1. Đặt vấn đề
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một trong những bước ngoặt lớn nhất của lịch sử Việt Nam thế kỷ XX, làm thay đổi căn bản địa vị của dân tộc và nhân dân, mở ra thời đại độc lập, tự do. Hơn tám thập niên qua, giá trị lịch sử và tầm vóc thời đại của sự kiện vẫn còn nguyên ý nghĩa. Tuy nhiên, vẫn xuất hiện những cách giải thích xuyên tạc, cho rằng thắng lợi chỉ do Nhật đầu hàng Đồng minh hoặc do "khoảng trống quyền lực". Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới, nhận thức đúng và phát huy những giá trị, bài học của Cách mạng Tháng Tám có ý nghĩa thiết thực đối với xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

2. Nội dung
2.1. Giá trị lịch sử và tầm vóc thời đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Một là, Cách mạng Tháng Tám là kết quả tất yếu của quá trình chuẩn bị lâu dài, khẳng định đường lối đúng đắn và năng lực tạo, nắm bắt thời cơ của Đảng.
Nhật Bản đầu hàng Đồng minh tháng 8/1945 tạo thời cơ thuận lợi, nhưng thời cơ không tự biến thành thắng lợi. Cách mạng chỉ có thể thành công khi có đường lối đúng, lực lượng được tổ chức, cơ sở chính trị và một trung tâm lãnh đạo đủ bản lĩnh để đưa quần chúng hành động đúng lúc. Vì vậy, không thể tách thắng lợi tháng Tám khỏi quá trình chuẩn bị từ năm 1930 đến năm 1945.
Ngay trong Chánh cương vắn tắt năm 1930, Nguyễn Ái Quốc xác định đường hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam là "làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản" [1]. Trải qua các cao trào 1930 - 1931, 1936 - 1939 và 1939 - 1945, Đảng từng bước xây dựng tổ chức, tập hợp quần chúng, rèn luyện lực lượng. Hội nghị Trung ương 8 tháng 5/1941 hoàn chỉnh sự chuyển hướng chiến lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu; Mặt trận Việt Minh ra đời, tạo hình thức tổ chức rộng rãi để tập hợp mọi lực lượng yêu nước.
Sau cuộc đảo chính Nhật - Pháp ngày 9/3/1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" ngày 12/3/1945, phát động cao trào kháng Nhật cứu nước, đẩy mạnh khởi nghĩa từng phần, chuẩn bị trực tiếp cho Tổng khởi nghĩa [2]. Khi Nhật đầu hàng Đồng minh, thời cơ xuất hiện, Đảng kịp thời phát động toàn dân giành chính quyền. Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Không phải Nhật bại mà bỗng nhiên ta được giải phóng, tự do. Chúng ta vẫn phải ra sức phấn đấu" và kêu gọi: "Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta" [3].
Hai là, Cách mạng Tháng Tám làm thay đổi căn bản vận mệnh dân tộc, địa vị nhân dân và mở ra kỷ nguyên mới của lịch sử Việt Nam.
Thắng lợi của Tổng khởi nghĩa đã đập tan ách thống trị của thực dân, phát xít, lật đổ chế độ quân chủ, giành chính quyền về tay nhân dân; ngày 2/9/1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Hồ Chí Minh khái quát: "Cách mạng Tháng Tám đã lật đổ nền quân chủ mấy mươi thế kỷ, đã đánh tan xiềng xích thực dân gần 100 năm, đã đưa chính quyền lại cho nhân dân, đã xây nền tảng cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, độc lập, tự do, hạnh phúc. Đó là một cuộc thay đổi cực kỳ to lớn trong lịch sử của nước ta" [4].
Sự thay đổi ấy trước hết là sự thay đổi địa vị của dân tộc: từ thuộc địa trở thành quốc gia độc lập, có nhà nước của mình; đồng thời, nhân dân từ người bị trị trở thành người làm chủ. Sắc lệnh số 14 ngày 8/9/1945 quyết định tổ chức Tổng tuyển cử, quy định công dân Việt Nam cả nam và nữ từ 18 tuổi trở lên đều có quyền tuyển cử và ứng cử. Hiến pháp năm 1946 tiếp tục khẳng định mọi quyền bính trong nước thuộc về toàn thể nhân dân Việt Nam. Thành quả Cách mạng Tháng Tám vì thế không dừng ở giành chính quyền mà nhanh chóng được thể chế hóa trong nhà nước mới.
Ba là, Cách mạng Tháng Tám khẳng định sức mạnh quyết định của nhân dân và đại đoàn kết toàn dân tộc.
Một cuộc Tổng khởi nghĩa trên phạm vi cả nước không thể thành công nếu không có sự tham gia rộng rãi của quần chúng. Thắng lợi tháng Tám là kết quả của quá trình xây dựng lực lượng chính trị rộng lớn, lấy liên minh công - nông làm nền tảng, đồng thời đoàn kết các giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo và lực lượng yêu nước trong Mặt trận Việt Minh. Khi mục tiêu độc lập dân tộc trở thành điểm hội tụ lợi ích và ý chí của toàn dân, sức mạnh tinh thần được chuyển hóa thành sức mạnh chính trị có tổ chức.
Hồ Chí Minh khẳng định Cách mạng Tháng Tám thắng lợi "do sự lãnh đạo sáng suốt và kiên quyết của Đảng, do sức đoàn kết và hăng hái của toàn dân trong và ngoài Mặt trận Việt Minh" [5]. Thực tiễn ấy cho thấy một quy luật có ý nghĩa lâu dài: đường lối đúng chỉ có thể trở thành sức mạnh vật chất khi được nhân dân đồng tình, tham gia và tổ chức thực hiện. Đại đoàn kết vì thế không chỉ là một khẩu hiệu mà là phương thức tạo nên sức mạnh tổng hợp của cách mạng Việt Nam.
Bốn là, Cách mạng Tháng Tám có tầm vóc thời đại, góp phần thúc đẩy xu thế giải phóng dân tộc sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
Cách mạng Tháng Tám diễn ra khi hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân khủng hoảng sâu sắc. Việt Nam là một trong những dân tộc thuộc địa ở châu Á giành chính quyền và tuyên bố độc lập sớm sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Hồ Chí Minh đánh giá: "Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc" [6]. Ý nghĩa ấy vượt khỏi phạm vi quốc gia, chứng minh khả năng một dân tộc thuộc địa tự tổ chức lực lượng, đứng lên giành quyền tự quyết.
Tầm vóc thời đại của Cách mạng Tháng Tám còn thể hiện ở việc thắng lợi của Việt Nam hòa vào làn sóng phi thực dân hóa trong thế kỷ XX, cổ vũ các dân tộc bị áp bức đấu tranh cho độc lập, tự do. Từ một nước thuộc địa, Việt Nam góp thêm một thực tiễn sinh động khẳng định quyền dân tộc tự quyết và khả năng các dân tộc thuộc địa tự tổ chức lực lượng để giành độc lập.
2.2. Giải pháp phát huy giá trị lịch sử và tầm vóc thời đại của Cách mạng Tháng Tám trong kỷ nguyên mới
Bước vào kỷ nguyên mới, điều kiện lịch sử đã thay đổi nhưng những giá trị cốt lõi của Cách mạng Tháng Tám vẫn có ý nghĩa định hướng. Phát huy những giá trị ấy không phải lặp lại phương thức năm 1945, mà chuyển hóa các bài học về độc lập, tự chủ, sức mạnh nhân dân, đại đoàn kết, chuẩn bị thực lực và nắm bắt thời cơ thành nguồn lực phát triển.
Một là, nâng cao chất lượng nghiên cứu, tuyên truyền và giáo dục về Cách mạng Tháng Tám trên cơ sở tư liệu xác thực, lập luận khoa học.
Muốn phát huy giá trị lịch sử, trước hết phải nhận thức đúng lịch sử. Vì vậy, cần khai thác có hệ thống Hồ Chí Minh Toàn tập, Văn kiện Đảng Toàn tập, tài liệu lưu trữ, báo chí đương thời và các công trình nghiên cứu có giá trị; đối chiếu nguồn, xác định chính xác xuất xứ từng nhận định, trích dẫn. Nghiên cứu phải làm rõ quan hệ giữa điều kiện khách quan với nhân tố chủ quan, giữa thời cơ quốc tế với sự chuẩn bị lâu dài của cách mạng; tránh tuyệt đối hóa thời cơ bên ngoài hoặc giải thích thắng lợi một cách giản đơn.
Trong môi trường số, cần đẩy mạnh số hóa tài liệu, xây dựng cơ sở dữ liệu lịch sử có khả năng kiểm chứng; tăng cường phổ biến tài liệu gốc để người học tiếp cận Chỉ thị ngày 12/3/1945, Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa, Tuyên ngôn Độc lập, các sắc lệnh đầu tiên và Hiến pháp năm 1946. Sự thật lịch sử, được chứng minh bằng tư liệu đáng tin cậy, là cơ sở thuyết phục nhất để củng cố nhận thức và phản bác xuyên tạc.
Hai là, đổi mới nội dung, phương thức giáo dục giá trị Cách mạng Tháng Tám, nhất là đối với thế hệ trẻ.
Khoảng cách thời gian ngày càng xa năm 1945 đòi hỏi giáo dục lịch sử không thể chỉ dừng ở ghi nhớ sự kiện. Cần giúp người học hiểu vì sao cách mạng thắng lợi; vì sao Đảng có thể huy động lực lượng rộng lớn; vì sao thời cơ phải được chuẩn bị và chớp đúng lúc; những bài học đó có ý nghĩa gì đối với trách nhiệm công dân hôm nay. Giáo dục phải hướng đến ba cấp độ: biết đúng sự kiện, hiểu sâu giá trị và biết vận dụng bài học.
Cùng với phương pháp truyền thống, cần khai thác bảo tàng số, phim tư liệu, bản đồ tương tác, học liệu trực tuyến, di tích lịch sử và sản phẩm truyền thông số có chất lượng. Đối với cán bộ, chiến sĩ Quân đội, giáo dục Cách mạng Tháng Tám phải gắn với bồi dưỡng bản lĩnh chính trị, ý thức trách nhiệm, tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường và quyết tâm bảo vệ Tổ quốc. Giá trị "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta" cần được chuyển hóa thành ý thức dựa vào nội lực, đồng thời chủ động tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi.
Ba là, phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường thành năng lực tự chủ chiến lược và sức mạnh nội sinh của đất nước.
Cách mạng Tháng Tám để lại bài học sâu sắc về quyền tự quyết và sức mạnh bên trong của dân tộc. Trong kỷ nguyên mới, tự lực, tự cường không đồng nghĩa với khép kín, mà là xây dựng đủ thực lực để chủ động hội nhập, hợp tác và bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc trong mọi tình huống. Điều đó đòi hỏi nâng cao năng lực tự chủ về kinh tế, khoa học - công nghệ, dữ liệu, năng lượng, nguồn nhân lực, quốc phòng và an ninh; tăng sức chống chịu trước những biến động từ bên ngoài. Đại hội XIV của Đảng xác định mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phát triển nhanh, bền vững; "tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc"; phấn đấu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Tinh thần ấy tiếp nối bài học Cách mạng Tháng Tám: phải xây dựng thực lực đủ mạnh để tự quyết định con đường phát triển và tận dụng hiệu quả cơ hội của thời đại.
Bốn là, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố đồng thuận xã hội và vai trò chủ thể của nhân dân.
Nếu năm 1945, sức mạnh nhân dân được quy tụ vào mục tiêu giành độc lập thì hôm nay cần được quy tụ vào khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Phải tạo điều kiện để mọi tầng lớp nhân dân, doanh nghiệp, trí thức, văn nghệ sĩ, thanh niên, đồng bào các dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam ở nước ngoài phát huy tài năng, trí tuệ, nguồn lực và trách nhiệm đối với đất nước.
Đại đoàn kết chỉ bền vững khi lợi ích quốc gia - dân tộc gắn hài hòa với quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Vì vậy, cần tiếp tục phát huy dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ, nâng cao hiệu lực quản trị, tăng cường trách nhiệm giải trình, chăm lo đời sống và củng cố niềm tin xã hội bằng kết quả phát triển thực chất. Bài học "lấy dân làm gốc" của Cách mạng Tháng Tám phải được cụ thể hóa thành cơ chế để nhân dân tham gia, đóng góp, giám sát và thụ hưởng thành quả phát triển.
Năm là, vận dụng sáng tạo bài học chuẩn bị thực lực, chủ động tạo và nắm bắt thời cơ để tạo đột phá phát triển.
Cách mạng Tháng Tám cho thấy thời cơ có thể xuất hiện nhanh và tồn tại trong thời gian rất ngắn; nhưng khả năng tận dụng thời cơ phụ thuộc vào sự chuẩn bị từ trước. Bài học ấy đặc biệt có ý nghĩa khi khoa học - công nghệ, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và những thay đổi của chuỗi cung ứng toàn cầu đang tạo ra cả cơ hội lẫn thách thức chưa từng có.
Do đó, cần nâng cao năng lực dự báo chiến lược; chuẩn bị sớm thể chế, nguồn nhân lực, hạ tầng số, khoa học - công nghệ và các nguồn lực cần thiết; kịp thời tháo gỡ điểm nghẽn, giải phóng sức sản xuất và khuyến khích đổi mới sáng tạo. Đại hội XIV nhấn mạnh tinh thần "tự chủ chiến lược, nắm chắc thời cơ", biến ý chí thành hành động, quyết sách thành kết quả cụ thể. Đây là sự tiếp nối ở tầm phát triển mới bài học chủ động chuẩn bị và chớp thời cơ của Cách mạng Tháng Tám.
Sáu là, chủ động bảo vệ sự thật lịch sử, nâng cao hiệu quả phản bác các quan điểm xuyên tạc, phủ nhận Cách mạng Tháng Tám.
Trên không gian mạng, thông tin lịch sử dễ bị cắt ghép, tách khỏi bối cảnh hoặc diễn giải một chiều. Vì vậy, phản bác phải dựa vào bằng chứng và lập luận khoa học. Trước quan điểm cho rằng Cách mạng Tháng Tám là "ăn may", cần làm rõ quá trình chuẩn bị 15 năm, chuyển hướng chiến lược, xây dựng Việt Minh, căn cứ địa, lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang và cao trào kháng Nhật cứu nước. Trước luận điệu phủ nhận quyền làm chủ của nhân dân, cần đối chiếu Sắc lệnh Tổng tuyển cử và Hiến pháp năm 1946; trước cách giải thích phủ nhận ý nghĩa quốc tế, cần đặt thắng lợi Việt Nam trong tiến trình phi thực dân hóa sau Chiến tranh thế giới thứ hai.
Cùng với đấu tranh trực diện, cần tạo các sản phẩm truyền thông ngắn gọn, chính xác, hấp dẫn; nâng cao khả năng tiếp cận nguồn tư liệu chính thống, nhất là đối với giới trẻ. Sức thuyết phục bền vững nằm ở sự thật có thể kiểm chứng và khả năng giải thích lịch sử bằng tư duy khoa học.
3. Kết luận
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là bước ngoặt vĩ đại của lịch sử dân tộc, kết tinh đường lối đúng đắn, sức mạnh đại đoàn kết, quá trình chuẩn bị bền bỉ và nghệ thuật nắm bắt thời cơ. Thắng lợi ấy giành lại độc lập, lập nên nhà nước mới, xác lập quyền làm chủ của nhân dân và góp phần thúc đẩy xu thế giải phóng dân tộc. Trong kỷ nguyên mới, những giá trị ấy cần được chuyển hóa thành năng lực tự chủ chiến lược, sức mạnh nội sinh, đổi mới sáng tạo và khả năng nắm bắt thời cơ; đồng thời bảo vệ sự thật lịch sử bằng tư liệu, lập luận khoa học.
Thiếu tá QNCN Trương Thị Loan
Hệ 6, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
Tài liệu tham khảo
[1] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.1.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.364 - 373.
[3] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.595 - 596.
[4] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.27.
[5] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.25.
[6] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.25.