kỹ năng nghiên cứu là phương thức hiện thực hóa tri thức trong hoạt động nghiên cứu cụ thể, phương pháp tư duy sáng tạo là nhân tố thúc đẩy sự vận động, phát triển và nâng cao chất lượng của năng lực nghiên cứu khoa học. Sự tác động qua lại và bổ sung lẫn nhau giữa ba yếu tố này tạo nên chỉnh thể thống nhất của năng lực nghiên cứu khoa học của học viên sau đại học, đáp ứng yêu cầu đào tạo và nghiên cứu khoa học trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.

2.2. Thực trạng năng lực nghiên cứu khoa học của học viên sau đại học ở các trường đại học Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số

Một là, về tri thức khoa học của học viên đào tạo sau đại học, phần lớn học viên đã được trang bị nền tảng tri thức khoa học tương đối đầy đủ, bảo đảm cho quá trình nhận thức, phản ánh năng động, sáng tạo các vấn đề thực tiễn, từ đó từng bước hình thành nội dung, hình thức, phương pháp định hướng hoạt động thực tiễn, giải quyết các vấn đề thực tiễn. Đa số học viên sau đại học có khả năng vận dụng tri thức khoa học vào quá trình nghiên cứu, chỉ ra những vấn đề cần phải giải quyết, có khả năng tiếp cận các vấn đề nghiên cứu ở trình độ lý luận nhất định. Đặc biệt, việc tiếp cận các nguồn tài liệu điện tử, cơ sở dữ liệu khoa học trên nền tảng số trong và ngoài nước ngày càng thuận lợi đã góp phần mở rộng tầm nhìn học thuật, nâng cao mức độ cập nhật tri thức và tạo điều kiện cho học viên tiếp cận các hướng nghiên cứu mới.

Hai là, về kỹ năng nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo sau đại học, nhiều học viên đã hình thành, phát triển và làm chủ các kỹ năng cơ bản của hoạt động nghiên cứu khoa học như xác định vấn đề nghiên cứu, tìm kiếm và xử lý tài liệu, sử dụng các công cụ hỗ trợ phân tích dữ liệu, trình bày và công bố kết quả nghiên cứu. Việc ứng dụng các công nghệ số trong thu thập, xử lý và trao đổi thông tin nghiên cứu đã góp phần nâng cao hiệu quả của quá trình nghiên cứu, rút ngắn thời gian và mở rộng khả năng hợp tác học thuật. Hơn nữa, nhiều học viên có nhận thức, trách nhiệm tốt, tích cực, chủ động, tự giác tìm tòi học tập, nghiên cứu tham gia các đề tài khoa học, hội thảo, tọa đàm học thuật, từ đó từng bước rèn luyện và nâng cao kỹ năng nghiên cứu trong môi trường học thuật số.

Ba là, về phương pháp tư duy sáng tạo của học viên đào tạo sau đại học, quá trình chuyển đổi số đã tạo ra những điều kiện thuận lợi để học viên tiếp cận những phương pháp nghiên cứu mới, các mô hình nghiên cứu liên ngành, đa ngành và các diễn đàn học thuật trực tuyến, trực tiếp, tăng cường khả năng giao lưu học thuật giữa các cộng đồng nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước. Nhiều học viên đã thể hiện được năng lực tư duy độc lập, khả năng phản biện và bước đầu hình thành phong cách nghiên cứu riêng, không chỉ dừng lại ở việc tái hiện tri thức có sẵn, mà hướng tới phát hiện và giải quyết những vấn đề khoa học gắn với thực tiễn. Điều này cho thấy tư duy nghiên cứu của học viên sau đại học đang ngày càng được dịch chuyển theo hướng linh hoạt, sáng tạo, phù hợp hơn với yêu cầu của môi trường tri thức số.

Tuy nhiên, năng lực nghiên cứu khoa học của học viên sau đại học ở các trường đại học Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định. Tri thức khoa học của một số học viên chưa đầy đủ, biểu hiện trong việc thiếu sót tri thức cơ sở ngành, tri thức chuyên ngành, chưa nắm chắc bản chất khoa học của tri thức, còn mơ hồ trong nhận thức, hạn chế khả năng làm chủ tri thức, khái quát hóa, trừu tượng hóa thành lý luận. Kỹ năng nghiên cứu khoa học chưa đồng đều, một bộ phận học viên còn lúng túng trong việc vận dụng phương pháp nghiên cứu hiện đại, các công cụ số vào nghiên cứu chuyên sâu. Phương pháp tư duy sáng tạo nhìn chung chưa trở thành khả năng phổ biến, tư duy nghiên cứu còn chịu ảnh hưởng của lối tiếp cận kinh nghiệm, đơn tuyến, thiếu tính phản biện và đột phá.

Như vậy, năng lực nghiên cứu khoa học của học viên sau đại học ở các trường đại học Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số đang có những chuyển biến tích cực, song vẫn bộc lộ những hạn chế mang tính cơ bản và hệ thống. Thực trạng đó đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ, xuất phát từ cơ sở lý luận và gắn chặt với yêu cầu đổi mới đào tạo sau đại học trong điều kiện chuyển đổi số hiện nay.

2.3. Giải pháp nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của học viên sau đại học ở các trường đại học Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số

Thứ nhất, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các chủ thể trong các trường đại học Việt Nam về năng lực nghiên cứu khoa học của học viên sau đại học trong bối cảnh chuyển đổi số.

Đây là giải pháp tiên quyết, có vai trò nền tảng cho việc hình thành, phát triển của giải pháp tiếp theo. Năng lực nghiên cứu khoa học của học viên sau đại học là tiêu chí quan trọng phản ánh chất lượng đào tạo, trình độ học thuật và uy tín khoa học của nhà trường trong môi trường giáo dục đại học số. Do đó, cần nâng cao nhận thức của các chủ thể quản lý (cấp ủy, Ban Giám hiệu, các cơ quan chức năng, khoa, bộ môn) về vị trí, vai trò của nghiên cứu khoa học trong đào tạo sau đại học; nâng cao nhận thức của đội ngũ giảng viên, người hướng dẫn về việc hình thành năng lực nghiên cứu độc lập, sáng tạo cho học viên. Học viên cần nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của nghiên cứu khoa học trong bối cảnh chuyển đổi số. Xác lập rõ trách nhiệm của từng chủ thể trong việc xây dựng chiến lược, kế hoạch và cơ chế bảo đảm phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên, gắn đánh giá năng lực nghiên cứu với các tiêu chí kiểm định chất lượng đào tạo và hiệu quả hoạt động khoa học của nhà trường.

Thứ hai, đổi mới nội dung, hình thức và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học của học viên sau đại học trên nền tảng chuyển đổi số.

Đây là giải pháp tác động trực tiếp vào quá trình đào tạo nhằm hình thành, phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên một cách toàn diện, bền vững. Theo đó, đổi mới nội dung đào tạo cần hướng tới tăng cường tri thức phương pháp luận, tri thức liên ngành và tri thức về công nghệ số phục vụ nghiên cứu khoa học, khắc phục tình trạng thiên về truyền thụ tri thức chuyên ngành thuần túy mà coi nhẹ năng lực nghiên cứu. Hình thức và phương pháp đào tạo cần được chuyển đổi theo hướng phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học, gắn đào tạo với hoạt động nghiên cứu thực tiễn, khuyến khích học viên tham gia các đề tài khoa học, nhóm nghiên cứu và các diễn đàn học thuật số. Bảo đảm sự thống nhất hữu cơ giữa đổi mới nội dung với đổi mới hình thức và phương pháp đào tạo, trong đó, công nghệ số được tích hợp như một phần tất yếu của quá trình hình thành năng lực nghiên cứu khoa học. Tăng cường đánh giá theo sản phẩm khoa học và quá trình nghiên cứu gắn với chuẩn hóa đầu ra về năng lực nghiên cứu.

Thứ ba, xây dựng môi trường nghiên cứu khoa học dân chủ, thuận lợi nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo sau đại học trong bối cảnh chuyển đổi số.

Đây là giải pháp có ý nghĩa bảo đảm, tạo điều kiện vật chất - tinh thần cần thiết cho việc hình thành và phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của học viên sau đại học. Theo đó, xây dựng môi trường nghiên cứu khoa học phải bảo đảm tính dân chủ, tôn trọng tự do học thuật, khuyến khích tranh luận khoa học trên cơ sở chuẩn mực khoa học và đạo đức học thuật; tạo lập hệ sinh thái nghiên cứu số thuận lợi thông qua việc phát triển hạ tầng số, cơ sở dữ liệu học thuật, các nền tảng chia sẻ tri thức và công cụ hỗ trợ nghiên cứu hiện đại. Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích nghiên cứu khoa học gắn với đào tạo sau đại học, bảo đảm sự công khai, minh bạch trong đánh giá, ghi nhận và sử dụng kết quả nghiên cứu; phát huy vai trò của các nhóm nghiên cứu, diễn đàn học thuật và mạng lưới hợp tác khoa học trong và ngoài nước.

Thứ tư, phát huy nhân tố chủ quan của học viên sau đại học trong tự tu dưỡng, rèn luyện và nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học.

Đây là giải pháp mang tính quyết định, trực tiếp tác động đến chất lượng và hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học của học viên sau đại học. Các chủ thể giáo dục cần định hướng và bồi dưỡng cho học viên ý thức tự giác, tinh thần trách nhiệm và động cơ nghiên cứu khoa học đúng đắn, coi nghiên cứu khoa học là yêu cầu nội tại của quá trình tự hoàn thiện năng lực chuyên môn và nhân cách khoa họ. Trong đó, tập trung "nâng cao chuẩn năng lực số và trí tuệ nhân tạo cho người học và đội ngũ nhà giáo"(3); khuyến khích học viên chủ động tích lũy tri thức chuyên ngành, liên ngành và phương pháp luận khoa học; phát triển tư duy độc lập, phản biện và sáng tạo trong tiếp cận, giải quyết vấn đề khoa học. Học viên cần phát huy nhân tố chủ quan của bản thân trong việc tự tu dưỡng, tự rèn luyện gắn liền với yêu cầu chuẩn mực học thuật, liêm chính khoa học trong môi trường số.

3. Kết luận

Năng lực nghiên cứu khoa học của học viên sau đại học là tiêu chí cốt lõi phản ánh chất lượng đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao và trình độ phát triển của tư duy khoa học trong giáo dục đại học. Trong bối cảnh chuyển đổi số, năng lực này vừa được mở rộng về điều kiện và phương thức phát triển, vừa bộc lộ những hạn chế nội tại cần được nhận diện và khắc phục. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp về nhận thức, đào tạo, môi trường nghiên cứu và phát huy tính chủ động của học viên có ý nghĩa quyết định trong nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học, đáp ứng yêu cầu đổi mới và phát triển bền vững giáo dục đại học Việt Nam hiện nay.

Dương Văn Chiến, Lưu Bá Đức, Bùi Duy Hùng

Học viện Chính trị/Bộ Quốc phòng


Tài liệu tham khảo:

(1) Ban Chấp hành Trung ương Đảng: Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Hà Nội, tr.10.

(2) Lê Trọng Tuyến và Vũ Trà Giang: Chuyển đổi số để thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất mới ở Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Tạp chí Triết học, 6(402), 2025, tr.4.

(3) Ban Chấp hành Trung ương Đảng: Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Hà Nội, tr.7.