1. Đặt vấn đề
Chất lượng đào tạo cán bộ quân đội phải được thể hiện ở khả năng tiếp tục học tập, cập nhật tri thức và giải quyết nhiệm vụ sau tốt nghiệp. Khi nguồn học liệu và công cụ hỗ trợ ngày càng phong phú, việc tổ chức tự học cần giúp học viên lựa chọn được điều cần nghiên cứu, xác lập căn cứ và chịu trách nhiệm về kết luận. Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị xác định: "Người học là trung tâm, là chủ thể của quá trình giáo dục và đào tạo"1. Quan điểm này đòi hỏi phương thức quản lý tạo điều kiện để học viên chủ động lựa chọn cách học và phát triển khả năng tự học.
Trong nhà trường quân đội, duy trì nền nếp và bảo đảm thời gian tự học là cần thiết, song việc hoàn thành giờ học, truy cập học liệu hoặc nộp bài đúng hạn chưa chứng minh được năng lực học tập độc lập. Khoảng cách giữa mức độ tham gia và chất lượng nhận thức đặt ra yêu cầu xác định lại đối tượng quản lý, cách tổ chức hỗ trợ và căn cứ đánh giá. Bài viết sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu, tiếp cận hệ thống và quản lý theo kết quả để đề xuất khung phân tích cùng giải pháp vận dụng tại các học viện, nhà trường quân đội.
2. Đối tượng và cơ chế quản lý phát triển năng lực tự học tập trên môi trường số
Năng lực tự học tập trên môi trường số của học viên là khả năng huy động kiến thức, kỹ năng, thái độ và kinh nghiệm để chủ động thực hiện nhiệm vụ học tập bằng những nguồn lực số được phép sử dụng, đồng thời tự kiểm tra và điều chỉnh cách học. Năng lực này thể hiện trong quá trình xác định vấn đề, lập kế hoạch, lựa chọn học liệu, xây dựng lập luận và vận dụng kết quả. Kỹ năng sử dụng công nghệ hỗ trợ quá trình nghiên cứu; khả năng giải thích và tự thực hiện nhiệm vụ mới phản ánh mức độ làm chủ hoạt động học tập.
Nghiên cứu tổng quan của Panadero (2017) cho thấy tự điều chỉnh học tập bao hàm các phương diện nhận thức, động cơ, hành vi và cảm xúc. Trong mô hình chu trình của Zimmerman được tổng quan ở công trình này, người học dự kiến mục tiêu, thực hiện và theo dõi hoạt động, sau đó tự đánh giá để điều chỉnh lần học tiếp theo2. Cách tiếp cận đó gợi mở việc xem xét sự phát triển năng lực qua quan hệ giữa mục tiêu, cách thực hiện và khả năng sửa đổi phương pháp. Người học có thể đạt kết quả tốt ở một bài nhưng vẫn cần hỗ trợ nếu chưa giải thích được quá trình nghiên cứu hoặc chưa vận dụng được cách học vào nhiệm vụ khác.
Quản lý phát triển năng lực tự học tập là quá trình các chủ thể có thẩm quyền xác định mục tiêu, tổ chức hoạt động giáo dục, bảo đảm điều kiện và điều chỉnh cách hỗ trợ nhằm nâng cao khả năng tự học của học viên. Đối tượng trực tiếp của quản lý là hoạt động tổ chức phát triển năng lực, gồm việc giao nhiệm vụ, hướng dẫn phương pháp, cung cấp học liệu và đánh giá sự tiến bộ. Học viên trực tiếp thực hiện hoạt động nhận thức. Sự phân định này giúp xác định đúng trách nhiệm của nhà trường khi kết quả tự học chưa đáp ứng yêu cầu: cần xem xét cả thiết kế nhiệm vụ, chất lượng hướng dẫn và điều kiện thực hiện, thay vì quy toàn bộ nguyên nhân cho ý thức người học.
Cơ chế tác động của quản lý diễn ra thông qua những khâu trung gian cụ thể. Mục tiêu rõ giúp giảng viên lựa chọn nhiệm vụ phù hợp; nhiệm vụ đòi hỏi giải thích căn cứ thúc đẩy học viên kiểm chứng thông tin; phản hồi về sai sót giúp người học sửa cách tiếp cận. Kết quả sửa đổi cung cấp thông tin để giảng viên điều chỉnh mức hỗ trợ. Chu trình này chỉ vận hành khi học viên được thực hành và tự quyết định trong phạm vi nhiệm vụ. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Lấy tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào"3. Sự hướng dẫn có giá trị khi giúp người học từng bước tự thực hiện công việc nhận thức.
Đặc điểm đào tạo quân sự đặt ra yêu cầu kết hợp quyền chủ động học tập với kỷ luật và trách nhiệm bảo vệ thông tin. Học viên được lựa chọn cách nghiên cứu trong giới hạn mục tiêu đào tạo, chế độ học tập và phạm vi học liệu được phép khai thác. Đối với học viên đã qua công tác, kinh nghiệm giúp họ nhận diện vấn đề nhưng cũng cần được đối chiếu với lý luận để tránh suy rộng từ trường hợp cá biệt. Các chương trình đào tạo khác nhau đòi hỏi nhiệm vụ và mức hỗ trợ khác nhau; nhà trường cần giữ thống nhất yêu cầu về lập luận có căn cứ, tính tự lực và trách nhiệm đối với sản phẩm.
Chất lượng quản lý phải được xem xét trong quan hệ giữa điều kiện tổ chức, quá trình hỗ trợ và kết quả phát triển năng lực. Kế hoạch đầy đủ nhưng phản hồi chậm có thể làm mất cơ hội sửa sai; học liệu phong phú nhưng nhiệm vụ chỉ yêu cầu chép lại nội dung khó thúc đẩy nghiên cứu độc lập. Điểm số học tập cũng chịu ảnh hưởng của trình độ đầu vào và kinh nghiệm cá nhân. Vì vậy, đánh giá quản lý cần đối chiếu việc nhà trường đã tổ chức với cách học viên thực hiện nhiệm vụ và mức tiến bộ quan sát được, làm rõ khâu nào tạo chuyển biến, khâu nào cần điều chỉnh.
3. Những yêu cầu đặt ra từ thực tiễn tổ chức tự học trên môi trường số
Tư liệu công khai cho thấy chuyển đổi số trong giáo dục quân sự đã đặt ra những vấn đề về sự đồng bộ của điều kiện và phương thức tổ chức. Bài viết trên Cổng thông tin điện tử Học viện Lục quân ngày 29/01/2024 nêu khó khăn về phần mềm phục vụ đào tạo, bảo đảm hạ tầng mạng nội bộ và sự không đồng đều về trình độ công nghệ thông tin4. Nghiên cứu của Dương Đắc Hục và Hoàng Đình Chính công bố tháng 3/2026 tiếp tục đặt ra yêu cầu đổi mới quản lý, kết nối dữ liệu và phát triển nguồn nhân lực phục vụ chuyển đổi số trong nhà trường quân đội5. Đây là những căn cứ nhận diện vấn đề cần khảo sát tại từng cơ sở; chúng chưa cho phép kết luận về mức độ năng lực tự học của toàn bộ học viên hiện nay.
Yêu cầu trước hết là chuyển mục tiêu ứng dụng công nghệ thành yêu cầu phát triển năng lực có thể đánh giá. Số lượt truy cập phản ánh mức tham gia, chưa cho biết học viên đọc có mục đích hay chỉ tải tài liệu; sản phẩm đúng hình thức chưa thể hiện mức độ tự lực. Khi chỉ tiêu quản lý dừng ở những dữ liệu dễ thống kê, hoạt động học tập có thể hướng vào hoàn thành thủ tục. Nhà trường cần xác định những biểu hiện gắn với hoạt động nhận thức: học viên giải thích được vì sao chọn nguồn, căn cứ nào dẫn đến kết luận và điều gì cần sửa sau phản hồi.
Yêu cầu tiếp theo là tổ chức hỗ trợ phù hợp với điểm xuất phát của người học. Thành thạo thiết bị không đồng nghĩa với biết đánh giá nguồn; kinh nghiệm chỉ huy, quản lý cũng chưa bảo đảm kỹ năng hệ thống hóa tri thức. Một cách hướng dẫn thống nhất cho mọi đối tượng dễ dẫn đến hỗ trợ quá mức với người đã thành thạo và chưa đủ với người còn khó khăn. Việc đánh giá đầu vào cần giúp giảng viên phân biệt thiếu phương pháp với thiếu điều kiện tiếp cận, từ đó lựa chọn nội dung bồi dưỡng và mức độ hướng dẫn.
Sự phổ biến của công cụ trí tuệ nhân tạo làm rõ hơn yêu cầu kiểm chứng quá trình học tập. Công cụ có thể tạo văn bản mạch lạc nhưng chứa thông tin sai hoặc tài liệu tham khảo không tồn tại. Nếu nhiệm vụ chỉ yêu cầu tổng hợp nội dung, người đánh giá khó xác định phần nhận thức do học viên thực hiện. Yêu cầu giải thích nguồn, bảo vệ lập luận và vận dụng vào tình huống mới cần được tích hợp ngay khi giao nhiệm vụ. Quy định sử dụng công cụ phải đi cùng phương thức đánh giá phù hợp, bảo đảm người học có trách nhiệm kiểm chứng nội dung.
Việc phối hợp giữa cơ quan đào tạo, khoa chuyên môn, đơn vị quản lý học viên và bộ phận bảo đảm cũng cần thống nhất từ mục tiêu đến cách xử lý khó khăn. Nếu mỗi lực lượng sử dụng một tiêu chí riêng, học viên có thể hoàn thành yêu cầu hành chính nhưng thiếu thời gian sửa sản phẩm chuyên môn. Một trở ngại kỹ thuật kéo dài cũng có thể bị hiểu thành chậm tiến độ cá nhân. Cơ chế quản lý phải giúp xác định đúng nguyên nhân và chuyển vấn đề đến chủ thể có khả năng giải quyết.
4. Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý
Một là, cụ thể hóa mục tiêu năng lực và phân định trách nhiệm theo quá trình tổ chức tự học.
Lãnh đạo, chỉ huy nhà trường cần chỉ đạo đưa yêu cầu phát triển năng lực tự học vào chương trình và kế hoạch đào tạo. Cơ quan đào tạo phối hợp với các khoa xác định kết quả cần đạt ở từng giai đoạn: từ thực hiện nhiệm vụ có hướng dẫn đến tự lựa chọn căn cứ, giải thích kết luận và vận dụng phương pháp. Việc cụ thể hóa phải gắn với nhiệm vụ nghề nghiệp của đối tượng đào tạo, tránh xây dựng bộ tiêu chí chung quá rộng, khó sử dụng trong từng học phần.
Trên cơ sở đó, cơ quan đào tạo thống nhất tiến độ và thời điểm đánh giá; khoa, bộ môn chịu trách nhiệm chất lượng nhiệm vụ và phản hồi chuyên môn; đơn vị quản lý học viên bảo đảm thời gian, nền nếp và tiếp nhận khó khăn. Thư viện và bộ phận công nghệ thông tin cung cấp học liệu, duy trì khả năng truy cập theo thẩm quyền. Mỗi học phần cần có đầu mối tổng hợp vướng mắc để phân biệt vấn đề chuyên môn, phương pháp và kỹ thuật. Cách phân công này tạo căn cứ kiểm tra trách nhiệm đối với kết quả, hạn chế giao việc trùng lặp.
Kế hoạch quản lý cần quy định việc điều chỉnh sau đánh giá. Khi nhiều học viên cùng gặp khó khăn ở một nhiệm vụ, khoa chuyên môn phải kiểm tra lại yêu cầu, nguồn tài liệu và cách hướng dẫn trước khi kết luận về năng lực cá nhân. Khi khó khăn thuộc điều kiện truy cập, bộ phận bảo đảm cần xử lý hoặc đề xuất phương án phù hợp. Chất lượng phối hợp được xem xét qua việc vấn đề có được giải quyết và hoạt động học tập có được cải thiện hay không.
Hai là, quản lý chất lượng nhiệm vụ và tổ chức hướng dẫn theo mức độ tự lực.
Khoa, bộ môn cần lựa chọn nhiệm vụ buộc học viên thực hiện thao tác tư duy phù hợp mục tiêu học phần. Mỗi nhiệm vụ phải nêu vấn đề nghiên cứu, sản phẩm, điều kiện học liệu và tiêu chí đánh giá; đồng thời dành phạm vi lựa chọn để học viên tự quyết định cách tiếp cận. Có thể yêu cầu đối chiếu các nhận định khác nhau, giải thích một nguyên nhân hoặc lựa chọn phương án xử lý tình huống. Giá trị của nhiệm vụ nằm ở yêu cầu lập luận và vận dụng, không phụ thuộc vào độ dài bài nộp.
Chẳng hạn, với học phần về quản lý, giáo dục bộ đội, giảng viên có thể sử dụng tình huống đã được phép khai thác, yêu cầu học viên xác định thông tin còn thiếu, đối chiếu căn cứ và giải thích phương án giải quyết. Học viên cần chỉ ra điều kiện áp dụng và giới hạn của phương án. Khi thay đổi một dữ kiện quan trọng, giảng viên yêu cầu người học xem xét lại kết luận. Cách tổ chức này giúp phân biệt việc nhớ nội dung với khả năng tự nghiên cứu, đồng thời tạo cơ hội vận dụng kinh nghiệm công tác có kiểm chứng.
Việc hướng dẫn cần bám vào khó khăn bộc lộ trong nhiệm vụ. Giảng viên có thể làm mẫu cách tìm và đối chiếu nguồn ở giai đoạn đầu, sau đó yêu cầu học viên tự thực hiện và giải thích lựa chọn. Khi học viên đã thành thạo, mức hướng dẫn giảm dần để tăng trách nhiệm tự giải quyết. Qua trao đổi nhóm, mỗi người phải có sản phẩm hoặc phần giải trình riêng; sau phản hồi, học viên tự sửa và nêu căn cứ điều chỉnh. Cán bộ quản lý theo dõi việc thực hiện, còn nhận xét về chất lượng lập luận thuộc trách nhiệm chuyên môn của giảng viên.
Ba là, đánh giá bằng minh chứng về quá trình nhận thức và khả năng vận dụng
Nhà trường cần xây dựng tiêu chí tự học gắn với kết quả học phần, phân biệt với tiêu chí năng lực số. Thông tư số 02/2025/TT-BGDĐT ngày 24/01/2025 quy định Khung năng lực số cho người học, trong đó có nội dung đánh giá thông tin, an toàn và ứng dụng trí tuệ nhân tạo6. Khung này cung cấp căn cứ tham khảo cho thành tố số; đánh giá tự học còn phải xem xét khả năng xác định mục tiêu, kiểm soát cách thực hiện và điều chỉnh phương pháp. Một học viên biết sử dụng công cụ vẫn cần được đánh giá về mức độ tự lực khi giải quyết vấn đề chuyên môn.
Trong từng nhiệm vụ, giảng viên cần tập trung vào những minh chứng có giá trị: câu hỏi nghiên cứu, nguồn được lựa chọn, lập luận chính và nội dung sửa sau phản hồi. Học viên giải thích vì sao chấp nhận hoặc bác bỏ một thông tin, phần nào còn chưa đủ căn cứ và cách kiểm tra tiếp theo. Có thể kết hợp nhận xét sản phẩm với trao đổi trực tiếp hoặc xử lý tình huống tương đương. Việc lưu minh chứng phải có chọn lọc, phục vụ nhận định về phương pháp học; tránh tạo thêm hồ sơ nặng về hình thức.
Đánh giá sự tiến bộ cần được tiến hành qua nhiều nhiệm vụ, có ghi nhận mức hỗ trợ và điều kiện thực hiện. Học viên tự sửa được sai sót, giảm phụ thuộc vào gợi ý và vận dụng phương pháp sang vấn đề mới là những biểu hiện cần theo dõi. Khi xem xét tác dụng của biện pháp quản lý, nhà trường cần đối chiếu yêu cầu nhiệm vụ, năng lực đầu vào và mức hướng dẫn giữa các lần đánh giá; sự tăng điểm riêng lẻ chưa đủ chứng minh hiệu quả. Phản hồi phải chỉ rõ điều cần sửa và cách kiểm tra kết quả sửa để học viên tiếp tục điều chỉnh.
Bốn là, bảo đảm điều kiện số theo nhiệm vụ học tập và trách nhiệm sử dụng thông tin
Đầu tư học liệu và hạ tầng cần xuất phát từ những hoạt động người học phải thực hiện. Thư viện phối hợp với khoa chuyên môn lựa chọn nguồn theo học phần, bổ sung thông tin về xuất xứ, thời điểm và phạm vi sử dụng để học viên thuận tiện tra cứu. Bộ phận kỹ thuật cần bảo đảm việc tìm kiếm, truy cập và phản hồi trong thời gian tự học. Hiệu quả bảo đảm được xác định bằng khả năng đáp ứng nhiệm vụ cụ thể, thay cho việc chỉ thống kê số tài liệu đã số hóa hoặc thiết bị đã trang bị.
Quy định bảo vệ thông tin phải được cụ thể hóa trong thiết kế nhiệm vụ, quyền truy cập và lựa chọn công cụ. Giảng viên chỉ giao nguồn, tình huống và dữ liệu trong phạm vi được phép; học viên phải biết nội dung nào được xử lý, chia sẻ trên từng hệ thống. Với tài liệu hạn chế tiếp cận, việc học tập sử dụng môi trường và phương tiện được cho phép. Tổ chức điều kiện an toàn ngay từ đầu giúp học viên thực hành đúng quy định và tránh phải tự lựa chọn giữa hoàn thành nhiệm vụ với yêu cầu bảo vệ thông tin.
Đối với trí tuệ nhân tạo, nhà trường cần hướng dẫn phạm vi được sử dụng, trách nhiệm khai báo phần có hỗ trợ và cách kiểm chứng. Học viên phải kiểm tra sự tồn tại, độ tin cậy của nguồn trước khi dẫn, giải thích được nội dung đưa vào bài và chịu trách nhiệm về kết luận. Khi có nghi vấn về tính tự lực, giảng viên cần đối chiếu sản phẩm với quá trình thực hiện và yêu cầu giải trình, không kết luận chỉ từ kết quả một phần mềm nhận diện. Quy định rõ cách dùng công cụ giúp bảo vệ trung thực học thuật và duy trì cơ hội rèn luyện tư duy.
Năm là, tổ chức tự đánh giá và từng bước kiểm chứng giải pháp quản lý.
Sau mỗi nhiệm vụ quan trọng, học viên cần đối chiếu mục tiêu với kết quả, xác định sai sót thuộc cách hiểu vấn đề, lựa chọn nguồn hay lập luận. Giảng viên hướng dẫn người học chọn một hạn chế cần khắc phục và kiểm tra lại ở nhiệm vụ tiếp theo. Việc tự đánh giá chỉ có tác dụng khi dẫn đến thay đổi cách thực hiện; những bản tự nhận xét chung về tinh thần học tập khó cung cấp căn cứ cải thiện phương pháp. Ở giai đoạn cuối khóa, học viên cần tự xây dựng nhiệm vụ nghiên cứu gắn chức trách dự kiến và giải thích cách tiếp tục bổ sung kiến thức sau đào tạo.
Để đưa giải pháp vào thực hiện, nhà trường nên lựa chọn một số học phần và đối tượng phù hợp để triển khai trước. Cơ quan đào tạo phối hợp với khoa chuyên môn xác định mức năng lực ban đầu, nhiệm vụ đánh giá, điều kiện bảo đảm và thời điểm xem xét kết quả. Kết thúc giai đoạn thực hiện, các lực lượng đối chiếu sản phẩm, mức tự lực, phản hồi của học viên và khối lượng công việc phát sinh. Chỉ mở rộng cách làm sau khi đã điều chỉnh những bất hợp lý và có căn cứ về tính khả thi, khả năng hỗ trợ học tập. Quá trình kiểm chứng cần được duy trì để quản lý thích ứng với sự thay đổi của chương trình và công nghệ.
5. Kết luận
Quản lý phát triển năng lực tự học tập trên môi trường số cần hướng vào khả năng học viên tự tổ chức, kiểm chứng và điều chỉnh hoạt động nhận thức. Nhà trường tạo chuyển biến thông qua nhiệm vụ phù hợp, hướng dẫn đúng mức và điều kiện học tập được bảo đảm; học viên trực tiếp thực hiện và chịu trách nhiệm về kết quả. Phân định rõ các khâu tác động giúp lựa chọn minh chứng đánh giá, xử lý đúng nguyên nhân khó khăn và kiểm chứng hiệu quả giải pháp. Đây là cơ sở nâng cao chất lượng tự học trong đào tạo quân sự và phát triển khả năng tự bồi dưỡng của cán bộ sau tốt nghiệp.
Lê Tuấn Anh
Hệ 1, Học viện Lục quân, Bộ Quốc phòng
Chú thích:
1. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Mục I, khoản 3.
2. Panadero, E. (2017). A Review of Self-regulated Learning: Six Models and Four Directions for Research. Frontiers in Psychology, 8, 422. https://doi.org/10.3389/fpsyg.2017.00422.
3. Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập. Tập 5. H. NXB Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 312.
5. Dương Đắc Hục, Hoàng Đình Chính (2026). Nâng cao chất lượng quản lý giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học ở các học viện, trường sĩ quan quân đội trước yêu cầu chuyển đổi số. https://www.quanlynhanuoc.vn, ngày 19/3/2026.
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2025). Thông tư số 02/2025/TT-BGDĐT ngày 24/01/2025 quy định Khung năng lực số cho người học. Khung năng lực số kèm theo Thông tư, các miền I, IV, VI.