Phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay: Định hướng trong Đại hội XIV của Đảng

Thứ hai, 05/10/2026 - 14:00

TÓM TẮT: Phát triển lực lượng sản xuất luôn là nhân tố quyết định năng lực phát triển của mỗi quốc gia. Trên cơ sở phân tích những biểu hiện mới của lực lượng sản xuất trong quá trình phát triển hiện nay, bài viết nhận diện những vấn đề đặt ra đối với phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam, đồng thời làm rõ các định hướng của Đảng trong Đại hội XIV nhằm thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển phù hợp với yêu cầu của giai đoạn mới.

TỪ KHÓA: lực lượng sản xuất; Đại hội XIV của Đảng; chuyển đổi số; đổi mới sáng tạo; nguồn nhân lực chất lượng cao

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong tiến trình lịch sử, lực lượng sản xuất luôn là nền tảng vật chất quyết định sự vận động của đời sống kinh tế – xã hội. Hiện nay, sự phát triển của tri thức khoa học, đổi mới sáng tạo, dữ liệu và hạ tầng số đang làm mở rộng nội hàm của lực lượng sản xuất, tạo nên những đặc trưng mới của nền sản xuất hiện đại. Đối với Việt Nam, công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với chuyển đổi số, kinh tế số, kinh tế xanh và đổi mới sáng tạo đang thúc đẩy sự chuyển biến sâu sắc về cơ cấu và trình độ của lực lượng sản xuất. Nhận thức rõ yêu cầu đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã bổ sung, phát triển tư duy về lực lượng sản xuất, thể hiện sự vận dụng sáng tạo lý luận Mác – Lênin và tầm nhìn chiến lược trước những biến đổi của thời đại.

2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

2.1 Những biểu hiện mới của lực lượng sản xuất trong quá trình phát triển hiện nay

Dưới tác động mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất đang chuyển biến sâu sắc cả về chất lượng, cơ cấu và phương thức vận hành.

Sự hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao và lao động tri thức là một biểu hiện nổi bật. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, người lao động là yếu tố quyết định của lực lượng sản xuất, bởi tư liệu sản xuất chỉ phát huy giá trị thông qua năng lực thực tiễn và sáng tạo của con người. Trong nền sản xuất hiện đại, vai trò ấy ngày càng gắn với chất lượng nguồn nhân lực, hàm lượng tri thức, năng lực đổi mới và khả năng làm chủ công nghệ. Sự gia tăng của đội ngũ kỹ sư, chuyên gia công nghệ, nhà khoa học, chuyên gia dữ liệu và lao động trình độ cao cho thấy lực lượng sản xuất đang chuyển biến về chất. Cơ cấu lao động cũng dịch chuyển từ lao động giản đơn sang lao động tri thức, khi các công việc lặp lại dần được thay thế bởi tự động hóa, robot và trí tuệ nhân tạo. Điều đó khẳng định năng suất lao động hiện nay ngày càng phụ thuộc vào tri thức, kỹ năng số và năng lực sáng tạo của con người.

Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng giữ vai trò trung tâm trong phát triển kinh tế. Chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và mạng lưới kết nối toàn cầu đang làm thay đổi phương thức sản xuất. Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo không chỉ tham gia vào quá trình phát triển mà đang trở thành hạt nhân của quá trình đó. Xu hướng này đã được C. Mác dự báo khi khẳng định: "Sự phát triển của khoa học… trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp" (C. Mác và Ph. Ăngghen, 1993, t.23, tr.476). Khi khoa học được vật chất hóa trong công nghệ, thuật toán, quy trình quản trị và các nền tảng số, tri thức trở thành một bộ phận cấu thành của chính sức sản xuất xã hội. Sản phẩm của lao động hiện đại vì thế mang hàm lượng tri thức ngày càng lớn, trong khi giá trị tạo ra từ đổi mới sáng tạo ngày càng vượt xa giá trị được tạo ra từ việc gia tăng đơn thuần các yếu tố vật chất.

Dữ liệu và hạ tầng số đang trở thành nguồn lực sản xuất mới. Trong bối cảnh chuyển đổi số và phát triển kinh tế tri thức, dữ liệu ngày càng giữ vai trò quan trọng như một loại tài nguyên chiến lược của nền kinh tế. Nếu trước đây tăng trưởng chủ yếu dựa vào đất đai, vốn, lao động và tài nguyên thiên nhiên, thì hiện nay dữ liệu trở thành nguồn cung cấp thông tin, tri thức và khả năng dự báo cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh và quản trị. Giá trị của dữ liệu được tạo ra thông qua quá trình thu thập, xử lý, phân tích và chuyển hóa thành các quyết định có hiệu quả, góp phần nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh. Đồng thời, hạ tầng số như mạng viễn thông, trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây và các nền tảng số tạo nên môi trường vật chất để dữ liệu được kết nối, lưu trữ và khai thác. Sự kết hợp giữa dữ liệu, hạ tầng số, công nghệ số và nguồn nhân lực số đang làm thay đổi phương thức tạo ra của cải xã hội, mở rộng không gian phát triển kinh tế và trở thành một trong những biểu hiện tiêu biểu của lực lượng sản xuất mới trong thời đại số.

Sự phát triển của kinh tế số, kinh tế xanh và các mô hình sản xuất thông minh. Trên nền tảng khoa học, công nghệ, dữ liệu và đổi mới sáng tạo, kinh tế số, kinh tế xanh và các mô hình sản xuất thông minh ngày càng phát triển mạnh mẽ. Những mô hình này cho thấy giá trị kinh tế hiện nay được tạo ra nhiều hơn từ tri thức, công nghệ và khả năng kết nối, thay vì chỉ dựa vào các nguồn lực vật chất truyền thống. Vì vậy, chúng không chỉ mở rộng không gian tăng trưởng, hình thành ngành nghề và phương thức kinh doanh mới, mà còn là biểu hiện sinh động của lực lượng sản xuất mới trong thời kỳ chuyển đổi số và phát triển bền vững.

Chuyển đổi xanh và năng lượng tái tạo trở thành động lực phát triển mới. Chuyển đổi xanh và năng lượng tái tạo cho thấy sự xuất hiện của những tư liệu sản xuất hiện đại, mang hàm lượng khoa học – công nghệ cao như điện mặt trời, điện gió, pin lưu trữ, lưới điện thông minh, hydro xanh và công nghệ thu giữ carbon. Các công nghệ này tham gia trực tiếp vào sản xuất, cung cấp năng lượng, nâng cao hiệu quả kinh tế và giảm tác động môi trường. Vì vậy, tư liệu sản xuất trong thời đại hiện nay không còn giới hạn ở máy móc, nhà xưởng hay dây chuyền công nghiệp truyền thống, mà được mở rộng sang các công nghệ xanh, công nghệ sạch, phản ánh bước phát triển mới của lực lượng sản xuất.

2.2. Những vấn đề đặt ra đối với phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam

Quá trình phát triển lực lượng sản xuất trên nền tảng khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã tạo ra những động lực tăng trưởng mới, đồng thời đặt ra nhiều yêu cầu và thách thức cần được giải quyết để bảo đảm sự phát triển bền vững.

Chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất mới. Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đã qua đào tạo có bằng, chứng chỉ đạt 28,4% (Cục Thống kê, 2024). Tỷ lệ này chưa tương xứng với nhu cầu phát triển các ngành công nghệ cao, kinh tế số, sản xuất thông minh và dịch vụ hiện đại. Sự thiếu hụt đội ngũ chuyên gia giỏi trong các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, tự động hóa, bán dẫn, năng lượng tái tạo và công nghệ sinh học đang trở thành rào cản đối với quá trình nâng cao trình độ lực lượng sản xuất.

V.I. Lênin từng nhấn mạnh: "Năng suất lao động là cái quan trọng nhất, chủ yếu nhất đối với thắng lợi của chế độ xã hội mới" (V.I. Lênin, Toàn tập, t.44, tr. 40.). Tuy nhiên, năng suất lao động của Việt Nam thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực, đứng thứ 6 trong ASEAN và thấp hơn đáng kể so với Singapore, Malaysia, Thái Lan và Indonesia (Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng quốc gia, 2026). Điều này cho thấy lực lượng sản xuất của Việt Nam vẫn chưa đạt được trình độ hiện đại tương xứng với yêu cầu của giai đoạn phát triển mới. Một bộ phận không nhỏ doanh nghiệp Việt Nam vẫn hoạt động dựa trên lao động giá rẻ, gia công và khai thác lợi thế về chi phí.

Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa tạo được sức bật đủ mạnh để dẫn dắt quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng chỉ rõ: "Khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa trở thành động lực chính cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển đất nước" (ĐCSVN, 2026, t.1, tr.65). Điều này cho thấy khả năng chuyển hóa tiềm năng khoa học – công nghệ thành năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng còn hạn chế. Nhiều hoạt động sản xuất vẫn dựa vào công nghệ trung bình, gia công, lắp ráp và lợi thế chi phí thấp. Bên cạnh đó, Đại hội XIV đánh giá "năng lực, trình độ công nghệ còn yếu, thiếu những ngành công nghiệp nền tảng, công nghệ chiến lược làm nòng cốt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế" (ĐCSVN, 2026, t.1, tr.65). Đây là điểm nghẽn lớn, làm hạn chế khả năng bứt phá về năng suất, năng lực tự chủ và sức cạnh tranh của lực lượng sản xuất ở Việt Nam.

Sự phát triển chậm của một số ngành khoa học, công nghiệp chiến lược và mũi nhọn đang đặt ra giới hạn đáng kể đối với khả năng bứt phá của lực lượng sản xuất ở Việt Nam. Văn kiện Đại hội XIV chỉ rõ: "Một số ngành khoa học, công nghiệp chiến lược, mũi nhọn phát triển còn chậm" (ĐCSVN, 2026, t.1, tr.65). Khi các lĩnh vực then chốt như công nghệ lõi, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, vật liệu mới, tự động hóa, năng lượng sạch chưa phát triển đủ mạnh, nền kinh tế khó tạo ra những sản phẩm có hàm lượng tri thức cao, khó nâng cấp vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu và khó hình thành năng lực tự chủ công nghệ. Như vậy, phát triển lực lượng sản xuất hiện nay phải vượt khỏi tư duy mở rộng quy mô, hướng tới xây dựng các ngành nền tảng có khả năng lan tỏa, dẫn dắt và đổi mới phương thức tạo ra giá trị của nền kinh tế.

Doanh nghiệp chưa đóng vai trò trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia. Doanh nghiệp là nơi trực tiếp tổ chức sản xuất, sử dụng công nghệ, tiếp nhận kết quả nghiên cứu và chuyển hóa tri thức thành sản phẩm, dịch vụ, năng suất và giá trị gia tăng. Khi vai trò này chưa rõ, khoa học – công nghệ dễ tách rời thực tiễn sản xuất; kết quả nghiên cứu khó được thương mại hóa; năng lực hấp thụ và làm chủ công nghệ của nền kinh tế bị hạn chế. Điều đó khiến tư liệu sản xuất chậm được hiện đại hóa, năng suất lao động tăng chậm, sản phẩm có hàm lượng tri thức thấp và nền kinh tế khó hình thành các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao.

2.3. Định hướng phát triển lực lượng sản xuất trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Đứng trước những vấn đề đang đặt ra, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã đưa ra những định hướng quan trọng nhằm thúc đẩy sự hình thành và phát triển lực lượng sản xuất đáp ứng yêu cầu của thời kỳ phát triển mới. Những định hướng này tập trung vào những vấn đề sau:

Phát huy nhân tố con người với tư cách là chủ thể sáng tạo và là trung tâm của quá trình phát triển. Đại hội XIV xác định yêu cầu "Phát triển toàn diện con người Việt Nam về đạo đức, trí tuệ, ý thức dân tộc, trách nhiệm công dân, thượng tôn pháp luật, năng lực sáng tạo, thẩm mỹ, thể lực, kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng số" (ĐCSVN, 2026, t.1, tr.99). Phát triển con người không chỉ dừng lại ở nâng cao trình độ học vấn, mà còn hướng tới hình thành phẩm chất, năng lực, kỹ năng và bản lĩnh cần thiết để thích ứng với nền sản xuất hiện đại. Trên cơ sở đó, Đảng nhấn mạnh phải "thực hiện nhất quán giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, quyết định tương lai dân tộc" (ĐCSVN, 2026, t.1, tr.100), bởi giáo dục chính là con đường cơ bản để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo lập nền tảng tri thức cho phát triển lực lượng sản xuất mới. Đồng thời, yêu cầu "có cơ chế, chính sách đặc biệt để phát hiện, thu hút, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài; chú trọng thu hút các nhà khoa học giỏi, chuyên gia đầu ngành trong và ngoài nước, nhất là các ngành khoa học cơ bản và các lĩnh vực đặc biệt quan trọng" (ĐCSVN, 2026, t.1, tr.103), thể hiện tư duy chiến lược của Đảng trong việc xây dựng đội ngũ lao động sáng tạo, có khả năng dẫn dắt khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Vì vậy, xây dựng con người Việt Nam có tri thức, bản lĩnh, kỹ năng nghề nghiệp và năng lực đổi mới sáng tạo là con đường căn bản để nâng cao trình độ lực lượng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia trong thời đại số.

Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực cốt lõi của quá trình phát triển lực lượng sản xuất. Lênin chỉ rõ: "Chủ nghĩa xã hội không thể chiến thắng nếu không có kỹ thuật lớn dựa trên những thành tựu mới nhất của khoa học" (V.I. Lênin, 1981, t.36, tr.182.) Xây dựng nền sản xuất xã hội chủ nghĩa tất yếu phải gắn với phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ và nâng cao trình độ văn hóa - kỹ thuật của người lao động. Vì vậy, Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh: "Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải thực sự trở thành động lực then chốt của tăng trưởng; là nền tảng nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh; là công cụ nâng cao hiệu quả quản trị, năng lực tự chủ quốc gia, bảo đảm quốc phòng, an ninh; là phương thức để tạo ra các mô hình kinh doanh mới, việc làm mới, giá trị gia tăng mới" (ĐCSVN, 2026, t.1, tr.31). Quan điểm này cho thấy Đảng đặt khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vào vị trí trung tâm của lực lượng sản xuất hiện đại. Khi khoa học được vật chất hóa thành công nghệ, dữ liệu, nền tảng số, quy trình quản trị và mô hình kinh doanh mới, nó trực tiếp tham gia vào quá trình tạo ra của cải xã hội. Do đó, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chính là con đường căn bản để nâng cao năng suất lao động, hiện đại hóa tư liệu sản xuất, hình thành các ngành nghề mới và thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất ở trình độ cao hơn.

Phát triển hạ tầng số và dữ liệu số như nền tảng vật chất mới của lực lượng sản xuất. Văn kiện Đại hội nhấn mạnh yêu cầu: "Thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia toàn diện, trước hết là hoàn thiện hạ tầng số, dữ liệu số; xây dựng Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, công dân số; bảo đảm an ninh mạng, an toàn dữ liệu" (ĐCSVN, 2026, t.1, tr.31). Quan điểm này phản ánh nhận thức mới về tư liệu sản xuất trong thời đại số. Nếu ở giai đoạn công nghiệp hóa, máy móc, nhà xưởng và nguyên liệu là những yếu tố cơ bản của tư liệu sản xuất thì trong nền kinh tế số, dữ liệu, nền tảng số, trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây và hạ tầng kết nối thông minh đang trở thành những nguồn lực có ý nghĩa chiến lược. Khả năng thu thập, xử lý, phân tích và khai thác dữ liệu ngày càng quyết định hiệu quả của hoạt động sản xuất, kinh doanh và quản trị xã hội. Do đó, phát triển hạ tầng số không chỉ là đầu tư cho công nghệ mà còn là quá trình xây dựng những điều kiện vật chất mới cho sự phát triển của lực lượng sản xuất trong tương lai.

Đổi mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu: "Xác lập mô hình tăng trưởng mới với mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế" (ĐCSVN, 2026, t.2, tr.377). Định hướng này phản ánh sự chuyển dịch từ mô hình tăng trưởng theo chiều rộng sang mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, lấy năng suất lao động, tiến bộ khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo làm nền tảng. Đây là quá trình tái cấu trúc lực lượng sản xuất theo hướng hiện đại, trong đó tri thức trở thành nguồn lực quan trọng, công nghệ trở thành công cụ sản xuất chủ yếu và đổi mới sáng tạo trở thành động lực dẫn dắt tăng trưởng.

KẾT LUẬN

Phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay là quá trình chuyển từ khai thác các nguồn lực truyền thống sang phát huy tri thức, công nghệ, dữ liệu và đổi mới sáng tạo. Những yếu tố mới này mở ra khả năng nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tuy vậy, các hạn chế về nhân lực, công nghệ, hạ tầng số và năng lực sáng tạo vẫn cần được khắc phục. Định hướng của Đại hội XIV vì thế có ý nghĩa chiến lược, tạo nền tảng để lực lượng sản xuất Việt Nam phát triển hiện đại, tự chủ và bền vững hơn.

TS. Huỳnh Thị Phương Trang

Trường Đại học Quốc tế Miền Đông

TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. C. Mác, & Ph. Ăngghen (1993), Toàn tập (Tập 23), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 
    2. Cục Thống kê (2024), Niêm giám thống kê 2024, Cục Thống kê, Hà Nội. 
    3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026a), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập 1), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội. 
     4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026b), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập 2), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội. 
     5. Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia, (2026), Năng suất lao động của Việt Nam giai đoạn 2021–2025. https://tcvn.gov.vn/nang-suat-lao-dong-cua-viet-nam-giai-doan-2021-2025/ 
     6. V.I. Lênin (1981a), Toàn tập (Tập 44), Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.
     7. V.I. Lênin, (1981b), Toàn tập (Tập 36), Nxb Tiến bộ Mátxcơva.