1. Đặt vấn đề
Hiện nay và trong những năm tới, cục diện thế giới tiếp tục chuyển biến nhanh, phức tạp chưa từng có theo hướng đa cực, đa trung tâm, đa tầng, phân mảnh và phân tuyến mạnh; cùng với sự gia tăng cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn và sự nổi lên của các thách thức an ninh phi truyền thống, đang trực tiếp làm thay đổi môi trường an ninh của các quốc gia. Trong bối cảnh đó, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa không thể chỉ dựa vào sức mạnh quân sự hay kinh tế đơn thuần mà phải phát huy sức mạnh tổng hợp của quốc gia.Trong cấu trúc sức mạnh đó, sức mạnh mềm giữ vai trò quan trọng, không chỉ góp phần gia tăng vị thế, uy tín và khả năng thích ứng chiến lược, mà còn trực tiếp tạo lập môi trường thuận lợi, phòng ngừa và hạn chế các nguy cơ xung đột từ sớm, từ xa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, cũng như lợi ích quốc gia - dân tộc.
2. Quan điểm Đại hội XIV về phát huy sức mạnh mềm trong bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đánh dấu bước phát triển trong tư duy lý luận khi xác định phát huy sức mạnh mềm Việt Nam góp phần tạo thế và lựcmới cho đất nước. Điều này cho thấy sức mạnh mềm không còn được nhìn nhận như yếu tố bổ trợ, mà đã trở thành một bộ phận cấu thành trực tiếp của sức mạnh tổng hợp quốc gia trong bảo vệ Tổ quốc.
Về bản chất, sức mạnh mềm là khả năng tạo ảnh hưởng thông qua sức hấp dẫn, tính chính danh và năng lực thuyết phục. Theo tinh thần Đại hội XIV, sức mạnh mềm Việt Nam được hình thành từ sự kết hợp giữa các giá trị nội sinh của dân tộc với nền tảng chính trị - xã hội ổn định và năng lực đối ngoại ngày càng được nâng cao, qua đó tạo nên vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế.
Trước hết, sức mạnh mềm bắt nguồn từ các giá trị nội sinh, đặc biệt là truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển. Văn kiện Đại hội nhấn mạnh: "Khơi dậy mạnh mẽ truyền thống yêu nước, khát vọng phát triển, tinh thần đoàn kết, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc; phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh và động lực mạnh mẽ cho sự phát triển"[1]; đồng thời khẳng định: "Phát huy sức mạnh, bản lĩnh, trí tuệ của con người Việt Nam, khối đại đoàn kết toàn dân tộc và thế trận lòng dân; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia; bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa"[2].
Trong đó, văn hóa và con người giữ vai trò nền tảng trong sức mạnh mềm của Việt Nam. Những kết quả phát triển văn hoá, xã hội, con người qua 40 năm đổi mới "tạo nên thế và lực mới, tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, uy tín quốc tế, nâng cao niềm tin của Nhân dân, tạo ra những tiền đề quan trọng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc"[3]. Đại hội khẳng định: "Văn hóa là nền tảng phát triển, vừa là mục tiêu, vừa là sức mạnh nội sinh, động lực quan trọng, hệ điều tiết để phát triển đất nước"[4]. Văn hóa Việt Nam được hình thành từ lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, kết tinh những giá trị bền vững như lòng yêu nước, tinh thần cộng đồng, nhân nghĩa, cần cù, sáng tạo và khả năng thích ứng linh hoạt trước mọi biến động. "Sức mạnh mềm" của văn hóa Việt Nam do những con người bình dị, thông minh và sáng tạo, dũng cảm và bản lĩnh, hiếu học và cần cù, khoan dung và nhân hậu sáng tạo ra.
Nhân tố cơ bản phát huy sức mạnh mềm đó là con người Việt Nam mang trong mình những giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, được lan tỏa trên khắp mọi miền của Tổ quốc và những nơi có người Việt Nam định cư; sự lan tỏa thông qua các tổ chức, các đoàn thể chính trị xã hội. Những con người mang trong mình mục tiêu "hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, vì một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội"[5]. Các giá trị này không chỉ tạo nên bản sắc và sức hấp dẫn của quốc gia, mà còn là cơ sở củng cố ý chí, bản lĩnh và khả năng tự cường trong quá trình bảo vệ Tổ quốc.
Cùng với đó, sự ổn định chính trị, hiệu quả quản lý phát triển xã hội và khối đại đoàn kết toàn dân tộc tạo nên nền tảng xã hội vững chắc cho việc phát huy sức mạnh mềm. Một môi trường hòa bình, ổn định là lợi thế lớn - "sức mạnh mềm" cực kỳ quan trọng, có sức lan tỏa rộng rãi, lôi cuốn, thu hút mạnh mẽ bạn bè quốc tế đến với Việt Nam. Khi đến với Việt Nam, họ cảm thấy yên tâm, tin tưởng, an toàn cả về con người và tài sản, lợi ích của họ cũng được bảo đảm. Cùng với sự ổn định về chính trị, các chính sách quản lý phát triển xã hội của Việt Nam cũng có sức thuyết phục lớn bạn bè quốc tế. Ở Việt Nam, người dân được làm chủ vận mệnh của mình; được sống, được mưu cầu hạnh phúc, được làm chủ xã hội; cuộc sống vật chất, tinh thần luôn được bảo đảm ở mức tốt nhất có thể, được tự do làm ăn, sinh sống trong hòa bình. Ðây là nguồn "sức mạnh mềm" quan trọng từ các giá trị của nền chính trị Việt Nam, cần được phát triển theo chiều sâu, vững chắc, tạo niềm tin, thuyết phục bạn bè quốc tế đến với chúng ta và hết lòng ủng hộ Việt Nam, làm tăng khả năng quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt khối đại đoàn kết toàn dân tộc giữ vai trò là cơ chế nội sinh trung tâm, quyết định khả năng chuyển hóa các giá trị văn hóa và nguồn lực xã hội thành sức mạnh thực tế, đây chính là "nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam"[6]. Khi khối đại đoàn kết được củng cố trên nền tảng dân chủ với phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng", nó tạo ra lòng tin xã hội, tăng cường sự gắn kết giữa Nhà nước và nhân dân, đồng thời hình thành "thế trận lòng dân" vững chắc - yếu tố cốt lõi trong bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.
Đồng thời, đường lối đối ngoại đúng đắn là một thành tố quan trọng của sức mạnh mềm, trực tiếp góp phần tạo "thế" và "lực" trong bảo vệ Tổ quốc. Việc kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện không chỉ mở rộng quan hệ mà còn xây dựng lòng tin chiến lược, nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Thông qua đó, Việt Nam tranh thủ được sự ủng hộ, đồng thuận của cộng đồng quốc tế, hạn chế nguy cơ xung đột, "duy trì, củng cố môi trường hòa bình, ổn định, mở ra cục diện mới chưa từng có cho phát triển đất nước"[7].
Bên cạnh đó một trong những nhân tố có vai trò hết sức quan trọng đó là "Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư tiếp tục phát triển mạnh mẽ và tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực"[8], công nghệ số và trí tuệ nhân tạo trở thành công cụ gia tốc cho sức mạnh mềm. Hiện nay trong một thế giới siêu gắn kết của kỷ nguyên số, sức mạnh mềm càng quan trọng, thậm chí trong một số trường hợp nó có tính quyết định, đem đến thành công đối với sự phát triển, định vị quốc gia.
3. Giải pháp phát huy "Sức mạnh mềm" trong bảo vệ Tổ quốcViệt Nam xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Đại hội XIV
Thứ nhất, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc phát huy sức mạnh mềm trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay.
Đây không chỉ là yêu cầu về mặt lý luận mà còn là điều kiện tiên quyết để chuyển hóa quan điểm của Đảng thành hành động thực tiễn trong toàn hệ thống chính trị và xã hội. Cần khẳng định rõ rằng sức mạnh mềm không phải yếu tố bổ trợ mà là một bộ phận cấu thành trực tiếp của sức mạnh tổng hợp quốc gia, có khả năng tạo lập môi trường hòa bình, củng cố lòng tin, nâng cao vị thế và hạn chế nguy cơ xung đột từ sớm, từ xa. Trên cơ sở đó, phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về nội hàm, vai trò và phương thức phát huy sức mạnh mềm; gắn nhận thức với trách nhiệm cụ thể của từng chủ thể trong việc gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng niềm tin xã hội và lan tỏa hình ảnh quốc gia. Đồng thời, cần đưa nội dung phát huy sức mạnh mềm vào quá trình hoạch định chính sách, chiến lược phát triển và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm sự thống nhất giữa nhận thức và hành động, giữa mục tiêu trước mắt và lâu dài. Chỉ khi nhận thức được nâng lên đầy đủ và đồng bộ, sức mạnh mềm mới thực sự được khai thác hiệu quả, trở thành nguồn lực quan trọng góp phần tạo "thế" và "lực" trong bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh mới.
Thứ hai, phát huy các giá trị truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc, đưa văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc đã viết lên những trang sử hào hùng, oanh liệt, hun đúc lên những truyền thống văn hóa quý báu, tốt đẹp. Giá trị truyền thống lịch sử, văn hóa được lưu truyền qua các thế hệ, trở thành truyền thống tốt đẹp, là sức mạnh và động lực to lớn để dân tộc ta vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Do đó, "Xây dựng và phát triển văn hoá phải thực sự trở thành nền tảng vững chắc, sức mạnh nội sinh của dân tộc và hệ điều tiết cho phát triển nhanh, bền vững đất nước"[9]. Trên cơ sở đó, cần tập trung xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam "tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng bộ trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam"[10]; Đồng thời, tăng cường giáo dục giáo dục lòng yêu nước, khơi dậy lòng tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho Nhân dân; chú trọng bồi dưỡng thế hệ trẻ về lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống và khát vọng cống hiến, gắn kết hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại.
Cùng với đó, phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân trong sáng tạo và thụ hưởng văn hóa; phát triển các phong trào văn hóa sâu rộng, nâng cao đời sống tinh thần, bảo đảm công bằng trong tiếp cận văn hóa. Đề cao vai trò của đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ và những người làm công tác văn hóa; xây dựng văn hóa trong Đảng và hệ thống chính trị, gắn với chuẩn mực đạo đức, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và truyền thông để lan tỏa giá trị văn hóa, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam ra thế giới. Qua đó, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng văn hóa với phát triển con người và phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, nguồn lực nội sinh quan trọng và là trụ cột của sức mạnh mềm, góp phần trực tiếp tạo "thế" và "lực" trong bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.
Thứ ba, khơi dậy mạnh mẽ truyền thống yêu nước, khát vọng phát triển, tinh thần đoàn kết, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc; đồng thời phát huy sức mạnh, bản lĩnh, trí tuệ của con người Việt Nam trong bảo vệ tổ quốc
Việc phát huy sức mạnh mềm không thể tách rời quá trình khơi dậy và chuyển hóa các giá trị tinh thần như lòng yêu nước, ý chí tự cường, khát vọng phát triển và tinh thần đoàn kết thành năng lực hành động cụ thể của xã hội. Vấn đề cốt lõi không chỉ là củng cố niềm tin và động lực, mà là thiết lập cơ chế để các giá trị này được hiện thực hóa trong đời sống kinh tế, chính trị và xã hội.
Trước hết, cần tái cấu trúc cách tiếp cận trong giáo dục và truyền thông theo hướng gắn các giá trị truyền thống với yêu cầu phát triển hiện đại. Lòng yêu nước cần được biểu hiện thông qua ý thức thượng tôn pháp luật, trách nhiệm công dân, năng suất lao động và tinh thần cống hiến, thay vì chỉ dừng lại ở biểu đạt cảm xúc. Khát vọng phát triển cần được cụ thể hóa thành mục tiêu nghề nghiệp, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh của từng cá nhân và tổ chức.
Đồng thời, phải đặt Nhân dân vào vị trí trung tâm của quá trình phát huy sức mạnh mềm, bảo đảm các điều kiện để người dân thực sự tham gia, đóng góp và thụ hưởng thành quả phát triển. Điều này đòi hỏi hoàn thiện các cơ chế bảo đảm quyền làm chủ, minh bạch thông tin, cũng như mở rộng không gian cho sáng kiến xã hội và các hình thức tự quản cộng đồng. Khi niềm tin xã hội được củng cố, các giá trị tinh thần mới có thể chuyển hóa thành "thế trận lòng dân" vững chắc.
Một nội dung quan trọng khác là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với yêu cầu của nền kinh tế tri thức và chuyển đổi số. Cần ưu tiên đầu tư vào các lĩnh vực khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, kỹ năng số và năng lực hội nhập quốc tế, qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh của quốc gia. Đồng thời, xây dựng môi trường khuyến khích sáng tạo, chấp nhận rủi ro có kiểm soát và tôn trọng giá trị tri thức, nhằm thúc đẩy sự hình thành các tầng lớp nhân lực dẫn dắt.
Thứ tư, triển khai hiệu quả đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng
Cần tiếp tục khẳng định đối ngoại là lĩnh vực tiên phong trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, đồng thời huy động các nguồn lực bên ngoài phục vụ phát triển đất nước; cùng với quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế là nhiệm vụ "trọng yếu, thường xuyên". Trên cơ sở đó, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế, không ngừng củng cố vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Đồng thời, xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột: đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân; kết hợp chặt chẽ đối ngoại song phương và đa phương, chủ động tham gia, đóng góp có trách nhiệm vào các vấn đề chung của khu vực và thế giới thông qua các cơ chế như Liên Hợp Quốc và ASEAN. Qua đó, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài, tận dụng tri thức, công nghệ và kinh nghiệm quốc tế cho phát triển, đồng thời lan tỏa hình ảnh Việt Nam là quốc gia yêu chuộng hòa bình, là bạn, đối tác tin cậy và thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.
Mặt khác, cần xử lý linh hoạt, hài hòa quan hệ với các đối tác, nhất là các nước lớn; kết hợp chặt chẽ giữa hợp tác và đấu tranh, kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Việc phát huy hiệu quả đường lối đối ngoại không chỉ góp phần mở rộng không gian phát triển, mà còn trực tiếp tạo dựng lòng tin chiến lược, hạn chế nguy cơ xung đột, củng cố môi trường hòa bình từ sớm, từ xa. Như vậy, đối ngoại không chỉ là công cụ mà thực chất là một nguồn lực sức mạnh mềm quan trọng, góp phần tạo "thế" và "lực", nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia trong bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh mới.
Thứ năm, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị - xã hội, nâng cao hiệu quả quản lý phát triển xã hội tạo nền tảng vững chắc cho việc phát huy sức mạnh mềm trong bảo vệ Tổ quốc
Ổn định chính trị - xã hội và chất lượng quản trị quốc gia là điều kiện nền tảng để hình thành tính chính danh, độ tin cậy và sức hấp dẫn của một quốc gia. Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược hiện nay, đây không chỉ là yếu tố nội tại mà còn trực tiếp chuyển hóa thành sức mạnh mềm, tác động đến nhận thức và thái độ của cộng đồng quốc tế. Một môi trường hòa bình, ổn định không chỉ là điều kiện tiên quyết cho phát triển mà còn là một dạng "sức mạnh mềm" có sức lan tỏa lớn, tạo dựng niềm tin, sự an tâm và sức hấp dẫn đối với cộng đồng quốc tế.
Trước hết cần "Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận và đường lối đổi mới; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đổi mới toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; tư duy chiến lược, đổi mới mô hình phát triển, lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước, nâng cao đời sống và hạnh phúc của Nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa"[11].
Song song với đó hệ thống thể chế phải được hoàn thiện theo hướng minh bạch, nhất quán, qua đó tạo niềm tin cho người dân, daong nghiệp và các đối tác bên ngoài. Đồng thời, cần tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; đồng thời, "Tăng cường quản lý phát triển xã hội, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, tính bền vững trong các chính sách xã hội, nhất là an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, an ninh xã hội và con người"[12].
Cùng với đó, cần xây dựng các chính sách xã hội và quản lý phát triển xã hội phù hợp, giải quyết hài hoà các quan hệ xã hội, kiểm soát phân tầng xã hội và xử lý kịp thời, hiệu quả các rủi ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. Việc xây dựng một xã hội ổn định, an toàn, phát triển hài hòa không chỉ tạo nền tảng nội lực vững chắc mà còn nâng cao uy tín, hình ảnh quốc gia, thu hút sự hợp tác, ủng hộ từ bên ngoài.
Thứ sáu, đẩy mạnh phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số nhằm gia tăng hiệu quả lan tỏa và sức cạnh tranh của sức mạnh mềm Việt Nam
Trước hết, cần xây dựng và hoàn thiện hạ tầng số hiện đại, đồng bộ, bảo đảm khả năng kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu hiệu quả trên phạm vi quốc gia. Hạ tầng này không chỉ phục vụ phát triển kinh tế số mà còn tạo nền tảng cho truyền thông quốc gia, quảng bá hình ảnh và lan tỏa giá trị văn hóa ra quốc tế một cách nhanh chóng và rộng khắp.
Bên cạnh đó, cần nâng cao năng lực sản xuất nội dung số có chất lượng cao, mang bản sắc riêng và có khả năng cạnh tranh toàn cầu. Điều này đòi hỏi sự tham gia của các chủ thể đa dạng, từ cơ quan nhà nước đến doanh nghiệp công nghệ, tổ chức truyền thông và cá nhân sáng tạo. Cùng với đó, cần phát triển nguồn nhân lực khoa học - công nghệ và nhân lực số có trình độ cao, ưu tiên đào tạo các lĩnh vực then chốt như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, an ninh mạng và truyền thông số, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng thích ứng của quốc gia trong môi trường toàn cầu hóa.Đồng thời, phải gắn phát triển công nghệ với bảo đảm an ninh mạng và chủ quyền số. Việc kiểm soát, bảo vệ không gian thông tin quốc gia, xử lý hiệu quả các thách thức như thông tin sai lệch, thao túng dư luận hay xung đột trên không gian mạng là điều kiện cần để duy trì tính ổn định và độ tin cậy - những yếu tố trực tiếp cấu thành sức mạnh mềm.
4. Kết luận
Sức mạnh mềm Việt Nam là sự kết tinh của các giá trị văn hóa, con người, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nền tảng chính trị – xã hội ổn định, cùng với đường lối đối ngoại đúng đắn và năng lực thích ứng với thời đại số. Đây không chỉ là nguồn lực tạo sức hấp dẫn và uy tín quốc gia, mà còn là công cụ quan trọng để xây dựng lòng tin, mở rộng quan hệ, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế và hạn chế nguy cơ xung đột.
Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt, việc phát huy hiệu quả sức mạnh mềm đòi hỏi phải được triển khai đồng bộ, gắn kết chặt chẽ giữa nhận thức, hành động và cơ chế chính sách. Các giải pháp về nâng cao nhận thức, phát triển văn hóa, xây dựng con người, củng cố đại đoàn kết, giữ vững môi trường hòa bình, đẩy mạnh đối ngoại và ứng dụng khoa học – công nghệ cần được thực hiện thống nhất, tạo thành hệ thống tổng thể. Qua đó, sức mạnh mềm không chỉ góp phần nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, mà còn trực tiếp củng cố nội lực, tăng cường "thế trận lòng dân", hình thành nền tảng vững chắc để bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
ThS Nguyễn Trọng Thành - Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng
TS Nguyễn Hữu Cần - Học viện Hải quân
[1],2, 7, [1]1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, t.I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H., 2026, tr.82, 83, 54, 81.
3, 4, 5, 6, 8, 10, 1[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, t.II, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H., 2026, tr.252, 262, 371, 78, 378, 274-275.
9 Ban Chấp hành Trung ương (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, Hà Nội.