PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ QUYỀN RIÊNG TƯ CỦA TRẺ EM TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

Thứ năm, 19/03/2026 - 11:10

Thời gian qua, pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền riêng tư của trẻm em trên không gian mạng (KGM) đã được quan tâm bổ sung, từng bước hoàn thiện, tuy nhiên bên cạnh những ưu điểm, cũng còn có những hạn chế, bất cập đòi hỏi cần phải tiếp tục được nghiên cứu một cách có hệ thống, làm cơ sở cho việc đưa ra các định hướng, biện pháp bổ sung, hoàn thiện. Bài viết chỉ rõ nhận thức pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền riêng tư của trẻ em trên KGM; khảo sát, làm rõ thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền riêng tư của trẻ em trên KGM; từ đó đưa ra các định hướng, biện pháp nhằm tiếp tục bổ sung, hoàn thiện quy định của pháp luật về vấn đề này thời gian tới.

1. Quyền riêng tư là một trong các quyền cơ bản của con người, đây là quyền có liên quan đến danh dự, nhân phẩm của con người, là quyền bất khả xâm phạm về cuộc sống riêng tư, những bí mật của cá nhân, được pháp luật ghi nhận và bảo hộ thực hiện. Trên bình diện quốc tế, quyền riêng tư chính thức được ghi nhận lần đầu tiên trong Tuyên bố quốc tế về Nhân quyền năm 1948 và được đề cập một cách chi tiết, cụ thể tại Điều 8 của Công ước về bảo vệ nhân quyền và những quyền tự do cơ bản của con người năm 1950 [6]. Đối với trẻ em, những người thuộc nhóm yếu thế trong xã hội, chưa có sự phát triển đầy đủ về thể chất, nhận thức, chưa có kỹ năng bảo vệ mình trước những hành vi tác động, xâm hại từ bên ngoài, việc bảo đảm quyền riêng tư càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Quyền riêng tư của trẻ em được hiểu là quyền được bảo vệ thông tin cá nhân, những bí mật cá nhân, bí mật gia đình và các thông tin khác trước những yếu tố, nguy cơ xâm hại.

Trong những năm gần đây, sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học, công nghệ đã dẫn đến sự xuất hiện của KGM, đây là không gian ảo được tạo ra trên cơ sở sự phát triển của khoa học và công nghệ, cho phép con người kết nối, chia sẻ thông tin và thực hiện các hành vi xã hội khác như ở thế giới thực mà không bị giới hại về mặt không gian địa lý. Bên cạnh những lợi ích mang đến đối với nhân loại, không gian mạng cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ, thách thức đến quyền con người, nhất là quyền riêng tư của trẻ em trên không gian mạng. Hành vi xâm hại quyền riêng tư của trẻ em rất đa dạng, song thể hiện chủ yếu ở một số dạng như: thu thập, chiếm đoạt trái phép dữ liệu cá nhân (họ tên, tuổi, địa chỉ, hình ảnh, tài khoản mạng xã hội…) hoặc nghiêm trọng hơn là sử dụng các thông tin đó để xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của trẻ em hoặc sử dụng các thông tin đó vào mục đích thực hiện hành vi phạm tội [1].

2. Thực tế đó đòi hỏi cần phải không ngừng bổ sung, hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền riêng tư của trẻ em trên không gian mạng, tạo cơ sở pháp lý cho các cơ quan chức năng trong triển khai công tác phòng ngừa, phát hiện và đấu tranh xử lý các hành vi xâm phạm đến quyền riêng tư của trẻ em, góp phần bảo đảm an ninh, an toàn môi trường mạng. Nghiên cứu cũng cho thấy, từ những ngày đầu thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Đảng và Nhà nước ta đã luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến việc hoàn thiện thể chế, chính sách nhằm bảo đảm quyền con người nói chung, quyền trẻ em nói riêng, trong đó có quyền riêng tư của trẻ em.

Đáng chú ý, ngày 20/02/1990, Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở châu Á và quốc gia thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em. Sự kiện này không chỉ cho thấy sự quan tâm của Đảng, Nhà nước trong bảo vệ quyền trẻ em mà đó còn thể hiện rõ tư duy tích cực, chủ động hội nhập, học tập kinh nghiệm, kỹ năng lập pháp của các nước để không ngừng bổ sung, hoàn thiện các quy định của pháp luật nước nhà, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi và nâng cao hiệu quả các biện pháp bảo vệ quyền trẻ em, trong đó có quyền riêng tư của trẻ em trên không gian mạng.

PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ QUYỀN RIÊNG TƯ  CỦA TRẺ EM TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG  - Ảnh 1.

Tính đến thời điểm hiện tại, pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền riêng tư của trẻ em trên không gian mạng đã được hình thành và tương đối đồ sộ, với hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, đứng đầu là Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tiếp đến là hệ thống các văn bản luật, như Luật Trẻ em năm 2016, Luật An ninh toàn thông tin mạng năm 2015, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Luật An ninh mạng năm 2018… sau đó là hệ thống các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, như: Nghị định số 174/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện; Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định về phạt tiền với hành vi tiết lộ hoặc phát tán tư liệu, tài liệu thuộc bí mật đời tư; Nghị định 13/2023/NĐ-CP về bảo vệ dữ liệu cá nhân; Nghị định 119/2020/NĐ-CP quy định về xử phạt hành chính trong hoạt động báo chí, hoạt động xuất bản…

Mặc dù không hình thành một ngành luật độc lập, song cho đến nay, pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền riêng tư của trẻ em trên KGM đã đạt được nhiều kết quả rất tích cực, thể hiện ở các khía cạnh chủ yếu như:

Một là, pháp luật Việt Nam đã quy định cụ thể các quyền của trẻ em trên KGM. Đây là nội dung rất quan trọng, là cơ sở cho việc nhận thức và hành động đúng để bảo vệ quyền riêng tư của trẻ em trên KGM. Đáng chú ý, Điều 21 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, văn bản pháp lý cao nhất của Nhà nước thừa nhận trẻ em có: "quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình. Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đìưnh được pháp luật bảo đảm an toàn" [2]. Cùng với đó, Luật Trẻ em năm 2016, văn bản luật quy định trực tiếp về quyền trẻ em đã liệt kê 25 quyền của trẻ em, trong đó tại Điều 21 chỉ rõ: "Trẻ em có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình vì lợi ích tốt nhất của trẻ em; Trẻ em được pháp luật bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác; được bảo vệ và chống lại sự can thiệp trái pháp luật đối với thông tin riêng tư" [3]. Ngoài ra, các văn bản quy phạm pháp luật khác, ở các khía cạnh, góc độ khác cũng đã đưa ra các quy định cụ thể xác định rõ quyền trẻ em, trong đó có quyền riêng tư; qua đó tạo cơ sở cho việc triển khai các biện pháp bảo vệ của cơ quan chức năng đối với từng biểu hiện cụ thể của quyền riêng tư của trẻ em trên KGM.

Hai là, pháp luật Việt Nam khẳng định rõ quyền được bảo vệ, tiếp cận thông tin của trẻ em, là cơ sở cho việc bảo vệ quyền riêng tư của trẻ em trên KGM. Tại Điều 29 Luật An ninh mạng năm 2018 chỉ rõ: "Trẻ em có quyền được bảo vệ, tiếp cận thông tin và tham gia hoạt động xã hội, vui chơi, giải trí, quyền bí mật đời sống riêng tư và các quyền trẻ em khác khi tham gia trên môi trường mạng" [5]. Quy định này đặt ra những yêu cầu, đòi hỏi đối với các cơ quan chức năng trong việc phải bảo đảm trẻ em được tiếp cận thông tin như là một trong những quyền cơ bản, tự thân; đây không chỉ thể hiện sự quan tâm, chú trọng đến việc bảo vệ quyền trẻ em, trong đó có quyền riêng tư trên KGM mà còn đặt ra yêu cầu đối với việc bảo vệ an ninh, an toàn cho trẻ em khi thực hiện quyền cơ bản đó.

Ba là, pháp luật Việt Nam quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong bảo vệ quyền riêng tư của trẻ em trên KGM. Hiện nay, pháp luật Việt Nam đã quy định rất cụ thể về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, tập trung vào các nhóm như: cơ quan, tổ chức, cá nhân quản lý, cung cấp sản phẩm, dịch vụ thông tin, truyền thông và tổ chức các hoạt động trên môi trường mạng[1]; cơ quan, tổ chức, cha mẹ, giáo viên, người chăm sóc trẻ em và các cá nhân khác có liên quan. Trong đó, pháp luật Việt Nam nhấn mạnh việc bảo vệ quyền riêng tư của trẻ em là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; đồng thời xác định rõ vai trò, nhiệm vụ của các cơ quan chức năng, trong đó có lực lượng Công an nhân dân, lực lượng nòng cốt, chủ trì công tác bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm trong bảo vệ quyền riêng tư của trẻ em trên KGM.

Bốn là, pháp luật Việt Nam quy định rõ biện pháp xử lý đối với các hành vi xâm phạm quyền riêng tư của trẻ em trên KGM. Bên cạnh những quy định mang tính chỉ dẫn nêu trên, pháp luật Việt Nam cũng có những quy định rất cụ thể về biện pháp xử lý, khung hình phạt đối với các hành vi xâm phạm quyền riêng tư nói chung và quyền riêng tư của trẻ em nói riêng trên KGM, cụ thể như:

Đối với biện pháp xử phạt vi phạm hành chính được quy định cụ thể tại Nghị định số 174/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện. Theo đó, Theo đó, phạt hành chính bằng tiền đối với các hành vi xâm phạm trang thông tin điện tử; tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng xã hội liên quan đến tiết lộ bí mật đời tư hoặc bí mật khác khi chưa được sự đồng ý của cá nhân, tổ chức có liên quan trừ trường hợp pháp luật quy định, trong đó đối tượng áp dụng được bảo vệ có cá nhân là trẻ em. Nghị định xác định trách nhiệm hành chính đối với vi phạm quy định về bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và hỗ trợ người sử dụng sản phẩm, dịch vụ công nghệ thông tin có liên quan tới trẻ em.

Đối với biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật hình sự, Điều 288 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) đề cập đến một số hành vi vi phạm pháp luật hình sự cụ thể như: mua bán, trao đổi, tặng cho, sửa chữa, thay đổi hoặc công khai hóa thông tin riêng hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân (trong đó có trẻ em) trên mạng máy tính, mạng viễn thông mà không được phép của chủ sở hữu thông tin đó; hành vi xâm phạm bí mật hoặc an toàn điện thoại, thư, điện tín, hoặc các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác, hoặc tội làm nhục người khác. Trong các hành vi vi phạm này, pháp luật Việt Nam quy định rõ các khung hình phạt cụ thể sẽ được áp dụng, bao gồm cả hình phạt bổ sung (nếu có). Chẳng hạn như tại Điều 159 Bộ luật Hình sự quy định về tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác nhấn mạnh sau khi đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính về việc "xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín, telex, fax hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác" phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm, tình tiết tăng nặng khi vi phạm có tổ chức, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, phạm tội 02 lần trở lên thì sẽ bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm [4].

3. Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, nghiên cứu cũng cho thấy, pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền riêng tư của trẻ em trên KGM cũng còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập, cụ thể như:

- Một số quy định của pháp luật Việt Nam về quyền riêng tư của trẻ em trên KGM còn chưa tương thích với các công ước quốc tế có liên quan đến quyền trẻ em. Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở châu Á và thứ hai trên thế giới tham gia Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em và phê chuẩn các nghị định thư bổ sung. Tuy nhiên, một số nội dung trong quy định của pháp luật Việt Nam và Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em chưa có sự tương thích. Chẳng hạn, Công ước quốc tế xác định "người dưới 18 tuổi trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn"; trong khi đó, Luật Trẻ em năm 2016 là văn bản luật trực tiếp quy định về quyền trẻ em của Việt Nam xác định: trẻ em là người dưới 16 tuổi; người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi mặc dù là người chưa thành nhiên nhưng không phải là trẻ em.

- Cơ chế bảo vệ quyền riêng tư của trẻ em trên KGM chưa được quy định với tư cách là một cơ chế bảo vệ riêng, mà còn nằm trong cơ chế bảo vệ chung của quyền riêng tư. Do đó, dẫn đến tình trạng khi có vụ việc xâm phạm quyền riêng tư của trẻ em trên không gian mạng, việc xử lý vi phạm, khắc phục hậu quả còn chậm, do chưa có quy định về tính đặc thù của trẻ em, đối tượng dễ bị tổn thương bởi các hành vi, yếu tố xâm hại trên KGM. Bên cạnh đó, cơ chế bảo vệ quyền riêng tư của trẻ em trên KGM còn bộc lộ những khoảng trống, chẳng hạn như mặc dù Bộ luật Hình sự hiện hành quy định về các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, danh dự của con người, tuy nhiên việc áp dụng quy định này vào thực tiễn xử lý các vụ việc xâm hại tình dục trẻ em gặp nhiều khó khăn, do chưa có quy định riêng về quá trình tổ chức các hoạt động thu thập chứng cứ đối với trẻ em với tư các là nạn nhân trong các vụ việc này. Ngoài ra, còn thiếu các quy định cụ thể về bảo mật thông tin, bí mật riêng tư cho trẻ em trong hoạt động tố tụng hoặc còn tình trạng một số cơ quan báo chí đăng tải quá chi tiết các thông tin về vụ việc xâm hại trẻ em, làm lộ thông tin bí mật, hình ảnh riêng tư của trẻ em trên không gian mạng hoặc còn tình trạng một số người chứng kiến các hành vi xâm hại trẻ em chụp ảnh, quay phim đăng tải trên các tài khoản mạng xã hội nhằm lên án các hành vi xâm hại trẻ em nhưng vô hình xâm phạm đến quyền riêng tư của trẻ em trên KGM.

- Các quy định về xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền riêng tư của trẻ em nằm trong các quy định chung, chưa có những quy định riêng có tính đặc thù đối với việc xử lý các hành vi xâm phạm quyền riêng tư của chủ thể đặc biệt, dễ bị tổn thương là trẻ em. Hiện nay, để xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi xâm phạm quyền riêng tư của trẻ em trên KGM chủ yếu áp dụng quy định tại Nghị định số 14/2022/NĐ-CP ngày 27/01/2022 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 15/2020/NĐ-CP ngày 03/02/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử và Nghị định số 119/2020/NĐ-CP ngày 07/10/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, hoạt động xuất bản. Tuy nhiên, chưa có quy định cụ thể trong xử phạt đối với trẻ em, dẫn đến quá trình áp dụng pháp luật vào thực tiễn gặp nhiều khó khăn, lúng túng.

4. Việc bổ sung, hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền riêng tư của trẻ em trên KGM là yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết hiện nay, nhất là trong bối cảnh tình hình hoạt động của các loại tội phạm sử dụng công nghệ cao, trong đó có các hành vi xâm phạm đến quyền riêng tư của trẻ em trên KGM ở Việt Nam tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp và Việt Nam đang nỗ lực xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Do đó, thời gian tới, việc bổ sung, hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền riêng tư của trẻ em trên KGM cần tập trung vào các nội dung trọng tâm cụ thể sau đây:

Một là, sửa đổi, bổ sung một số quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền riêng tư của trẻ em trên KGM để tương thích với các quy định của pháp luật quốc tế và chú trọng nghiên cứu, tham khảo các quy định của một số nước nhằm bổ sung, hoàn thiện các quy định của pháp luật. Thời gian tới, các cơ quan chức năng cần tập trung sửa đổi, bổ sung vào một số văn bản luật cụ thể như: Luật Trẻ em năm 2016 cần tính toán nâng độ tuổi trẻ em lên 18 tuổi để tương thích với quy định của pháp luật quốc tế. Tính toán nội luật hoá quy định tại United Nations Convention on the Rights of the Child - Công ước Liên hợp quốc về Quyền của trẻ em, trong đó xác định rõ nội dung "khiêu dâm trẻ em" để tách biệt rõ với nội dung "khiêu dâm, đồi truỵ" đã được quy định trong Bộ luật Hình sự hiện hành, tạo cơ sở cho việc áp dụng, xử lý đảm bảo phù hợp với tính chất, mức độ hành vi vi phạm. Bên cạnh đó, có thể nghiên cứu, áp dụng một số quy định pháp luật của các nước tiên tiến để bổ sung, hoàn thiện pháp luật. Chẳng hạn như có thể bổ sung hành vi "bắt nạt trẻ em" trên KGM như là một dạng hành vi xâm hại đối với trẻ em, bởi lẽ hành vi này cũng khiến cho nạn nhân (trẻ em) cảm thấy đau đớn về thể chất hoặc tinh thần. Có thể nghiên cứu, tìm hiểu các quy định của Nhật Bản, Singapore, Mỹ… nhằm bổ sung, hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền riêng tư của trẻ em thời gian tới.

Hai là, bổ sung, hoàn thiện một số nội dung quy định cụ thể trong pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền con người bảo đảm sát hợp và khả thi trong thực tiễn. Bên cạnh việc bổ sung hành vi "khiêu dâm trẻ em" trong Bộ luật Hình sự, cần quy định rõ hơn các hành vi xâm hại thân thể như: hành vi xâm hại tình dục; hành vi bạo lực; hành vi bôi nhọ danh dự nhân phẩm... Về pháp luật tố tụng hình sự, tính toán xây dựng, bổ sung quy định về bảo quản dữ liệu điện tử nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý, khai thác, sử dụng dữ liệu phục vụ công phòng, chống tội phạm, qua đó góp phần bảo vệ quyền riêng tư của trẻ em trên KGM. Ngoài ra, cần rà soát, bổ sung, hoàn thiện quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật khác, chẳng hạn như đối với Luật An ninh mạng có thể quy định các vấn đề xử lý thông tin, nhận dạng, hỗ trợ, giám định đối với trẻ em có nguy cơ hoặc bị xâm hại trên KGM; trách nhiệm và sự phối hợp của các cơ quan chức năng trong phòng, chống hành vi xâm phạm quyền riêng tư của trẻ em trên KGM.

Ba là, chú trọng hoàn thiện Bộ quy tắc xử sự trên không gian mạng ở Việt Nam. Ngày 17/6/2021, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành Quyết định số 874/QĐ-BTTTT ban hành Bộ quy tắc ứng xử trên mạng xã hội. Tuy nhiên, nhìn chung Bộ quy tắc mới chỉ dừng lại ở những vấn đề chung nhất, chưa có các quy định mang tính chỉ dẫn cụ thể tạo thuận lợi cho quá trình triển khai thực hiện. Do đó, thời gian tới, các cơ quan chức năng cần nghiên cứu, tham khảo các quy định pháp luật của một số quốc gia trên thế giới có nhiều kinh nghiệm trong lập pháp về lĩnh vực này để tham khảo, vận dụng vào thực tiễn Việt Nam cho phù hợp. Chẳng hạn như: hiện nay Bộ quy tắc ứng xử của Liên minh châu Âu đưa ra quy tình xem xét thông báo và xử lý thông tin gây thù hận, nói xấu bất hợp pháp trên mạng: "Khi nhận được báo cáo từ người dùng, các công ty Công nghệ thông tin phải đối chiếu với quy định và pháp luật của nước đó, loại bỏ thông tin bất hợp pháp trong một khoảng thời gian (24 giờ) hoặc vô hiệu hóa quyền truy cập vào nội dung này nếu cần thiết. Ngoài ra, các công ty này cũng phải hướng dẫn người dùng nhận thức về các nội dung trái phép thông qua hệ thống công cụ riêng". Vấn đề này cần được các cơ quan chức năng Việt Nam nghiên cứu, vận dụng để nâng cao tính hiệu quả, khả thi của Bộ quy tắc ứng xử trên KGM ở Việt Nam, qua đó góp phần bảo vệ quyền riêng tư của trẻ em trên KGM.

Bốn là, bổ sung, hoàn thiện quy định về quyền, nghĩa vụ (trách nhiệm, quyền hạn) và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong bảo vệ quyền riêng tư của trẻ em trên KGM. Các cơ quan chức năng cần rà soát các quy định của hệ thống pháp luật hiện hành về vấn đề này để đánh giá sự phù hợp, tính thống nhất, kịp thời phát hiện những điểm bất cập, mâu thuẫn để bổ sung, sửa đổi. Bám sát chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân để xác định quyền, nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cho phù hợp. Quy định về quyền, nghĩa vụ cần cụ thể, chi tiết, rõ vai trò của người đứng đầu, cán bộ chuyên trách trong thực hiện các biện pháp, công tác cụ thể. Quan tâm bổ sung, hoàn thiện các quy định làm rõ quyền, nghĩa vụ của các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức xã hội trong công tác này, đặc biệt là vai trò của nhà trường, gia đình, đây là những chủ thể quan trọng, có tác động, ảnh hưởng lớn đến việc nâng cao nhận thức, trang bị kỹ năng cho trẻ em trong bảo vệ quyền riêng tư trên KGM. Ngoài ra, cần bổ sung, hoàn thiện các quy định về quyền, nghĩa vụ của nhà cung cấp dịch vụ mạng xuyên biên giới trong bảo vệ quyền riêng tư của trẻ em trên KGM, nhất là khắc phục tình trạng "không hành động" của các tổ chức này.

Bổ sung, hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền riêng tư của trẻ em trên KGM vừa là yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết từ thực tiễn, vừa là nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa và phát hiện, xử lý các hành vi xâm phạm đến quyền riêng tư của trẻ em thời gian tới. Do đó, những định hướng, biện pháp được chỉ ra trong bài viết này là cơ sở định hướng quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả công tác này thời gian tới./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Báo cáo tổng kết công tác bảo đảm an ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (các năm từ 2020 đến 2025).

2. Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

3. Quốc hội (2016), Luật Trẻ em năm 2016, Nxb Tư pháp, Hà Nội.

4. Quốc hội (2017), Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Nxb Tư pháp, Hà Nội.

5. Quốc hội (2018), Luật An ninh mạng, Nxb Tư pháp, Hà Nội.

6. United Nations (1950), United Nations Convention on the Rights of the Child (Công ước Liên hợp quốc về Quyền của trẻ em).


[1] Chẳng hạn như: Khoản 2 Điều 54 Luật Trẻ em năm 2016 quy định trách nhiệm bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng: "Cơ quan, tổ chức, cá nhân quản lý, cung cấp sản phẩm, dịch vụ thông tin, truyền thông và tổ chức các hoạt động trên môi trường mạng phải thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn và bí mật đời sống riêng tư cho trẻ em theo quy định của pháp luật"; Khoản 2 Điều 25 Nghị định 56/2017/NĐ-CP ngày 09/5/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều đi kèm của Luật trẻ em năm 2016 quy định trách nhiệm bảo vệ trẻ em trên KGM, yêu cầu: "Doanh nghiệp kinh doanh, cung cấp dịch vụ trên môi trường mạng phải có biện pháp sử dụng dịch vụ bảo vệ người sử dụng là trẻ em" [3]…

Nguyễn Đình Tuấn Kiệt

Học viên lớp B3C-D50, Học viện CSND