Phản bác luận điệu “bao cấp kỹ thuật số” nhằm phủ nhận khát vọng “vươn mình” trong kỷ nguyên phát triển mới của Việt Nam

Thứ năm, 17/09/2026 - 16:30

Tóm tắt: Nhân loại hiện đang bước vào thời kỳ phát triển mới, chuyển đổi số không còn là xu hướng lựa chọn, mà trở thành yêu cầu khách quan, động lực phát triển và tiêu chí phản ánh năng lực quản trị quốc gia của mỗi nhà nước hiện đại. Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với khát vọng “vươn mình” mạnh mẽ. Song, một số tổ chức phản động đã liên tục tung ra các luận điệu xuyên tạc nhằm phủ nhận thành tựu đổi mới và định hướng phát triển của nước ta. Một trong những luận điệu đáng chú ý là nhận định: “Việt Nam đang quay lại thời kỳ bao cấp dưới hình hài mới - Bao cấp kỹ thuật số”. Luận điệu này sai lệch về mặt nhận thức và gây hoài nghi, làm suy giảm niềm tin xã hội.

Từ khóa: Chuyển đổi số; mô hình phát triển; quản trị quốc gia.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, xây dựng Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, các thế lực thù địch tiếp tục gia tăng hoạt động chống phá trên không gian mạng bằng nhiều hình thức tinh vi. Gần đây, một số đối tượng phản động đã đưa ra luận điệu cho rằng Việt Nam đang "lùi lại thời kỳ bao cấp dưới một hình hài mới", từ đó phủ nhận ý nghĩa của chuyển đổi số và gieo rắc tâm lý hoài nghi đối với chủ trương phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Thoạt nhìn, đây có vẻ là một câu hỏi phản biện chính sách. Song xét kỹ, đó thực chất là một cách đặt vấn đề có chủ đích nhằm phủ nhận thành tựu đổi mới, xuyên tạc bản chất của chuyển đổi số và gieo rắc tâm lý hoài nghi đối với con đường phát triển của đất nước. Thực chất, đây không chỉ là sự xuyên tạc về chuyển đổi số mà còn là sự phủ nhận đường lối đổi mới, hiện đại hóa và xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Những luận điệu này dễ gây nhiễu loạn nhận thức nếu không được nhận diện và phân tích một cách khoa học.

Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng cùng thực tiễn phát triển ở Việt Nam, kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn tỉnh Quảng Ninh, bài viết tập trung làm rõ bản chất của luận điệu "bao cấp kỹ thuật số", qua đó khẳng định chuyển đổi số là yêu cầu khách quan của quá trình hiện đại hóa quản trị quốc gia, không phải sự quay trở lại của cơ chế bao cấp dưới bất kỳ hình thức nào.

l. NHẬN DIỆN BẢN CHẤT LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ "BAO CẤP KỸ THUẬT SỐ" VÀ LUẬN CỨ ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC

Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam hội tụ đủ những điều kiện cần thiết để chuẩn bị bước vào một giai đoạn phát triển mới của dân tộc. Ngày 13/8/2024, trong bài phát biểu tại cuộc họp Thường trực Tiểu ban Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định "cần thống nhất nhận thức về khởi điểm lịch sử mới, kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, từ đó có những đổi mới mạnh mẽ hơn nữa về hình thức và nội dung các văn kiện"[1]. Điều này thể hiện rõ khát vọng phát triển "vươn mình" của Việt Nam trong thời đại số.

Nhân cơ hội này, các thế lực thù địch gia tăng hoạt động chống phá bằng nhiều hình thức tinh vi trên không gian mạng. Gần đây, nhân kỷ niệm 51 năm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (1975-2026), trên mạng xã hội (trang facebook Việt Tân ngày 28/4/2026), video Ông Lý Thái Hùng, đối tượng cầm đầu của tổ chức phản động Việt Tân đưa ra câu hỏi gây tranh luận, hoài nghi:"Liệu Việt Nam đang thực sự bước vào kỷ nguyên vươn mình hay đang lùi lại thời kỳ bao cấp dưới một hình hài mới?". Theo đó, ông ta rêu rao rằng Việt Nam đang "lùi lại thời kỳ bao cấp dưới hình hài mới - Bao cấp kỹ thuật số".

Để nhận diện và phản bác luận điệu này, trước hết cần làm rõ bản chất của cái gọi là "bao cấp kỹ thuật số".

"Bao cấp kỹ thuật số" không phải một khái niệm khoa học trong kinh tế học, khoa học chính trị hay quản trị công hiện đại. Đây thực chất là một cách gán nhãn mang tính tuyên truyền nhằm tạo liên tưởng tiêu cực giữa tiến trình chuyển đổi số hiện nay với ký ức xã hội về thời kỳ bao cấp trước đổi mới. Thủ đoạn của luận điệu này là cố tình mở rộng và đánh tráo nội hàm của khái niệm "bao cấp". Nếu như bao cấp trong nghĩa khoa học được đặc trưng bởi cơ chế kế hoạch hóa tập trung, phân bổ nguồn lực bằng mệnh lệnh hành chính, triệt tiêu vai trò của thị trường và quyền tự chủ của các chủ thể kinh tế, thì "bao cấp kỹ thuật số" lại được gán ghép với những hiện tượng hoàn toàn khác như dữ liệu dân cư, định danh điện tử, camera an ninh, dịch vụ công trực tuyến, quản trị số mà chúng lập luận ngụy biện thành "kiểm soát chặt chẽ" của Nhà nước qua những thủ tục kiểm tra thuế, hóa đơn, cấp phép, hay gán ghép hình thức hỗ trợ hạ tầng, công nghệ, vốn vay… thành "nguy cơ lệ thuộc ngoại bang" như thời bao cấp xưa. Thậm chí, chúng coi chiến lược phát triển, khẩu hiệu quốc gia quy kết thành biểu hiện của bao cấp. Nếu những điều chúng nói là đúng, thì những khẩu hiệu, chính sách phát triển "Make America Great Again", "China Dream", "Smart Nation" của Mỹ, Trung Quốc, Singapore đều là biểu hiện của bao cấp?

Từ sự đánh tráo đó, các đối tượng chống phá tìm cách dẫn dắt dư luận đến một kết luận có sẵn rằng mọi nỗ lực hiện đại hóa quản trị quốc gia đều là biểu hiện của sự "quay lại bao cấp". Đây không đơn thuần là một ý kiến phản biện chính sách, mà là một luận điệu xuyên tạc có tính định hướng nhận thức, được xây dựng trên nhiều tầng ngụy biện như đánh tráo khái niệm, đồng nhất hiện tượng với bản chất và cắt ghép thông tin, nhằm phủ nhận thành tựu đổi mới và làm suy giảm niềm tin xã hội vào con đường phát triển của đất nước,

1.1. Ngụy biện đánh tráo khái niệm, đồng nhất quản trị số với cơ chế bao cấp.

Dễ dàng nhận thấy luận điệu "bao cấp kỹ thuật số" là cố tình đánh tráo giữa phương tiện quản trịbản chất mô hình phát triển.

Trong lịch sử, mô hình nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung từng phù hợp với những điều kiện kinh tế - xã hội và yêu cầu bảo vệ chính quyền cách mạng ở những giai đoạn nhất định. Ở Việt Nam, "bao cấp" – đặc trưng của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung được thực hiện trong thời gian kháng chiến chống Pháp, Mỹ và phục hồi đất nước sau chiến tranh. Tuy nhiên, từ thực tiễn phát triển, cả V.I.Lênin với Chính sách kinh tế mới (NEP) sau khi thực hiện Chính sách kinh tế cộng sản thời chiến (1918-1921) và Đảng Cộng sản Việt Nam với đường lối đổi mới từ năm 1986 (về chuyển đổi mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường định hướng XHCN) đều khẳng định yêu cầu phải xuất phát từ điều kiện lịch sử cụ thể, vận dụng linh hoạt các quy luật khách quan của phát triển kinh tế.

Hiện nay, "chuyển đổi số" là quá trình thay đổi tổng thể và toàn diện của cá nhân, tổ chức về cách sống, cách làm việc và phương thức sản xuất dựa trên công nghệ số. Theo đó, chuyển đổi số chỉ là quá trình ứng dụng công nghệ để nâng cao hiệu quả điều hành, giảm chi phí xã hội và cải thiện chất lượng phục vụ người dân.

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, sự phát triển của xã hội trước hết được quyết định bởi sự phát triển của lực lượng sản xuất. Khi khoa học công nghệ trở thành động lực trung tâm của tăng trưởng, phương thức quản trị quốc gia tất yếu phải thay đổi để thích ứng với trình độ phát triển mới.

Tư tưởng của Hồ Chí Minh cũng thể hiện rõ tinh thần coi trọng khoa học kỹ thuật và đổi mới quản lý để phục vụ nhân dân. Tại Hội nghị phổ biến khoa học, kỹ thuật Việt Nam ngày 18/5/1963, Người nhấn mạnh "khoa học phải từ sản xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng, nhằm nâng cao năng suất lao động và không ngừng cải tiến đời sống của nhân dân"[2].

Chuyển đổi số hiện nay với mục tiêu giảm thủ tục hành chính, minh bạch hóa hoạt động công quyền, nâng cao chất lượng phục vụ người dân, không phải là biểu hiện của "bao cấp hóa" mà là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện phát triển mới, là yêu cầu tất yếu của thời đại số. Văn kiện Đại hội XIII khẳng định "Phát triển nhanh và bền vững dựa chủ yếu vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số"[3], đồng thời, nhấn mạnh yêu cầu: "Đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng mạnh mẽ thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội"[4]. Do đó, chuyển đổi số không phải lựa chọn mang tính kỹ thuật đơn thuần, mà là định hướng chiến lược quốc gia nhằm đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh. Với đường lối đó, định hướng đến năm 2030, Việt Nam trở thành quốc gia số, ổn định và thịnh vượng, tiên phong thử nghiệm các công nghệ và mô hình mới; đổi mới căn bản, toàn diện hoạt động quản lý, điều hành của Chính phủ, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phương thức sống, làm việc của người dân, phát triển môi trường số an toàn, nhân văn, rộng khắp (Theo Quyết định 749-QĐ/TTg về phê duyệt "Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030").

Như vậy, công nghệ quản trị không quyết định bản chất của thể chế kinh tế. Một quốc gia ứng dụng dữ liệu số, định danh điện tử hay trí tuệ nhân tạo không đồng nghĩa với việc quay lại mô hình bao cấp, giống như việc sử dụng ngân hàng điện tử không làm thay đổi bản chất của nền kinh tế thị trường. Điều đáng nói, các đối tượng chống phá thường cố ý lờ đi sự khác biệt này để tạo cảm giác rằng bất kỳ sự gia tăng năng lực quản lý nào của Nhà nước cũng đồng nghĩa với "kiểm soát xã hội". Đây là một kiểu suy diễn phi logic nhằm gây tâm lý bất an trong dư luận.

1.2. Ngụy biện đồng nhất hiện tượng với bản chất: Lấy công nghệ quản trị để quy kết mô hình phát triển

Một trong những ngụy biện đáng chú ý của luận điệu xuyên tạc "bao cấp kỹ thuật số" là việc cố tình đồng nhất hiện tượng với bản chất, lấy sự phát triển của công nghệ quản trị để quy kết bản chất mô hình phát triển của Việt Nam. Theo logic này, việc xây dựng cơ sở dữ liệu dân cư, định danh điện tử, quản trị bằng dữ liệu lớn hay tăng cường năng lực điều hành của Nhà nước bị diễn giải như dấu hiệu của sự "quay lại bao cấp" hoặc "kiểm soát xã hội kiểu mới".

Thoạt nhìn, cách lập luận ấy có vẻ hợp lý ở bình diện hiện tượng. Nhưng xét dưới góc độ khoa học chính trị và phép biện chứng duy vật, đây là một sai lầm phương pháp luận nghiêm trọng.

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, hiện tượng không đồng nhất với bản chất. Bản chất và hiện tượng là một cặp phạm trù vừa thống nhất vừa khác biệt. Bản chất phản ánh những mối liên hệ tất nhiên, tương đối ổn định, quyết định sự vận động của sự vật; còn hiện tượng chỉ là sự biểu hiện bên ngoài của bản chất trong những điều kiện cụ thể. Karl Marx từng chỉ ra rằng: "Nếu hình thức biểu hiện và bản chất trực tiếp trùng khớp với nhau thì mọi khoa học đều trở nên thừa"[5]. Điều đó có nghĩa, không thể chỉ căn cứ vào biểu hiện bề ngoài để kết luận về bản chất của một chế độ hay mô hình phát triển.

Nhà nước ứng dụng công nghệ để quản trị là hiện tượng quản lý, không phải bản chất của chế độ kinh tế, chính trị. Việc Việt Nam xây dựng cơ sở dữ liệu dân cư, định danh điện tử, số hóa thủ tục hành chính hay thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt bị bóp méo thành dấu hiệu của "kiểm soát toàn diện". Tuy nhiên, lập luận này bỏ qua thực tế rằng quản trị bằng dữ liệu là xu hướng phổ biến của mọi nhà nước hiện đại. Minh chứng đơn cử từ Singapore, Hàn Quốc đến các nước thuộc Liên minh châu Âu, việc tích hợp dữ liệu công dân và cung cấp dịch vụ công số đã trở thành nền tảng nâng cao hiệu quả quản trị. Không ai xem đó là biểu hiện của "bao cấp mới".

Hiện nay Đảng và Nhà nước ta đang tiếp tục hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng hội nhập, thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân, phát triển kinh tế số và đổi mới sáng tạo. Đại hội XIII tiếp tục khẳng định nhiệm vụ "Tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của thị trường"[6], đồng thời xác định: "Phát triển nhanh và bền vững dựa chủ yếu vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số"[7]. Tinh thần này tiếp tục được khẳng định trong định hướng của Đại hội XIV với trọng tâm: Phát triển kinh tế số, xã hội số, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực quản trị quốc gia hiện đại.

Những quan điểm, đường lối trên của Đảng cho thấy chuyển đổi số được đặt trong mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa kiến tạo phát triển, phục vụ nhân dân, chứ không phải gia tăng quản lý hành chính theo kiểu cũ. Việt Nam vừa phát triển kinh tế thị trường, vừa thúc đẩy chuyển đổi số. Không có bất kỳ luận cứ nào để suy diễn rằng ứng dụng công nghệ quản trị đồng nghĩa với quay lại mô hình bao cấp.

Đây là luận cứ phản bác trực diện luận điệu "quay lại bao cấp". Bởi lẽ, một quốc gia không thể đồng thời phát triển kinh tế thị trường, mở rộng hội nhập quốc tế, thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân, tham gia các hiệp định thương mại thế hệ mới… mà lại bị quy kết là "quay lại cơ chế bao cấp". Mặt khác, trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, xây dựng bộ máy nhà nước hiệu lực, hiệu quả luôn gắn với mục tiêu phục vụ nhân dân, chống quan liêu và giảm phiền hà. Người nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu: "Việc gì lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì hại cho dân phải hết sức tránh"[8].

Tinh thần ấy cho thấy, mọi cải tiến về tổ chức, quản lý hay công nghệ đều phải hướng tới phục vụ nhân dân tốt hơn. Nếu trước đây cải cách hành chính nhằm giảm giấy tờ, giảm cửa quyền, chống nhũng nhiễu thì trong điều kiện hiện nay, chuyển đổi số chính là sự tiếp nối logic ấy ở trình độ phát triển mới, đó là giảm trung gian, tăng tính công khai, chống tiêu cực và mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ công, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp. Hay nói cách khác, quản trị số hôm nay là phương tiện để thực hiện tốt hơn tinh thần "Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân", chứ không phải sự quay lại của cơ chế quản lý hành chính cũ.

Do đó, ngụy biện quy kết "quản trị số = kiểm soát = bao cấp" là sự đơn giản hóa cực đoan và cố tình đồng nhất hiện tượng với bản chất, không phải phản biện khoa học, mà là sự đánh tráo phương pháp luận nhằm dẫn dắt nhận thức sai lệch, thực chất là phủ nhận chính đường lối phát triển mà Đảng đã xác lập trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế. Do đó, việc lấy công nghệ quản trị để quy kết Việt Nam "quay lại bao cấp" là sự đánh tráo phạm trù giữa hiện tượng kỹ thuật và bản chất chính trị - kinh tế.

1.3. Ngụy biện cắt ghép thông tin, gieo rắc hoài nghi xã hội.

Đặc điểm nổi bật của các luận điệu chống phá hiện nay là không phủ nhận hoàn toàn sự thật, mà chọn lọc, cắt ghép một phần thông tin rồi diễn giải lệch hướng. Ví dụ như đã phân tích ở trên, khi Việt Nam thúc đẩy định danh điện tử, tích hợp dữ liệu hay tăng cường quản trị số, các đối tượng chống phá thường chỉ nhấn mạnh yếu tố "quản lý", trong khi cố tình bỏ qua lợi ích thực tiễn mà người dân được hưởng như: Giảm giấy tờ; rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục; tăng minh bạch; hạn chế tiêu cực và cơ chế xin cho. Đây là kiểu truyền thông đánh mạnh vào tâm lý lo ngại về công nghệ và quyền riêng tư nhằm dẫn dắt dư luận đến kết luận rằng Nhà nước đang "siết chặt kiểm soát". Thực chất, mục tiêu sâu xa không phải góp ý chính sách, mà là làm suy giảm niềm tin đối với hiệu quả quản trị và vai trò lãnh đạo của Đảng. Đây là là thủ đoạn tuyên truyền tinh vi bởi nó dựa trên một phần sự thật để dẫn tới kết luận sai lệch mang định kiến chính trị.

Tóm lại, luận điệu "bao cấp kỹ thuật số" được xây dựng trên chuỗi ngụy biện gồm đánh tráo khái niệm, đồng nhất hiện tượng với bản chất và cắt ghép thông tin để dẫn tới kết luận chính trị có sẵn theo ý đồ của thế lực phản động. Đây không phải phản biện khoa học, mà là một hình thức xuyên tạc mới nhằm phủ nhận thành tựu đổi mới và gây hoài nghi xã hội trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia.

Từ nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm nhất quán của Đảng trong các văn kiện Đại hội toàn quốc có thể khẳng định: Chuyển đổi số ở Việt Nam là biểu hiện của hiện đại hóa quản trị quốc gia và phát triển lực lượng sản xuất mới, không phải sự quay trở lại của cơ chế bao cấp dưới bất kỳ hình thức nào.

2. THỰC TIỄN VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI: CHUYỂN ĐỔI SỐ LÀ ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN, KHÔNG PHẢI SỰ QUAY LẠI CỦA CƠ CHẾ BAO CẤP

2.1. Thực tiễn Việt Nam

Thực tiễn luôn là tiêu chuẩn khách quan để kiểm nghiệm chân lý. Nếu luận điệu cho rằng Việt Nam đang "quay lại thời kỳ bao cấp dưới hình hài kỹ thuật số" là đúng, thì những biểu hiện của nền kinh tế và quản trị quốc gia phải cho thấy sự thu hẹp của thị trường, suy giảm động lực cạnh tranh. Tuy nhiên, thực tế phát triển của Việt Nam trong những năm gần đây lại cho thấy điều hoàn toàn ngược lại.

Trước hết, chuyển đổi số đang góp phần thúc đẩy mạnh mẽ tăng trưởng kinh tế và đổi mới mô hình phát triển. Việt Nam hiện là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế số nhanh ở khu vực Đông Nam Á. Theo nhiều báo cáo quốc tế, quy mô kinh tế số Việt Nam liên tục tăng trưởng hai con số, trở thành động lực quan trọng thúc đẩy thương mại điện tử, tài chính số, logistics và đổi mới sáng tạo (10 năm sau thống nhất, Việt Nam thuộc nhóm 20 nước nghèo nhất thế giới, nhưng nay vươn lên xếp thứ 32 toàn cầu và đứng thứ 4 trong khu vực ASEAN so với[9]). Nếu "bao cấp hóa" đang diễn ra, rất khó lý giải vì sao khu vực kinh tế tư nhân, doanh nghiệp công nghệ và các mô hình kinh doanh số và kết quả kinh tế đất nước lại phát triển mạnh mẽ như hiện nay.

Thứ hai, chuyển đổi số nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia và chất lượng phục vụ nhân dân. Một thực tế khó phủ nhận là chuyển đổi số đang góp phần nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia và chất lượng phục vụ người dân. Những năm gần đây, Việt Nam đã đẩy mạnh xây dựng Chính phủ số thông qua việc triển khai Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, định danh điện tử VNeID… Việc số hóa dữ liệu và quy trình giải quyết thủ tục hành chính đã giúp rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, giảm giấy tờ, giảm chi phí tuân thủ và tăng tính công khai, minh bạch. Nhiều dịch vụ công hiện được thực hiện trực tuyến, tạo thuận lợi hơn cho người dân và doanh nghiệp trong tiếp cận các dịch vụ của Nhà nước.

Đáng chú ý, chuyển đổi số còn góp phần chuẩn hóa quy trình quản lý, tăng cường khả năng giám sát và hạn chế những biểu hiện nhũng nhiễu, tiêu cực trong hoạt động công vụ. Những kết quả đó phản ánh xu hướng hiện đại hóa nền hành chính quốc gia, hoàn toàn không phải sự quay trở lại của cơ chế bao cấp.

Thứ ba, chuyển đổi số thúc đẩy kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Thực tiễn phát triển của Việt Nam cho thấy chuyển đổi số đang được triển khai đồng thời với quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Việt Nam hiện là thành viên của nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, mở rộng thu hút đầu tư nước ngoài, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân và đổi mới sáng tạo.

Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trở thành công cụ quan trọng giúp giảm chi phí giao dịch, nâng cao tính minh bạch của thị trường, mở rộng cơ hội tiếp cận dịch vụ và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nhiều chỉ số quốc tế ghi nhận sự cải thiện của Việt Nam về môi trường kinh doanh, đổi mới sáng tạo và phát triển chính phủ điện tử[10]. Sự phát triển nhanh của thương mại điện tử, kinh tế nền tảng, thanh toán số và các doanh nghiệp công nghệ là minh chứng rõ nét cho xu hướng này.

Nếu nền kinh tế đang quay trở lại cơ chế bao cấp, tất yếu sẽ xuất hiện sự thu hẹp của thị trường, hạn chế cạnh tranh và gia tăng sự can thiệp hành chính vào hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, thực tiễn Việt Nam không cho thấy dấu hiệu này. Điều đó khẳng định chuyển đổi số đang góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường và mở rộng hội nhập quốc tế

2.1. Thực tiễn thế giới

Nhìn sang kinh nghiệm quốc tế, cụ thể từ thực tiễn của Trung Quốc - một đất nước có điểm tương đồng nhất định về lịch sử phát triển, định hướng xã hội chủ nghĩa và quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa sang kinh tế thị trường như ở Việt Nam, ta có thể kiểm chứng tính đúng - sai của luận điệu cho rằng quản trị số đồng nghĩa với "quay lại bao cấp".

Nếu lập luận "số hóa quản trị sẽ dẫn tới bao cấp hóa" là đúng, thì Trung Quốc, một quốc gia triển khai chuyển đổi số ở quy mô rất lớn, phải là ví dụ điển hình của sự quay trở lại mô hình bao cấp. Nhưng thực tế diễn ra hoàn toàn ngược lại. Trong hơn một thập niên qua, Trung Quốc thúc đẩy mạnh chiến lược Digital China (Kế hoạch tổng thể xây dựng Trung Quốc kỹ thuật số) và Chính sách Internet + Government Services (Internet và dịch vụ chính phủ) nhằm tích hợp dữ liệu, số hóa dịch vụ công, phát triển đô thị thông minh và nâng cao năng lực quản trị quốc gia. Công nghệ số được ứng dụng sâu rộng trong hành chính công, thanh toán điện tử, logistics, thương mại điện tử và quản trị đô thị… góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tăng trưởng kinh tế. Theo Bảng xếp hạng các nền kinh tế lớn nhất năm 2025, Trung Quốc tiếp tục đứng thứ hai dù quy mô kinh tế chỉ bằng khoảng 50% của Mỹ[11]. GDP năm 2025 đạt 140.187,9 tỷ nhân dân tệ, trong đó GDP bình quân đầu người năm 2025 đạt 43.377 nhân dân tệ, tăng 5% so năm trước[12]. Trung Quốc đang là một trong những quốc gia dẫn đầu về phát triển kinh tế số. Quy mô kinh tế số của Trung Quốc đạt 53,9 nghìn tỷ nhân dân tệ, tỷ trọng kinh tế số trong GDP của Trung Quốc đã đạt mức 42,8% vào năm 2023, tăng trưởng 7,4% so với năm trước đó[13]. Các tập đoàn công nghệ như Alibaba Group, Tencent hay Huawei trở thành động lực thúc đẩy thương mại điện tử, đổi mới công nghệ và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Liên hệ các quốc gia khác như Hoa Kỳ, Singapore và các quốc gia ở Đông Âu, ta thấy rõ những bước tiến mạnh mẽ trong việc phát triển kinh tế số, giúp nâng cao năng suất lao động và thúc đẩy sự sáng tạo trong các lĩnh vực công nghệ.

Sai lầm căn bản của luận điệu "bao cấp kỹ thuật số" là đồng nhất năng lực quản trị hiện đại của Nhà nước với mô hình kinh tế bao cấp. Trong khi thực tế quốc tế cho thấy, càng ứng dụng mạnh công nghệ số, quốc gia càng tăng tính minh bạch, giảm chi phí giao dịch và mở rộng không gian phát triển thị trường. Và thực tiễn Trung Quốc là một minh chứng điển hình. Vì vậy, luận điệu "bao cấp kỹ thuật số" không vượt qua được phép kiểm chứng của thực tiễn quốc tế.

3. LIÊN HỆ THỰC TIỄN QUẢNG NINH: MINH CHỨNG SINH ĐỘNG BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC

Ở cấp độ địa phương, Quảng Ninh là một minh chứng tiêu biểu cho thấy chuyển đổi số đang tạo động lực phát triển và nâng cao hiệu quả quản trị. Một trong những dấu ấn nổi bật là mô hình Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh Quảng Ninh với cơ chế "một cửa", liên thông dữ liệu và số hóa thủ tục hành chính. Người dân và doanh nghiệp có thể thực hiện nhiều thủ tục trực tuyến, giảm đáng kể thời gian, chi phí và sự phụ thuộc vào quy trình hành chính thủ công. Kết quả, Quảng Ninh duy trì vị thế đứng đầu cả nước về chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) và chỉ số cải cách hành chính (PAR Index) trong gần một thập kỷ cùng với việc xác lập kỷ lục về sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp (SIPAS) đạt 96,5% vào quý I/2026[14], đây là minh chứng đanh thép nhất.

Bên cạnh đó, cụ thể hóa Nghị quyết số 57- NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Quảng Ninh đã định hình một phương thức quản trị mang tính cách mạng. Riêng nguồn lực đầu tư chi thường xuyên năm những tháng đầu năm 2026 vượt trên 1089 tỷ đồng[15] cho thấy tỉnh đã chuyển hóa các lời hứa chính trị thành thuật toán quy trình kỹ thuật bắt buộc trên không gian số. Thực hiện Hệ thống quản trị số và Trung tâm điều hành thông minh (IOC) cho phép lãnh đạo truy vết trách nhiệm... Đây là những chỉ báo quan trọng phản ánh chất lượng điều hành và môi trường phát triển của địa phương. Kết quả, Quảng Ninh tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế thuộc nhóm cao của cả nước, thu hút mạnh đầu tư vào công nghiệp, dịch vụ, du lịch và logistics.. Ngay trong quý I năm 2026, tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh đạt 12,08% - đứng thứ hai cả nước[16].

Thực tiễn Quảng Ninh cho thấy chuyển đổi số không làm gia tăng sự lệ thuộc vào bộ máy hành chính, mà góp phần nâng cao năng lực quản trị, cải thiện môi trường đầu tư và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Đây là minh chứng sinh động bác bỏ luận điệu xuyên tạc về cái gọi là "bao cấp kỹ thuật số".

4. HÀM Ý VÀ GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU "BAO CẤP KỸ THUẬT SỐ"

Trước những thủ đoạn xuyên tạc ngày càng tinh vi trên không gian mạng, đấu tranh phản bác luận điệu "bao cấp kỹ thuật số" cần được tiến hành chủ động, sắc bén, kiên trì và trên cơ sở khoa học.

Trước hết, cần tiếp tục nâng cao nhận thức lý luận cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về bản chất của chuyển đổi số, kinh tế số và quản trị số; từ đó tăng sức đề kháng trước các thông tin sai lệch, luận điệu đánh tráo khái niệm và xuyên tạc đường lối phát triển của đất nước.

Thứ hai, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền và truyền thông chính sách theo hướng kịp thời, minh bạch và lấy dữ liệu thực tiễn làm cơ sở thuyết phục. Mỗi thành tựu trong chuyển đổi số, cải cách hành chính và phát triển kinh tế - xã hội cần được chuyển hóa thành những minh chứng sinh động để củng cố niềm tin xã hội. Khi người dân trực tiếp hưởng lợi, các luận điệu xuyên tạc sẽ dần mất sức thuyết phục.

Thứ ba, phát huy vai trò của báo chí, đội ngũ giảng viên lý luận chính trị, nhà khoa học và lực lượng nòng cốt trên không gian mạng trong việc định hướng dư luận, lan tỏa thông tin tích cực và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Các nội dung lý luận cần được chuyển hóa thành sản phẩm truyền thông ngắn gọn, dễ tiếp cận và có sức lan tỏa xã hội cao.

Cuối cùng, tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia, bảo đảm an ninh mạng, an toàn dữ liệu và quyền lợi hợp pháp của người dân trong quá trình chuyển đổi số. Thực tiễn phát triển hiệu quả, minh bạch và vì Nhân dân chính là câu trả lời thuyết phục nhất đối với mọi luận điệu xuyên tạc.

KẾT LUẬN

Lý luận và thực tiễn đều khẳng định, chuyển đổi số ở Việt Nam là động lực của hiện đại hóa quản trị quốc gia, phát triển lực lượng sản xuất và hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hướng tới phục vụ người dân và xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Vì vậy, luận điệu cho rằng Việt Nam đang "lùi lại thời kỳ bao cấp dưới hình hài kỹ thuật số" chỉ là sự ngụy biện, xuyên tạc nhằm phủ nhận thành tựu đổi mới và gieo rắc hoài nghi xã hội. Đấu tranh bác bỏ những quan điểm sai trái đó là yêu cầu cần thiết để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, củng cố niềm tin của Nhân dân và tạo đồng thuận xã hội trong quá trình phát triển đất nước.

Phạm Khánh Phương

Trường chính trị Vũ Văn Hiếu thành phố Quảng Ninh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 12, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 470.

2. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 4, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011

3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội XIII, Tập I, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021,

4 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội XIV, Tập I, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026.

5. Đản bộ tỉnh Quảng Ninh, Văn kiện Đại hội XVI.

6. Karl Marx, Tư bản, Quyển III, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.

7. Ban Chỉ đạo Cải cách hành chính tỉnh Quảng Ninh: Báo cáo phân tích chỉ số PAR Index, SIPAS và PCI tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2025 – quý I/2026, Quảng Ninh, 2026.

8. Cổng thông tin điện tử Quảng Ninh: (http://www.quangninh.gov.vn)

9. Báo quốc tế (https://baoquocte.vn)

10. Báo nhân dân: (https://nhandan.vn)

11. Cục thông tin, thống kê, Bộ khoa học và công nghệ: (https://vista.gov.vn).

12. Báo điện tử Chính phủ (http://xaydungchinhsach.chinhphu.vn)

    http://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-phat-bieu-cua-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-tai-cuoc-hop-thuong-truc-tieu-ban-van-kien-dai-hoi-xiv-cua-dang-119240813174024039.htm

    Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 12, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 470.

    Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội XIII, Tập I, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, T1, tr. 214.

    Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội XIII, Tập I, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 115-116

    Karl Marx, Tư bản, Quyển III, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.

    Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội XIII, Tập I, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, Tr. 128.

    Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội XIII, Tập I, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, 2021, tr. 214.

    Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 4, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 51.

    Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập II, tr 15, tr.114.

    Báo cáo của Liên Hợp Quốc về Chính phủ điện tử; Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII).

    https://baoquocte.vn/10-nen-kinh-te-lon-nhat-the-gioi-nam-2025-mot-quoc-gia-chau-au-vuon-len-manh-me-nga-gay-bat-ngo-335111.html

    https://nhandan.vn/trung-quoc-gdp-nam-2025-vuot-moc-140000-ty-nhan-dan-te-tang-truong-5-post937807.html

    https://vista.gov.vn/vi/news/khoa-hoc-nhan-van/ty-trong-kinh-te-so-trong-gdp-xu-huong-va-thach-thuc-toan-cau-11149.html

    Ban Chỉ đạo Cải cách hành chính tỉnh Quảng Ninh: Báo cáo phân tích chỉ số PAR Index, SIPAS và PCI tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2025 – quý I/2026, Quảng Ninh, 2026.

    Cổng thông tin điện tử Quảng Ninh: Nền tảng cho chuyển đổi số toàn diện, https://www.quangninh.gov.vn/donvi/vandon/Trang/ChiTietTinTuc.aspx?nid=3416, ngày 13/5/2026.

    Cổng thông tin điện tử Quảng Ninh: Nền tảng cho chuyển đổi số toàn diện, https://www.quangninh.gov.vn/donvi/vandon/Trang/ChiTietTinTuc.aspx?nid=3416, ngày 13/5/2026.