Những vấn đề đặt ra đối với việc đẩy mạnh phong trào “Bình dân học vụ số” của học viên ở Học viện Chính trị hiện nay

Thứ tư, 11/03/2026 - 19:52

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu và trong nước, việc phổ cập tri thức và kỹ năng số cho các tầng lớp nhân dân trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm xây dựng xã hội số.

Phong trào "Bình dân học vụ số" được phát động nhằm góp phần nâng cao năng lực số cho toàn xã hội, giúp mỗi người có khả năng tiếp cận, khai thác hiệu quả các nền tảng công nghệ trong học tập, lao động và đời sống. Đối với các học viện, nhà trường quân đội, việc đẩy mạnh phong trào này có ý nghĩa quan trọng trong nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo và nghiên cứu khoa học. Bài viết phân tích một số vấn đề đặt ra đối với việc đẩy mạnh phong trào "Bình dân học vụ số" của học viên ở Học viện Chính trị hiện nay, qua đó làm rõ những yêu cầu cần tiếp tục giải quyết nhằm nâng cao hiệu quả của phong trào trong thời gian tới.

Nội dung nghiên cứu

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và Internet vạn vật đang làm thay đổi sâu sắc phương thức sản xuất, quản lý và đời sống xã hội. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trở thành xu thế tất yếu và là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi quốc gia. Nhận thức rõ xu thế này, Đảng và Nhà nước ta đã xác định chuyển đổi số là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình phát triển đất nước.

Trong tiến trình xây dựng xã hội số, việc phổ cập tri thức và kỹ năng số cho toàn xã hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Thực hiện chủ trương đó, phong trào "Bình dân học vụ số" được phát động nhằm phổ cập kỹ năng số cho mọi tầng lớp nhân dân, giúp mỗi người có khả năng tiếp cận, sử dụng và khai thác hiệu quả các nền tảng công nghệ số. Nếu trước đây phong trào "Bình dân học vụ" hướng tới mục tiêu xóa nạn mù chữ, thì ngày nay "Bình dân học vụ số" hướng tới phổ cập kỹ năng số, giúp con người thích ứng với môi trường số và tham gia tích cực vào sự phát triển của xã hội số.

Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, chuyển đổi số vừa là yêu cầu khách quan của quá trình xây dựng quân đội hiện đại, vừa là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng lãnh đạo, chỉ huy, quản lý và giáo dục – đào tạo trong các học viện, nhà trường quân đội. Những năm gần đây, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đã ban hành nhiều chủ trương, kế hoạch nhằm thúc đẩy chuyển đổi số trong toàn quân, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo và nghiên cứu khoa học.

Học viện Chính trị là trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính trị và nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn quân sự của Quân đội nhân dân Việt Nam. Học viên đào tạo sau đại học tại Học viện Chính trị là lực lượng có trình độ lý luận cao, đồng thời là nguồn cán bộ quan trọng trong toàn quân. Sau khi tốt nghiệp, nhiều học viên sẽ đảm nhiệm các vị trí công tác quan trọng, trực tiếp tham gia công tác lãnh đạo, chỉ huy, quản lý và nghiên cứu khoa học trong Quân đội. Vì vậy, trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, yêu cầu đối với đội ngũ học viên không chỉ dừng lại ở trình độ lý luận và chuyên môn mà còn đòi hỏi phải có năng lực số để thích ứng với môi trường công tác ngày càng hiện đại.

Thực tiễn thời gian qua cho thấy, việc triển khai phong trào "Bình dân học vụ số" trong các học viện, nhà trường đã đạt được một số kết quả tích cực. Tuy nhiên, quá trình tổ chức thực hiện vẫn còn đặt ra một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, giải quyết nhằm nâng cao hiệu quả của phong trào ở Học viện Chính trị hiện nay, đó là:

Một là, mâu thuẫn giữa yêu cầu ngày càng cao của chuyển đổi số trong giáo dục – đào tạo với nhận thức, trách nhiệm của một số tổ chức, lực lượng và học viên đối với phong trào "Bình dân học vụ số" còn chưa thật sự đầy đủ, sâu sắc.

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn quốc và trong Quân đội, việc phổ cập tri thức số và nâng cao năng lực số cho học viên trở thành yêu cầu tất yếu đối với các cơ sở đào tạo cán bộ. Tuy nhiên, trong thực tiễn triển khai phong trào "Bình dân học vụ số" ở Học viện Chính trị, nhận thức của một số chủ thể về ý nghĩa, vai trò của phong trào vẫn còn chưa thật sự đồng đều; có nơi còn xem đây là hoạt động mang tính phong trào, chưa gắn chặt với nhiệm vụ nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo. Ở một số cơ quan, đơn vị, việc quán triệt chủ trương, định hướng về chuyển đổi số và phổ cập tri thức số cho học viên chưa thật sự thường xuyên, sâu sát; chưa tạo được sự thống nhất cao trong nhận thức và hành động. Bên cạnh đó, một bộ phận học viên tuy có điều kiện tiếp cận công nghệ nhưng chưa thật sự chủ động, tích cực tham gia các hoạt động của phong trào, còn biểu hiện tâm lý trông chờ, tham gia mang tính hình thức. Điều này dẫn đến hiệu quả triển khai phong trào ở một số thời điểm chưa thật sự tương xứng với tiềm năng, lợi thế của môi trường đào tạo tại Học viện. Mâu thuẫn đó đặt ra yêu cầu phải tiếp tục tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các tổ chức, các lực lượng và học viên; đồng thời gắn chặt phong trào "Bình dân học vụ số" với nhiệm vụ giáo dục – đào tạo, nghiên cứu khoa học và rèn luyện của học viên, qua đó tạo chuyển biến mạnh mẽ hơn về nhận thức và hành động trong toàn Học viện.

Hai là, bất cập giữa tiềm năng, khả năng tiếp cận công nghệ của học viên với nội dung, hình thức tổ chức đẩy mạnh phong trào "Bình dân học vụ số" còn có mặt chưa thật sự phong phú, hấp dẫn.

Học viên Học viện Chính trị phần lớn là lực lượng trẻ, có khả năng tiếp cận nhanh với công nghệ số và các nền tảng số hiện đại. Tuy nhiên, trong thực tế tổ chức đẩy mạnh phong trào, một số nội dung hoạt động còn mang tính truyền thống, chậm đổi mới, chưa khai thác hiệu quả các nền tảng công nghệ số để tổ chức các hoạt động học tập, trao đổi và phổ biến tri thức số. Nhiều hoạt động vẫn chủ yếu dừng lại ở hình thức tuyên truyền, phổ biến kiến thức theo phương pháp truyền thống, trong khi các hình thức tổ chức trên môi trường số, các diễn đàn học tập trực tuyến, hoặc các mô hình chia sẻ tri thức số giữa học viên chưa được phát huy đầy đủ. Điều đó làm cho phong trào ở một số thời điểm chưa tạo được sức hút mạnh mẽ, chưa phát huy hết tính chủ động, sáng tạo và tiềm năng công nghệ của học viên trong quá trình tham gia. Thực tế này cũng làm hạn chế phần nào khả năng lan tỏa tri thức số trong toàn Học viện, khiến phong trào chưa thật sự trở thành môi trường để học viên phát huy vai trò xung kích trong học tập, nghiên cứu và ứng dụng công nghệ. Bất cập đó đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, hình thức và phương pháp tổ chức phong trào "Bình dân học vụ số" theo hướng hiện đại, linh hoạt, gắn chặt với môi trường học tập số và đặc điểm tâm lý của học viên; đồng thời khuyến khích học viên chủ động đề xuất, xây dựng các mô hình hoạt động sáng tạo nhằm nâng cao hiệu quả và sức lan tỏa của phong trào trong toàn Học viện.

Ba là, mâu thuẫn giữa yêu cầu ngày càng cao của việc phổ cập tri thức số với điều kiện bảo đảm về cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ và học liệu số còn có mặt chưa thật sự đồng bộ.

Việc triển khai phong trào "Bình dân học vụ số" đòi hỏi phải có hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin hiện đại, nguồn học liệu số phong phú và các nền tảng hỗ trợ học tập, nghiên cứu trên môi trường số. Tuy nhiên, trong thực tiễn vẫn còn một số hạn chế nhất định về hệ thống học liệu số, nền tảng học tập trực tuyến và các công cụ hỗ trợ phổ cập tri thức số cho học viên. Một số cơ sở dữ liệu, tài liệu số phục vụ học tập và nghiên cứu chưa thật sự phong phú, khả năng khai thác và chia sẻ nguồn học liệu số giữa các cơ quan, đơn vị trong Học viện còn có mặt chưa thuận lợi. Bên cạnh đó, việc ứng dụng các phần mềm, nền tảng số phục vụ học tập, nghiên cứu và trao đổi học thuật trong học viên chưa được triển khai đồng bộ, dẫn đến hiệu quả sử dụng hạ tầng công nghệ chưa thật sự cao. Những hạn chế này phần nào ảnh hưởng đến quá trình tiếp cận, khai thác và lan tỏa tri thức số của học viên trong quá trình tham gia phong trào. Thực tế đó đặt ra yêu cầu cần tiếp tục quan tâm đầu tư, hoàn thiện hệ thống cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ thông tin và nguồn học liệu số; đồng thời tăng cường xây dựng các nền tảng học tập số dùng chung, tạo điều kiện thuận lợi để học viên khai thác, sử dụng hiệu quả các nguồn tri thức số phục vụ học tập, nghiên cứu và tham gia phong trào "Bình dân học vụ số".

Bốn là, bất cập giữa yêu cầu phát huy vai trò của học viên trong đẩy mạnh phong trào "Bình dân học vụ số" với năng lực số và kỹ năng ứng dụng công nghệ của một bộ phận học viên còn chưa đồng đều.

Mặc dù đa số học viên có khả năng tiếp cận nhanh với công nghệ và có tinh thần chủ động trong học tập, nghiên cứu trên môi trường số, song vẫn còn một bộ phận học viên kỹ năng khai thác, sử dụng các nền tảng số phục vụ học tập và phổ cập tri thức số còn hạn chế. Sự chênh lệch về trình độ và kỹ năng số giữa các học viên ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả chung của phong trào. Trong thực tiễn, một số học viên chưa thật sự thành thạo trong việc sử dụng các công cụ số phục vụ học tập, nghiên cứu và trao đổi thông tin; khả năng khai thác các nguồn học liệu số, nền tảng học tập trực tuyến còn lúng túng. Bên cạnh đó, việc tự học, tự bồi dưỡng kỹ năng số ở một số học viên chưa trở thành nhu cầu thường xuyên, dẫn đến khả năng tham gia và lan tỏa tri thức số trong phong trào còn hạn chế. Điều này làm cho vai trò xung kích, sáng tạo của học viên trong một số hoạt động của phong trào chưa được phát huy đầy đủ. Vì vậy, thực tiễn đó đặt ra yêu cầu phải tiếp tục tăng cường bồi dưỡng năng lực số, kỹ năng ứng dụng công nghệ và khả năng khai thác các nền tảng số cho học viên; đồng thời tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để học viên chủ động học tập, rèn luyện và phát huy vai trò chủ thể trong phong trào "Bình dân học vụ số" ở Học viện Chính trị.

Năm là, mâu thuẫn giữa yêu cầu nâng cao hiệu quả, tính bền vững của phong trào "Bình dân học vụ số" với cơ chế phối hợp, kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện phong trào còn có mặt chưa thật sự chặt chẽ.

Trong quá trình tổ chức phong trào, việc phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong Học viện đôi khi còn thiếu tính thường xuyên, chưa tạo được sự liên kết chặt chẽ giữa các hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học và phổ cập tri thức số. Ở một số thời điểm, việc triển khai phong trào còn mang tính riêng lẻ theo từng cơ quan, đơn vị, chưa hình thành được cơ chế phối hợp đồng bộ, thống nhất trong toàn Học viện. Công tác kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện phong trào còn có mặt mang tính định tính, chưa xây dựng được hệ thống tiêu chí cụ thể, khoa học để đánh giá toàn diện mức độ tham gia và hiệu quả hoạt động của học viên. Bên cạnh đó, việc sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm và nhân rộng các mô hình, cách làm hay trong phong trào đôi khi chưa được tiến hành kịp thời, làm hạn chế khả năng lan tỏa của các điển hình tiên tiến. Những hạn chế này ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả và tính bền vững của phong trào trong thực tiễn. Vì vậy, đặt ra yêu cầu cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị; đồng thời xây dựng hệ thống tiêu chí kiểm tra, đánh giá phong trào một cách khoa học, chặt chẽ, qua đó nâng cao hiệu quả tổ chức và bảo đảm phong trào "Bình dân học vụ số" được triển khai thường xuyên, thực chất và bền vững trong Học viện Chính trị.

Kết luận

Phong trào "Bình dân học vụ số" có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao năng lực số cho học viên, góp phần đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số trong giáo dục – đào tạo và xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện đại. Tuy nhiên, quá trình triển khai phong trào ở Học viện Chính trị hiện nay vẫn đặt ra một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, giải quyết như: nhận thức của một số chủ thể về phong trào còn chưa thật sự đầy đủ; nội dung, hình thức tổ chức phong trào chưa thật sự phong phú; hạ tầng công nghệ và học liệu số còn có mặt chưa đồng bộ; năng lực số của học viên còn chưa đồng đều; cơ chế phối hợp, kiểm tra, đánh giá phong trào chưa thật sự chặt chẽ.

Việc nhận diện đúng những vấn đề đặt ra có ý nghĩa quan trọng, là cơ sở để các cơ quan, đơn vị trong Học viện tiếp tục nghiên cứu, đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm đẩy mạnh phong trào "Bình dân học vụ số", góp phần nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo, nghiên cứu khoa học và xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực số đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Trung tá Nguyễn Thanh Tùng - Thượng tá Nguyễn Thế Vũ, Hệ 5,

Học viện Chính trị (Bộ Quốc phòng)


Tài liệu tham khảo:

    1. Ban chấp hành Trung ương (2019), Nghị quyết số 52-NQ/TW của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, ban hành ngày 27/9/2019. 
    2.  Bộ Chính trị (2019), Nghị quyết số 52-NQ/TW Về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Hà Nội. 
    3. Bộ Quốc phòng (2021), Kế hoạch số 4396/KH-BQP về phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số trong Bộ Quốc phòng giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030, phê duyệt ngày 04/11/2021. 
    4. Đảng ủy Học viện Chính trị, Báo cáo chính trị số 291-BC/ĐU của Ban Chấp hành Đảng bộ Học viện khóa XVI tại Đại hội Đảng bộ Học viện lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030, Hà Nội, 2025.