1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu phát triển nhanh, bền vững, đảm bảo tăng trưởng đạt hai con số, Đảng và Nhà nước cần tiếp tục huy động hiệu quả mọi nguồn lực trong xây dựng đất nước. Văn kiện Đại hội XIV đưa ra quan điểm xuyên suốt là khơi thông mọi nguồn lực, trong đó nội lực là chủ đạo, ngoại lực là quan trọng và nguồn lực con người là trung tâm phát triển của đất nước, đồng thời nhấn mạnh nguồn nhân lực chất lượng cao giữ vai trò then chốt, là "chìa khóa" trong phát triển đất nước. Báo cáo chính trị nhấn mạnh nguồn nhân lực chất lượng cao là động lực trung tâm trong nền kinh tế tri thức, là lực lượng có năng lực sáng tạo và thích ứng công nghệ cao. Đây là yếu tố quyết định để nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh và thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đồng thời xác định đầu tư cho nhân lực khoa học và công nghệ là đầu tư cho phát triển bền vững, trực tiếp nâng tầm trí tuệ của dân tộc. Trên nền tảng đó, bài tham luận tập trung làm rõ những vấn đề chủ nghĩa xã hội khoa học trong quan điểm Đại hội XIV về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và vận dụng trong nghiên cứu khoa học.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Quan điểm Đại hội XIV của Đảng về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Một là, con người là trung tâm, chủ thể và mục tiêu cao nhất của chủ nghĩa xã hội
Chủ nghĩa xã hội khoa học xác định mục đích cuối cùng là giải phóng con người và tạo điều kiện cho sự phát triển tự do, toàn diện của mỗi cá nhân. Văn kiện XIV đã vận dụng và phát triển sáng tạo nội dung này khi xác định quan điểm: "Dân là gốc, Nhân dân là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu, là động lực và là nguồn lực của sự phát triển" [1]. Đây là sự vận dụng sáng tạo bản chất nhân văn của chủ nghĩa xã hội khoa học trong điều kiện mới. Đảng khẳng định mọi chủ trương, chính sách phát triển kinh tế xã hội đều phải hướng tới nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của Nhân dân; lấy con người làm giá trị cốt lõi của quá trình phát triển.
Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu phát triển con người Việt Nam toàn diện, đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và nền kinh tế số. Điều này phản ánh rõ quan điểm của chủ nghĩa xã hội khoa học về mục tiêu giải phóng con người, tạo điều kiện cho mỗi cá nhân phát triển toàn diện năng lực và giá trị bản thân. Trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao được thể hiện ở việc chú trọng bồi dưỡng con người không chỉ về tri thức, trình độ chuyên môn mà còn về bản lĩnh chính trị, đạo đức, ý thức công dân, tinh thần trách nhiệm và khát vọng cống hiến. Thông qua đó, nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ là lực lượng trực tiếp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn là nhân tố quyết định bảo đảm sự phát triển nhanh và bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Hai là, nguồn nhân lực chất lượng cao là "chìa khóa", "động lực trung tâm" của phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay
Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về con người, Đảng ta luôn khẳng định con người vừa là chủ thể, vừa là mục tiêu của sự nghiệp cách mạng. C. Mác khẳng định: "Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội". Vì vậy, trong tiến trình phát triển đất nước, con người giữ vai trò quyết định, trong đó nguồn nhân lực chất lượng cao có ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh và sự phát triển ổn định của quốc gia. Kế thừa và phát triển quan điểm đó, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định "Trong xây dựng, phát triển con người, nguồn nhân lực được xác định là chìa khóa, là đột phá chiến lược để phát triển đất nước" [2]. Đây không chỉ là yêu cầu khách quan của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà còn là điều kiện quyết định để nâng cao năng suất lao động, năng lực đổi mới sáng tạo và sức cạnh tranh quốc gia.

Đại tướng Nguyễn Tân Cương kiểm tra chất lượng huấn luyện chiến thuật đối với học viên đào tạo sĩ quan ở Trường Sĩ quan Lục quân 1
Thực tiễn phát triển của các quốc gia trên thế giới cho thấy, nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quyết định hiệu quả khai thác và sử dụng các nguồn lực khác. Quốc gia nào có nguồn nhân lực chất lượng cao phát triển sẽ có điều kiện thuận lợi để tiếp cận khoa học, công nghệ hiện đại, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; ngược lại, nếu chất lượng nguồn nhân lực thấp sẽ trở thành lực cản đối với quá trình phát triển. Trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, kinh tế thế giới đang chuyển mạnh sang mô hình kinh tế tri thức và xã hội số. "Trong kinh tế tri thức, nguồn lực phát triển quan trọng nhất là tri thức, nhân lực có năng lực sáng tạo và thích ứng công nghệ cao" [3], trở thành nguồn lực phát triển quan trọng hàng đầu. Đây là nhân tố quyết định năng lực phát triển quốc gia. Vì vậy, đầu tư phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao chính là đầu tư tạo nền tảng phát triển, góp phần nâng cao trí tuệ, bản lĩnh và sức mạnh của dân tộc trong thời kỳ mới.
Ba là, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là nhân tố quyết định phát triển lực lượng sản xuất
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế đặt ra nhiệm vụ cấp thiết phải xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển mới của đất nước. Đại hội XIV của Đảng xác định: "Tập trung chuyển đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao; đẩy mạnh thu hút và trọng dụng nhân tài" [4]. Trong đó xác định phát triển con người và nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quyết định đối với quá trình hiện đại hóa lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia. Quan điểm này thể hiện sự chuyển biến trong tư duy phát triển, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu của tăng trưởng.
Đối với phát triển lực lượng sản xuất, trên cơ sở nhu cầu, thực tiễn phát triển đất nước, Đảng ta cũng xác định ưu tiên phát triển nhân lực cho các ngành công nghệ chiến lược, có khả năng tạo bước đột phá trong phát triển lực lượng sản xuất hiện đại. Văn kiện Đại hội XIV khẳng định: "Đẩy mạnh đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao, tạo động lực then chốt nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng, năng lực cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và của nền kinh tế" [5]. Đây là những ngành giữ vai trò nền tảng trong quá trình chuyển đổi mô hình phát triển từ chiều rộng sang chiều sâu, từ dựa vào tài nguyên và lao động giá rẻ sang dựa vào tri thức và công nghệ hiện đại.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, phát triển lực lượng sản xuất hiện đại cần dựa trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Đánh giá được tầm quan trọng này, Đảng ta chủ trương xây dựng "giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh, nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp", đối với giai cấp nông dân "phát huy vai trò chủ thể trong quá trình phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn với xây dựng nông thôn mới" và xây dựng đội ngũ trí thức "ngày càng lớn mạnh, có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới"; đồng thời phát triển đội ngũ doanh nhân lớn mạnh về số lượng, chất lượng, có tinh thần cống hiến cho dân tộc, có chuẩn mực văn hóa, đạo đức tiến bộ và trình độ quản trị, kinh doanh giỏi.
Bốn là, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn liền với công bằng và tiến bộ xã hội
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời kỳ mới phải gắn chặt với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm mọi người dân đều có cơ hội tham gia và thụ hưởng thành quả phát triển. Đây là biểu hiện rõ nét bản chất tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội, lấy con người làm trung tâm của mọi chiến lược phát triển. Đảng ta khẳng định tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với phát triển xã hội, chăm lo đời sống nhân dân và bảo đảm an sinh xã hội bền vững. Vì vậy, xây dựng hệ thống an sinh xã hội hiện đại, đa tầng, bao phủ toàn dân không chỉ góp phần ổn định xã hội mà còn tạo điều kiện để người lao động yên tâm học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ chuyên môn và phát huy năng lực sáng tạo trong lao động, công tác.
Để xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, quá trình "Phát triển hài hòa giáo dục và đào tạo giữa các vùng, miền; có chính sách ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn, các đối tượng chính sách" [6]. Đây là nội dung thể hiện sự tiến bộ, công bằng trong tiếp cận giáo dục, đào tạo và cơ hội phát triển giữa các vùng miền, các tầng lớp xã hội. Việc đào tạo con người không chỉ dừng lại ở trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp mà còn gắn với xây dựng hệ giá trị và phẩm chất đạo đức cách mạng như yêu nước, đoàn kết, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương và sáng tạo. Điều đó thể hiện quan điểm xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa vừa có năng lực chuyên môn cao, vừa có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong giai đoạn hiện nay.
2.2. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao theo tinh thần đại hội XIV và định hướng trong nghiên cứu khoa học
Một là, tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng
Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò của con người trong sự phát triển xã hội, Đảng ta luôn khẳng định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội; muốn xây dựng xã hội mới phải xây dựng con người mới có tri thức, đạo đức, năng lực sáng tạo và ý thức trách nhiệm xã hội. Để có con người mới xã hội chủ nghĩa cần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ là yêu cầu phát triển kinh tế mà còn là vấn đề mang bản chất của chủ nghĩa xã hội khoa học, gắn trực tiếp với việc phát triển lực lượng sản xuất hiện đại và xây dựng con người Việt Nam thời kỳ mới.
Để đáp ứng yêu cầu phát triển mới, chủ trương đặt ra là xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, công bằng theo hướng "chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế" [7]. Nội dung đổi mới không chỉ tập trung vào chương trình, phương pháp dạy học mà còn hướng tới phát triển toàn diện phẩm chất, năng lực, tư duy sáng tạo và kỹ năng nghề nghiệp của người học. Đồng thời, tăng cường gắn kết giữa giáo dục với chuyển đổi số, khoa học, công nghệ, thị trường lao động và yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội, qua đó hình thành đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn cao, tác phong công nghiệp và khả năng thích ứng với môi trường sản xuất hiện đại.
Hai là, hoàn thiện thể chế và thực hiện cơ chế chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài
Đây là giải pháp quan trọng nhằm tạo động lực phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời kỳ mới. Đảng ta xác định: "Thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn" nhưng cũng là "đột phá của đột phá" [8]. Vì vậy, cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách đồng bộ, minh bạch, có tính đột phá để phát hiện, thu hút, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng hiệu quả nhân tài trên tất cả các lĩnh vực. Đặc biệt, cần có chính sách ưu tiên đối với đội ngũ chuyên gia đầu ngành, nhà khoa học giỏi, nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực mũi nhọn như khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, giáo dục, quốc phòng và an ninh. Đồng thời, phải tạo môi trường làm việc thuận lợi, chế độ đãi ngộ phù hợp và điều kiện phát triển nghề nghiệp để nhân tài yên tâm cống hiến lâu dài cho đất nước.
Bên cạnh đó, cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ theo hướng dân chủ, khách quan, công khai và thực chất, lấy hiệu quả công việc, sản phẩm cụ thể và uy tín thực tiễn làm thước đo chủ yếu để đánh giá cán bộ. Đảng chủ trương khuyến khích và bảo vệ những cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; đồng thời kiên quyết khắc phục tình trạng cào bằng, bình quân chủ nghĩa trong sử dụng và đánh giá nhân lực. Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp của hệ thống chính trị, nhất là cán bộ cấp chiến lược và cấp cơ sở thật sự tiêu biểu, có tư duy, năng lực quản trị tiên tiến, phù hợp với mô hình tổ chức mới và yêu cầu phát triển bứt phá của đất nước. Đây chính là cơ sở quan trọng để phát huy tối đa tiềm năng trí tuệ của con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Ba là, đẩy mạnh hội nhập quốc tế toàn diện trên các lĩnh vực
Trong điều kiện cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, hội nhập quốc tế không chỉ là yêu cầu khách quan mà còn là động lực quan trọng để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quốc gia. Đảng ta chủ trương mở rộng hợp tác quốc tế về giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển giao tri thức nhằm tiếp thu tinh hoa văn minh nhân loại phục vụ phát triển đất nước. Thông qua hội nhập quốc tế, nguồn nhân lực Việt Nam có điều kiện tiếp cận với các mô hình đào tạo tiên tiến, phương pháp quản trị hiện đại và môi trường làm việc chuyên nghiệp, từ đó nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và năng lực sáng tạo.
Đồng thời, việc hội nhập quốc tế sâu rộng đòi hỏi phải xây dựng đội ngũ lao động có khả năng thích ứng nhanh với sự biến đổi của khoa học, công nghệ và thị trường lao động toàn cầu. Vì vậy, cần chú trọng đào tạo nguồn nhân lực có trình độ ngoại ngữ, kỹ năng số, tư duy đổi mới sáng tạo, tác phong công nghiệp và khả năng làm việc trong môi trường quốc tế. Cùng với đó, cần tăng cường liên kết giữa các cơ sở đào tạo trong nước với các tổ chức giáo dục, nghiên cứu và doanh nghiệp nước ngoài nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực. Đây là giải pháp quan trọng để xây dựng đội ngũ nhân lực chất lượng cao có đủ phẩm chất, năng lực và bản lĩnh hội nhập, góp phần nâng cao vị thế, sức cạnh tranh và năng lực phát triển bền vững của đất nước trong thời kỳ mới.
3. Vận dụng trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học ở Trường Sĩ quan Lục quân 1
Trên cơ sở nội dung quan điểm Đại hội XIV về phát triển nguồn nhân lực chất lượng, trong hoạt động nghiên cứu khoa học, cần tập trung nghiên cứu những vấn đề sau: Một là, những vấn đề lý luận và thực tiễn mới đặt ra đối với sự phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong điều kiện chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Hai là, sự chuyển dịch cơ cấu giai cấp, sự biến đổi của liên minh giai cấp trong thời đại kinh tế số và vai trò của giai cấp công nhân hiện đại trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất. Ba là, nghiên cứu những thể chế, chính sách đặc thù thu hút và trọng dụng nhân tài. Bốn là, nghiên cứu mô hình đào tạo nhân lực cho các ngành công nghệ lõi và chiến lược. Năm là, nghiên cứu về xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín ngang tầm nhiệm vụ. Sáu là, nghiên cứu về thu hút trọng dụng nhân tài và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong xây dựng Quân đội hiện nay.
Việc nghiên cứu những nội dung này có ý nghĩa quan trọng trong việc bổ sung, phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội và cung cấp cơ sở khoa học cho hoạch định chủ trương, chính sách phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới. Những nội dung nghiên cứu trên cần trọng tâm là làm rõ những quan niệm, nội hàm, nội dung, yêu cầu và đề xuất giải pháp theo hướng khoa học, hiệu quả, góp phần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao vừa có trình độ chuyên môn, năng lực quản lý hiện đại, vừa có bản lĩnh chính trị vững vàng và đạo đức cách mạng trong sáng, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là yêu cầu khách quan và là nhân tố quyết định sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong thời kỳ mới. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã khẳng định rõ vai trò trung tâm của con người, coi nguồn nhân lực chất lượng cao là "chìa khóa", là động lực quan trọng trong phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Vì vậy, cần tiếp tục đổi mới giáo dục, đào tạo, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, thu hút và trọng dụng nhân tài nhằm xây dựng đội ngũ nhân lực có trình độ chuyên môn cao, bản lĩnh chính trị vững vàng và đạo đức cách mạng trong sáng. Đối với Quân đội, đây là cơ sở quan trọng để xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới./.
4. Kết luận
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là yêu cầu khách quan của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và là nhân tố quyết định nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế sâu rộng. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã thể hiện bước phát triển mới trong tư duy lý luận khi khẳng định con người là trung tâm, chủ thể, mục tiêu, động lực và nguồn lực của sự phát triển; đồng thời xác định nguồn nhân lực chất lượng cao là "chìa khóa", là đột phá chiến lược và động lực trung tâm để thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Những quan điểm đó vừa kế thừa những giá trị cốt lõi của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vừa phản ánh yêu cầu thực tiễn của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.
Đối với hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học ở Trường Sĩ quan Lục quân 1, việc quán triệt và vận dụng đúng đắn quan điểm của Đại hội XIV về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây không chỉ là cơ sở để nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quân đội mà còn góp phần định hướng nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn mới về phát triển con người, phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng đội ngũ cán bộ và thu hút nhân tài trong điều kiện chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Thực hiện tốt những nội dung đó sẽ góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhà khoa học và sĩ quan quân đội có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn cao, năng lực đổi mới sáng tạo và phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới.
Nguyễn Phú Thành
Giảng viên, Trường Sĩ quan Lục quân 1
Chú thích:
[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Sđd, tr.38-39.
[2]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Sđd, tr.56.
[3]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Sđd, tr.9.
[4]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Sđd, tr.147.
[5]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Sđd, tr.145.
[6]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Sđd, tr.102.
[7]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Sđd, tr. 379.
[8]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Sđd, tr.28.
Tài liệu tham khảo:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2015), Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, tập 7.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2015), Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, tập 52.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, Hà Nội.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, tập I.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, tập II.
6. Nguyễn Thị Ngọc (2023), Công nghiệp văn hóa ở một số quốc gia Châu Âu và kinh nghiệm cho Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.