Ảnh minh họa
Trên cơ sở vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về nhà nước, quyền lực và quan hệ giữa nhà nước với xã hội, bài viết phân tích mối quan hệ giữa bảo đảm an ninh, duy trì ổn định xã hội và củng cố niềm tin công chúng. Hội nghị Trung ương 3 diễn ra trong bối cảnh thế giới, khu vực biến động nhanh, rộng, phức tạp, khó dự báo. Cạnh tranh chiến lược, xung đột địa chính trị, sự phân hóa kinh tế toàn cầu và những chuyển dịch về công nghệ, năng lượng, dữ liệu đang định hình lại môi trường phát triển
Từ khóa: quản trị khủng hoảng; nhà nước hiện đại; an ninh quốc gia; ổn định xã hội; niềm tin công chúng.
1. Đặt vấn đề
Khủng hoảng là một trong những tình huống thử thách năng lực quản trị của nhà nước hiện đại. Khác với những vấn đề quản lý thông thường có thể được giải quyết thông qua các quy trình hành chính ổn định, khủng hoảng thường xuất hiện trong điều kiện thông tin không đầy đủ, thời gian phản ứng hạn chế, các nguy cơ biến đổi nhanh và hậu quả có khả năng lan truyền giữa nhiều lĩnh vực. Một sự cố an ninh mạng có thể làm gián đoạn dịch vụ công, gây thiệt hại kinh tế và tạo ra tâm lý bất an trong xã hội; một thảm họa thiên tai có thể đồng thời đặt ra yêu cầu cứu hộ, bảo đảm an sinh, duy trì trật tự và xử lý thông tin sai lệch; một biến động kinh tế có thể chuyển hóa thành bất ổn xã hội nếu ảnh hưởng đến việc làm, thu nhập và khả năng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu.
Bởi vậy, quản trị khủng hoảng không thể chỉ được hiểu là hoạt động ứng phó sau khi sự cố xảy ra. Đây phải là một quá trình quản trị tổng thể, bao gồm nhận diện nguy cơ, đánh giá rủi ro, phòng ngừa, chuẩn bị nguồn lực, tổ chức ứng phó, truyền thông công chúng và phục hồi sau khủng hoảng. Trong quá trình ấy, ba yêu cầu có quan hệ chặt chẽ với nhau: bảo đảm an ninh để bảo vệ quốc gia, cộng đồng và các hạ tầng thiết yếu; duy trì ổn định xã hội để hạn chế tổn thất, bảo vệ sinh kế và ngăn ngừa sự lan rộng của bất ổn; củng cố niềm tin công chúng để tạo nền tảng xã hội cho việc thực thi các quyết định quản lý và phục hồi sau khủng hoảng.
Về phương diện lý luận, chủ nghĩa Mác – Lênin cung cấp cơ sở để xem xét nhà nước trong mối quan hệ với những điều kiện kinh tế, xã hội và các quan hệ quyền lực cụ thể. Tuy nhiên, vận dụng lý luận này vào quản trị khủng hoảng hiện đại đòi hỏi phải gắn phân tích bản chất và chức năng của quyền lực nhà nước với yêu cầu nâng cao hiệu lực quản lý, bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân và tổ chức cung ứng các dịch vụ công trong những tình huống bất thường. Trên cơ sở đó, vấn đề đặt ra không chỉ là nhà nước có đủ công cụ để kiểm soát khủng hoảng hay không, mà còn là quyền lực được thực thi như thế nào, nguồn lực được phân bổ ra sao, người dân được bảo vệ đến mức nào và niềm tin xã hội được duy trì bằng những cơ chế nào.
2. Cơ sở lý luận về quản trị khủng hoảng trong nhà nước hiện đại
Đối với nghiên cứu quản trị khủng hoảng, giá trị phương pháp luận của cách tiếp cận ấy nằm ở việc nhận diện những nguyên nhân mang tính cấu trúc của khủng hoảng, thay vì chỉ tập trung vào các biểu hiện bề mặt hoặc xử lý những sự cố riêng lẻ. Khủng hoảng thường không hình thành hoàn toàn độc lập với những vấn đề tích tụ trước đó. Sự thiếu đồng bộ của thể chế, bất bình đẳng trong khả năng tiếp cận nguồn lực, những hạn chế của hệ thống an sinh, sự phụ thuộc quá mức vào một số hạ tầng trọng yếu hoặc tình trạng phối hợp yếu giữa các cơ quan có thể làm gia tăng tính dễ tổn thương của xã hội.C. Mác nhấn mạnh: "Mỗi cuộc khủng hoảng đều phá hoại không những một số lớn sản phẩm đã được tạo ra, mà cả một phần lớn chính ngay những lực lượng sản xuất đã có"[2].
Cũng cần phân biệt rõ rằng những luận điểm kinh điển về bản chất nhà nước không phải là một mô hình kỹ thuật hoàn chỉnh cho quản trị khủng hoảng trong thế kỷ XXI. Các vấn đề như an ninh mạng, trí tuệ nhân tạo, truyền thông số, chuỗi cung ứng toàn cầu hay quản trị rủi ro khí hậu đòi hỏi phải bổ sung tri thức liên ngành và những công cụ quản trị hiện đại. Giá trị của phương pháp luận Mác – Lênin nằm ở việc phân tích các điều kiện xã hội, lợi ích, quan hệ quyền lực và nguyên nhân cấu trúc, từ đó giúp thiết kế những biện pháp ứng phó phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể.
Trong điều kiện khủng hoảng, khoảng cách giữa quyết định và thực thi có thể quyết định mức độ thiệt hại. Một cảnh báo được ban hành nhưng không đến được người dân; một kế hoạch cứu trợ không xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm; một chỉ đạo thiếu nguồn lực hoặc không có cơ chế phối hợp sẽ làm giảm hiệu quả ứng phó. Do đó, năng lực quản trị phải được cấu thành từ ít nhất bốn yếu tố: năng lực nhận diện và dự báo; năng lực ra quyết định trong điều kiện bất định; năng lực huy động, phân bổ và phối hợp nguồn lực; năng lực kiểm tra, giải trình và điều chỉnh chính sách theo diễn biến thực tế.
Quản trị khủng hoảng vì thế không đồng nghĩa với việc tập trung mọi quyết định vào một cơ quan duy nhất. Điều cần thiết là thiết lập cơ chế chỉ huy thống nhất đối với những vấn đề có tính liên ngành, đồng thời xác định rõ thẩm quyền của từng cấp, từng cơ quan và khả năng chủ động xử lý tại chỗ. Tập trung trong định hướng chiến lược phải đi đôi với phân công cụ thể trong thực thi; kỷ luật hành chính phải đi đôi với trách nhiệm giải trình; tốc độ phản ứng phải được bảo đảm mà không làm mất đi tính hợp pháp của quyết định công.
Niềm tin công chúng có thể được hiểu là mức độ người dân tin tưởng vào năng lực, tính liêm chính, tính công bằng và khả năng thực hiện cam kết của các cơ quan công quyền. Niềm tin không chỉ là trạng thái tâm lý mà còn có ý nghĩa thực tiễn đối với quản trị khủng hoảng. Khi tin tưởng vào thông tin chính thức và đánh giá rằng chính sách được thực hiện công bằng, người dân có xu hướng hợp tác tốt hơn với các biện pháp phòng ngừa, tuân thủ hướng dẫn an toàn, chia sẻ thông tin cần thiết và tham gia hỗ trợ cộng đồng. Ngược lại, khi niềm tin suy giảm, thông tin sai lệch có thể lan truyền nhanh hơn, các biện pháp ứng phó dễ bị nghi ngờ và chi phí tổ chức thực hiện chính sách có thể gia tăng.
Niềm tin công chúng không thể được tạo lập chỉ bằng thông điệp tuyên truyền hoặc yêu cầu người dân đồng thuận. Nó được hình thành qua trải nghiệm thực tế về chất lượng dịch vụ công, tính nhất quán giữa cam kết và hành động, sự công bằng trong phân bổ nguồn lực và khả năng xử lý sai phạm. Trong khủng hoảng, những yếu tố này càng trở nên quan trọng vì người dân thường phải đưa ra quyết định trong điều kiện lo lắng, thiếu thông tin và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ hậu quả của biến cố.
Do đó, bảo vệ niềm tin công chúng phải được coi là một bộ phận cấu thành của quản trị khủng hoảng, chứ không phải công việc truyền thông được bổ sung sau khi các biện pháp an ninh đã triển khai. Một quyết định có thể cần thiết về mặt chuyên môn nhưng vẫn thất bại trong thực tế nếu không được giải thích rõ ràng, không có cơ chế phản hồi hoặc gây ra cảm nhận bất công trong xã hội.
3. Mối quan hệ giữa bảo đảm an ninh, ổn định xã hội và niềm tin công chúng
Trong nhà nước hiện đại, an ninh không chỉ giới hạn ở bảo vệ chủ quyền lãnh thổ hoặc duy trì trật tự công cộng theo nghĩa truyền thống. Phạm vi bảo đảm an ninh ngày càng bao gồm an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng, an toàn dữ liệu, an ninh năng lượng, an ninh y tế và khả năng duy trì hoạt động của các hạ tầng trọng yếu. Những lĩnh vực này có mối liên hệ chặt chẽ, khiến một sự cố đơn lẻ có thể tạo ra hiệu ứng dây chuyền trên quy mô rộng.
Bảo đảm an ninh trong quản trị khủng hoảng trước hết đòi hỏi phải nhận diện những tài sản, dịch vụ và lợi ích thiết yếu cần được bảo vệ. Đó có thể là hệ thống điện, nước, viễn thông, giao thông, cơ sở dữ liệu công, cơ sở y tế, chuỗi cung ứng lương thực hoặc những dịch vụ hành chính thiết yếu. Trên cơ sở đó, nhà nước cần xây dựng các phương án dự phòng, xác định ngưỡng rủi ro chấp nhận được, tổ chức diễn tập và chuẩn bị nguồn lực để duy trì hoạt động liên tục khi xảy ra gián đoạn.
Tuy nhiên, bảo đảm an ninh không nên bị giản lược thành phản ứng cưỡng chế hoặc kiểm soát hành chính. Những biện pháp an ninh chỉ có thể đạt hiệu quả bền vững khi được đặt trong khuôn khổ pháp luật, có mục tiêu xác định, tương xứng với mức độ nguy cơ và đi kèm cơ chế giám sát. Việc sử dụng quyền lực khẩn cấp thiếu giới hạn hoặc thiếu minh bạch có thể làm gia tăng tâm lý bất an, gây tổn hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, từ đó tạo ra những vấn đề mới ngay trong quá trình xử lý khủng hoảng. Trong quản trị khủng hoảng của nhà nước hiện đại, bảo đảm an ninh quốc gia cần được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với ổn định xã hội và củng cố niềm tin công chúng. Nghị quyết số 25-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới nhấn mạnh yêu cầu: "Công tác tư tưởng trong bối cảnh mới cần quán triệt sâu sắc và thực hiện tốt phương châm 'Chủ động - Sắc bén - Thuyết phục - Hiệu quả'"[3]. Đồng thời, Nghị quyết xác định nhiệm vụ "chuyển trọng tâm từ xử lý từng tình huống sang dẫn dắt nhận thức xã hội, củng cố niềm tin của Nhân dân, tạo thế chủ động và khả năng ứng phó trong mọi tình huống"[4]. Những định hướng này gợi mở yêu cầu kết hợp năng lực bảo đảm an ninh với khả năng chủ động cung cấp thông tin, giải quyết những vấn đề xã hội phát sinh và duy trì sự đồng thuận trong cộng đồng. Theo đó, bảo vệ đất nước không chỉ là kiểm soát các nguy cơ đe dọa an ninh mà còn phải gắn với bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, bảo đảm tính liên tục của các dịch vụ thiết yếu và nâng cao trách nhiệm giải trình của cơ quan công quyền.
Trong bài phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm an ninh quốc gia, gắn với việc bảo vệ con người, dữ liệu và hạ tầng thiết yếu trong bối cảnh mới. Từ định hướng này, có thể thấy bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm các điều kiện sống an toàn của nhân dân cần được xem xét trong mối quan hệ thống nhất, gắn với yêu cầu duy trì ổn định xã hội và củng cố niềm tin công chúng[5].
Ổn định xã hội không chỉ là tình trạng không xảy ra xung đột hoặc không xuất hiện biểu hiện mất trật tự. Về thực chất, ổn định bền vững còn gắn với khả năng duy trì các quan hệ xã hội cơ bản, bảo đảm sinh kế, cung cấp dịch vụ thiết yếu, giải quyết tranh chấp theo pháp luật và hạn chế những tổn thương kéo dài đối với cộng đồng.
Trong khủng hoảng, người dân thường quan tâm trực tiếp đến những vấn đề như an toàn tính mạng, sức khỏe, việc làm, thu nhập, nơi ở, khả năng tiếp cận lương thực, nước sạch và dịch vụ y tế. Nếu các nhu cầu thiết yếu không được giải quyết kịp thời, khó khăn ban đầu có thể chuyển thành bất bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực, xung đột lợi ích hoặc tâm lý bất mãn. Điều đó cho thấy ổn định xã hội không thể chỉ được duy trì bằng các biện pháp bảo đảm trật tự mà còn phải dựa vào năng lực giải quyết những nguyên nhân làm gia tăng bất ổn.
Một chính sách ứng phó hiệu quả cần xác định rõ nhóm dân cư chịu tác động trực tiếp, nhóm có khả năng phục hồi chậm và những khu vực có nguy cơ bị cô lập khỏi các dịch vụ thiết yếu. Việc phân bổ nguồn lực phải dựa trên mức độ thiệt hại và nhu cầu thực tế, đồng thời có cơ chế công khai tiêu chí hỗ trợ, tiếp nhận phản ánh và xử lý khiếu nại. Những biện pháp này vừa góp phần hạn chế thiệt hại, vừa ngăn ngừa cảm nhận bất công trong quá trình phân bổ nguồn lực.
Mặt khác, chính quyền cần duy trì các kênh đối thoại với cộng đồng, tổ chức xã hội, doanh nghiệp và những nhóm chịu ảnh hưởng. Thông tin phản hồi từ cơ sở có thể giúp phát hiện sớm các vấn đề chưa được phản ánh đầy đủ trong báo cáo hành chính, qua đó điều chỉnh chính sách trước khi khó khăn trở nên nghiêm trọng hơn. Ổn định xã hội, vì vậy, không phải là trạng thái tĩnh được áp đặt từ trên xuống, mà là kết quả của quá trình quản trị có khả năng lắng nghe, điều chỉnh và đáp ứng những nhu cầu chính đáng.
Trong điều kiện khủng hoảng, nhà nước không thể trực tiếp kiểm soát mọi hành vi, mọi dòng thông tin và mọi diễn biến tại từng địa bàn. Nhiều biện pháp ứng phó chỉ có thể phát huy hiệu quả khi người dân chủ động hợp tác, tự bảo vệ bản thân, chia sẻ thông tin và hỗ trợ những người xung quanh. Niềm tin công chúng chính là một trong những điều kiện quan trọng để hình thành sự hợp tác ấy.
Niềm tin được củng cố khi cơ quan công quyền thể hiện được ba phẩm chất cơ bản: năng lực xử lý vấn đề; sự trung thực trong cung cấp thông tin; và trách nhiệm đối với hậu quả của các quyết định. Năng lực thể hiện ở việc nhận diện đúng nguy cơ, tổ chức hành động kịp thời và giải quyết các nhu cầu cấp thiết. Sự trung thực thể hiện ở việc thông tin những gì đã biết, những gì chưa thể xác định và những biện pháp đang được triển khai. Trách nhiệm thể hiện ở việc giải trình, sửa chữa sai sót, hỗ trợ người bị thiệt hại và rút kinh nghiệm sau khủng hoảng.
Một sai lầm trong ứng phó không nhất thiết làm mất hoàn toàn niềm tin nếu cơ quan có trách nhiệm chủ động thừa nhận, giải thích và khắc phục. Ngược lại, việc che giấu thông tin, né tránh trách nhiệm hoặc đưa ra những cam kết không có cơ sở có thể làm tổn hại uy tín thể chế sâu sắc hơn chính sự cố ban đầu.
Từ góc độ này, niềm tin công chúng không phải một nguồn lực có thể huy động vô hạn trong thời điểm khẩn cấp. Đó là nguồn lực xã hội được tích lũy qua quá trình quản trị thường xuyên và có thể bị suy giảm nhanh chóng nếu những cam kết không được thực hiện. Bảo vệ niềm tin vì vậy đòi hỏi phải duy trì chất lượng quản trị ngay cả khi chưa xảy ra khủng hoảng.
An ninh, ổn định xã hội và niềm tin công chúng có mối quan hệ tác động qua lại. An ninh tạo điều kiện bảo vệ con người, hạ tầng và hoạt động thiết yếu; ổn định xã hội giúp duy trì sự liên kết cộng đồng, hạn chế tác động dây chuyền; niềm tin công chúng tạo điều kiện để người dân hợp tác với chính quyền và tham gia quá trình phục hồi. Nếu một trong ba yếu tố bị xem nhẹ, hiệu quả quản trị khủng hoảng có thể suy giảm.
Chẳng hạn, một biện pháp bảo đảm trật tự có thể đạt kết quả tức thời nhưng không tạo ra ổn định bền vững nếu những nguyên nhân kinh tế – xã hội của bất ổn vẫn tồn tại. Tương tự, một chiến dịch truyền thông có thể giúp trấn an dư luận trong thời gian ngắn nhưng không thể thay thế việc khắc phục thiệt hại, cung cấp dịch vụ thiết yếu hoặc xử lý trách nhiệm. Ngược lại, việc hỗ trợ vật chất nếu thiếu cơ chế minh bạch cũng có thể dẫn đến nghi ngờ về tính công bằng.
Vì vậy, quản trị khủng hoảng cần một cách tiếp cận tích hợp: biện pháp an ninh phải gắn với bảo vệ con người; chính sách ổn định xã hội phải dựa trên khả năng đáp ứng nhu cầu thực tế; hoạt động truyền thông phải thống nhất với kết quả thực thi. Ba trụ cột này cần được tổ chức trong cùng một hệ thống mục tiêu, chỉ huy, thông tin và đánh giá kết quả.
4. Những thách thức đối với quản trị khủng hoảng trong nhà nước hiện đại
Một là ranh giới giữa các loại khủng hoảng ngày càng khó xác định. Khủng hoảng kinh tế có thể làm gia tăng áp lực an sinh; thiên tai có thể gây gián đoạn chuỗi cung ứng; sự cố công nghệ có thể ảnh hưởng đến hệ thống tài chính hoặc dịch vụ công; khủng hoảng thông tin có thể làm suy giảm niềm tin và cản trở hoạt động cứu trợ. Điều này đòi hỏi phải chuyển từ tư duy quản lý từng lĩnh vực riêng lẻ sang quản trị rủi ro theo hệ thống.
Nếu mỗi cơ quan chỉ tập trung vào nhiệm vụ chuyên môn mà thiếu cơ chế chia sẻ thông tin và phối hợp, những khoảng trống trách nhiệm có thể xuất hiện. Trong điều kiện bình thường, các khoảng trống này có thể chưa gây hậu quả rõ rệt; nhưng khi khủng hoảng xảy ra, chúng dễ làm chậm quá trình ra quyết định và khiến nguồn lực bị phân tán. Do đó, nhà nước cần xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành, quy trình chuyển giao thông tin và nguyên tắc xử lý khi nhiều cơ quan cùng có thẩm quyền liên quan đến một tình huống.
Hai là, thách thức từ không gian thông tin số và trí tuệ nhân tạo. Sự phát triển của mạng xã hội, các nền tảng số và công nghệ trí tuệ nhân tạo làm thay đổi đáng kể môi trường thông tin trong khủng hoảng. Tin giả, nội dung bị cắt ghép, hình ảnh giả mạo hoặc thông tin chưa được kiểm chứng có thể lan truyền trước khi cơ quan chức năng hoàn tất xác minh. Tốc độ lan truyền cao khiến khoảng thời gian để kiểm tra, giải thích và sửa chữa thông tin trở nên ngắn hơn.
Vấn đề không chỉ nằm ở việc phát hiện thông tin sai lệch, mà còn ở năng lực cung cấp thông tin chính xác, dễ tiếp cận và đủ nhanh để người dân có thể hành động phù hợp. Nếu thông tin chính thức chậm trễ, thiếu nhất quán hoặc sử dụng ngôn ngữ khó hiểu, khoảng trống thông tin sẽ tạo điều kiện cho suy đoán và tin đồn phát triển.
Bên cạnh đó, việc sử dụng dữ liệu và trí tuệ nhân tạo trong dự báo, phân tích rủi ro và hỗ trợ ra quyết định cũng đặt ra yêu cầu về bảo vệ dữ liệu cá nhân, kiểm soát sai lệch thuật toán, an ninh hệ thống và trách nhiệm của người ra quyết định. Công nghệ có thể nâng cao năng lực nhận diện nguy cơ nhưng không thể thay thế hoàn toàn đánh giá chuyên môn, trách nhiệm pháp lý và sự giám sát của con người.
Ba là, sự đánh đổi giữa tốc độ phản ứng, tính hợp pháp và quyền lợi của người dân. Khủng hoảng tạo ra áp lực phải hành động nhanh. Tuy nhiên, nếu tốc độ được đặt cao hơn mọi yêu cầu khác, cơ quan công quyền có thể đưa ra những quyết định thiếu căn cứ, áp dụng biện pháp không tương xứng hoặc bỏ qua quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Ngược lại, nếu quy trình quá cứng nhắc và không có cơ chế xử lý khẩn cấp phù hợp, phản ứng của nhà nước có thể chậm hơn tốc độ phát triển của sự cố.
Giải pháp không phải là lựa chọn tuyệt đối giữa hiệu quả và pháp quyền, mà là xây dựng khuôn khổ pháp lý đủ rõ để cho phép hành động nhanh trong những điều kiện xác định. Các biện pháp khẩn cấp cần có căn cứ, phạm vi, thời hạn, cơ chế giám sát và điều kiện chấm dứt; đồng thời phải có quy trình xem xét lại quyết định khi tình hình thay đổi hoặc xuất hiện bằng chứng mới.
Bốn là, năng lực thực thi và khoảng cách giữa chủ trương với kết quả. Một chủ trương đúng có thể không tạo ra kết quả tương xứng nếu thiếu nguồn lực, nhân lực, dữ liệu hoặc cơ chế phối hợp. Năng lực thực thi giữa các địa bàn và cơ quan có thể không đồng đều, trong khi khủng hoảng thường đòi hỏi phản ứng thống nhất nhưng linh hoạt theo điều kiện thực tế.
5. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị khủng hoảng trong nhà nước hiện đại
Một là, hoàn thiện thể chế và xây dựng cơ chế quản trị khủng hoảng thống nhất. Trước hết, cần xây dựng khuôn khổ quản trị khủng hoảng xác định rõ trách nhiệm của từng cấp, từng cơ quan trong toàn bộ chu trình từ phòng ngừa đến phục hồi. Khuôn khổ này phải phân biệt rõ thẩm quyền chỉ huy, trách nhiệm chuyên môn, trách nhiệm cung cấp thông tin và trách nhiệm kiểm tra, giám sát. Đối với những tình huống liên ngành, cần xác định cơ quan điều phối chủ trì, cơ chế huy động lực lượng và quy trình giải quyết xung đột thẩm quyền.
Cơ chế quản trị thống nhất không có nghĩa là mọi quyết định đều phải chờ cấp trung ương hoặc một đầu mối duy nhất. Cần kết hợp chỉ huy chiến lược thống nhất với quyền chủ động xử lý tình huống tại địa phương theo thẩm quyền được pháp luật quy định. Cấp trung ương có trách nhiệm xác lập định hướng, điều phối nguồn lực quy mô lớn và xử lý những vấn đề vượt quá khả năng của địa phương; cấp địa phương cần có năng lực nhận diện nguy cơ, tổ chức ứng phó tại chỗ và phản hồi kịp thời về tình hình thực tế.
Cùng với đó, phải rà soát những khoảng trống pháp lý liên quan đến tình trạng khẩn cấp, chia sẻ dữ liệu, bảo vệ thông tin cá nhân, huy động nguồn lực xã hội và trách nhiệm bồi thường khi có thiệt hại do quyết định công gây ra. Các quy định về biện pháp khẩn cấp cần đủ rõ để hạn chế tùy tiện, đồng thời đủ linh hoạt để đáp ứng những tình huống mới mà quy trình thông thường chưa dự liệu đầy đủ.
Hai là, chuyển từ phản ứng bị động sang dự báo và phòng ngừa từ sớm. Quản trị khủng hoảng hiệu quả bắt đầu từ giai đoạn chưa xảy ra khủng hoảng. Nhà nước cần xây dựng hệ thống nhận diện và đánh giá rủi ro dựa trên dữ liệu đa nguồn, kết hợp thông tin hành chính, dữ liệu chuyên ngành, cảnh báo khoa học và phản ánh từ cộng đồng. Việc dự báo phải hướng đến xác định nguy cơ, khả năng xảy ra, mức độ tác động và những nhóm hoặc hạ tầng có nguy cơ chịu thiệt hại lớn nhất.
Trên cơ sở đánh giá rủi ro, cần xây dựng các kịch bản ứng phó theo nhiều cấp độ, xác định ngưỡng kích hoạt, nguồn lực dự phòng, đầu mối chỉ huy và phương án duy trì hoạt động thiết yếu. Các kịch bản phải được kiểm nghiệm thông qua diễn tập liên ngành, mô phỏng tình huống và đánh giá độc lập. Sau mỗi lần diễn tập hoặc sự cố thực tế, cần cập nhật quy trình trên cơ sở những hạn chế đã được phát hiện.
Một hệ thống cảnh báo sớm chỉ có ý nghĩa khi thông tin cảnh báo được chuyển hóa thành hành động. Vì vậy, phải quy định rõ ai tiếp nhận cảnh báo, ai có quyền kích hoạt phương án, thời hạn phản hồi và trách nhiệm nếu không thực hiện đúng quy trình. Cách tiếp cận này phù hợp với định hướng chủ động phòng ngừa, nâng cao sức chống chịu và khả năng thích ứng được nhấn mạnh trong bài phát biểu tại Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV.
Ba là, nâng cao năng lực điều phối, bảo đảm nguồn lực và duy trì dịch vụ thiết yếu. Trong khủng hoảng, nguồn lực thường khan hiếm trong khi nhu cầu tăng đột biến. Vì vậy, nhà nước cần chuẩn bị cơ chế phân bổ ưu tiên dựa trên mức độ nguy cấp, quy mô thiệt hại, tính thiết yếu của dịch vụ và khả năng tiếp cận của các nhóm dân cư. Việc phân bổ phải được công khai về tiêu chí, có cơ chế kiểm tra và có khả năng điều chỉnh khi xuất hiện thông tin mới.
Các cơ quan công quyền cần xây dựng phương án duy trì hoạt động liên tục đối với những dịch vụ thiết yếu như y tế, nước sạch, điện, giao thông, thông tin liên lạc và dịch vụ hành chính quan trọng. Điều này bao gồm dự phòng nhân lực, thiết bị, dữ liệu, địa điểm làm việc và phương thức cung cấp dịch vụ thay thế khi hệ thống chính bị gián đoạn.
Đồng thời, cần thiết lập cơ chế huy động phù hợp sự tham gia của doanh nghiệp, tổ chức xã hội, cơ sở nghiên cứu và cộng đồng dân cư. Khu vực tư nhân có thể đóng góp công nghệ, năng lực logistics, hạ tầng và nguồn lực tài chính; các tổ chức xã hội có thể hỗ trợ tiếp cận nhóm dễ bị tổn thương; cộng đồng địa phương có thể cung cấp thông tin và hỗ trợ triển khai tại chỗ. Tuy nhiên, sự tham gia này phải dựa trên phân công trách nhiệm, tiêu chuẩn chất lượng và cơ chế giám sát rõ ràng, không thay thế trách nhiệm cuối cùng của cơ quan nhà nước đối với việc bảo đảm lợi ích công.
Bốn là, xây dựng chiến lược truyền thông khủng hoảng dựa trên sự chính xác và trách nhiệm giải trình. Truyền thông khủng hoảng cần được xem là một cấu phần của hoạt động chỉ huy và điều phối, không chỉ là công việc thông báo kết quả sau khi các biện pháp ứng phó đã được triển khai. Ngay từ giai đoạn chuẩn bị, cần xác định đầu mối phát ngôn, quy trình kiểm chứng thông tin, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan và phương thức cập nhật tình hình cho người dân.
Thông tin trong khủng hoảng cần đáp ứng bốn yêu cầu: kịp thời, chính xác, nhất quán và có khả năng hướng dẫn hành động. Kịp thời không đồng nghĩa với công bố những thông tin chưa được xác minh; chính xác không đồng nghĩa với việc chỉ công bố khi mọi dữ liệu đã hoàn toàn đầy đủ. Khi chưa thể kết luận, cơ quan chức năng cần nói rõ mức độ chắc chắn của thông tin, những vấn đề đang được xác minh và thời điểm dự kiến cập nhật tiếp theo.
Một nguyên tắc quan trọng là phân biệt giữa thông tin đã được xác nhận, nhận định chuyên môn và giả thuyết đang được kiểm tra. Sự phân biệt này giúp hạn chế việc suy đoán bị trình bày như sự thật, đồng thời tạo điều kiện để công chúng hiểu rõ quá trình ra quyết định. Khi thông tin ban đầu cần điều chỉnh, cơ quan có trách nhiệm phải công bố nội dung sửa đổi, giải thích nguyên nhân và làm rõ những hệ quả đối với các khuyến nghị đã đưa ra.
Đối với thông tin sai lệch, cần ưu tiên phát hiện sớm, xác minh nguồn gốc, công bố bằng chứng và cung cấp thông tin thay thế đáng tin cậy. Các biện pháp xử lý vi phạm phải căn cứ pháp luật và phân biệt rõ giữa hành vi cố ý phát tán thông tin giả gây hại với việc người dân chia sẻ thông tin do nhầm lẫn hoặc chưa được kiểm chứng. Cách tiếp cận dựa trên bằng chứng và tính tương xứng không chỉ giúp bảo vệ không gian thông tin mà còn tránh làm suy giảm niềm tin của công chúng.
Năm là, đặt con người ở vị trí trung tâm và bảo đảm công bằng trong ứng phó. Một hệ thống quản trị khủng hoảng chỉ thực sự hiệu quả khi bảo vệ được con người, đặc biệt là những nhóm có khả năng chịu tác động lớn nhưng có ít nguồn lực tự phục hồi. Người cao tuổi, trẻ em, người khuyết tật, người có thu nhập thấp, người sống ở khu vực thường xuyên chịu thiên tai và những người phụ thuộc vào dịch vụ chăm sóc liên tục có thể gặp nhiều trở ngại hơn khi tiếp cận thông tin, sơ tán, cứu trợ hoặc khôi phục sinh kế.
Vì vậy, kế hoạch ứng phó cần tích hợp đánh giá tác động xã hội, xác định nhu cầu đặc thù của từng nhóm và bảo đảm các kênh hỗ trợ có thể tiếp cận trên thực tế. Không nên chỉ đánh giá thành công bằng tổng số nguồn lực đã phân bổ hoặc số lượng người đã tiếp cận, mà cần xem xét nguồn lực có đến đúng đối tượng, đúng thời điểm và đáp ứng đúng nhu cầu hay không.
Công bằng trong ứng phó còn đòi hỏi minh bạch tiêu chí hỗ trợ và có cơ chế tiếp nhận khiếu nại. Người dân cần biết vì sao một nhóm được ưu tiên, những điều kiện nào được áp dụng và có thể yêu cầu xem xét lại quyết định trong trường hợp nào. Cơ chế này giúp hạn chế sai sót, ngăn ngừa lợi dụng nguồn lực và củng cố nhận thức rằng quyết định công được thực hiện theo những nguyên tắc có thể kiểm chứng.
Bên cạnh hỗ trợ khẩn cấp, cần quan tâm đến phục hồi sinh kế, sức khỏe tinh thần, học tập và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội sau khủng hoảng. Nếu quá trình phục hồi chỉ tập trung vào khôi phục hạ tầng vật chất mà không chú ý đến tổn thương của con người, những hệ quả xã hội có thể kéo dài và làm suy yếu khả năng chống chịu của cộng đồng trước các biến cố tiếp theo.
Sáu là, nâng cao trách nhiệm giải trình và thiết lập cơ chế giám sát sau khủng hoảng. Trách nhiệm giải trình là điều kiện để bảo đảm quyền lực được thực thi đúng mục đích và nguồn lực công được sử dụng hiệu quả. Trong quản trị khủng hoảng, yêu cầu này càng quan trọng bởi nhiều quyết định được đưa ra trong thời gian ngắn, trên cơ sở thông tin chưa đầy đủ và có thể tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích của người dân.
Cần xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan trong việc ra quyết định, cung cấp thông tin, huy động nguồn lực và đánh giá kết quả. Hồ sơ quyết định, căn cứ chuyên môn, quá trình phê duyệt và các thay đổi quan trọng phải được lưu trữ phù hợp để phục vụ kiểm tra, giám sát và rút kinh nghiệm. Đối với những biện pháp hạn chế quyền hoặc huy động nguồn lực ở quy mô lớn, cần có cơ chế giám sát tương xứng và quy trình kết thúc khi điều kiện áp dụng không còn tồn tại.
Sau khủng hoảng, cần tổ chức đánh giá độc lập hoặc liên ngành để xác định nguyên nhân, hiệu quả của các biện pháp, mức độ thiệt hại, những bất cập trong phối hợp và trách nhiệm của các chủ thể liên quan. Việc đánh giá không nên chỉ nhằm xác định sai phạm cá nhân mà còn phải nhận diện những khiếm khuyết mang tính hệ thống, chẳng hạn quy trình không rõ ràng, dữ liệu thiếu liên thông, phân công chồng chéo hoặc nguồn lực dự phòng không phù hợp.
Kết quả đánh giá cần được chuyển thành kế hoạch cải tiến cụ thể, có thời hạn thực hiện, đơn vị chịu trách nhiệm và tiêu chí kiểm tra. Đồng thời, những thông tin có thể công khai về kết quả xử lý, khắc phục và hỗ trợ người bị ảnh hưởng cần được cung cấp cho công chúng. Đây là cơ sở để chuyển kinh nghiệm từ một cuộc khủng hoảng thành năng lực phòng ngừa và ứng phó tốt hơn trong tương lai.
Bảy là, xây dựng hệ thống chỉ số đánh giá toàn diện hiệu quả quản trị khủng hoảng. Để tránh tình trạng đánh giá thành công chỉ dựa trên số lượng văn bản, cuộc họp hoặc hoạt động đã triển khai, cần xây dựng hệ thống chỉ số phản ánh kết quả thực tế. Hệ thống chỉ số có thể được tổ chức theo bốn nhóm.
Thứ nhất, nhóm chỉ số về an ninh và khả năng chống chịu, bao gồm thời gian phát hiện nguy cơ, thời gian kích hoạt phương án ứng phó, mức độ duy trì dịch vụ thiết yếu và khả năng khôi phục hạ tầng sau gián đoạn.
Thứ hai, nhóm chỉ số về ổn định xã hội, bao gồm mức độ đáp ứng nhu cầu thiết yếu, thời gian tiếp cận cứu trợ, tỷ lệ hỗ trợ đúng đối tượng, khả năng phục hồi sinh kế và mức độ duy trì các dịch vụ y tế, giáo dục, hành chính trong thời gian khủng hoảng.
Thứ ba, nhóm chỉ số về niềm tin và truyền thông, bao gồm thời gian công bố thông tin chính thức, mức độ nhất quán giữa các cơ quan, khả năng tiếp cận thông tin của các nhóm dân cư và chất lượng xử lý phản ánh, khiếu nại. Khảo sát niềm tin cần được thiết kế khách quan, có phương pháp rõ ràng và không sử dụng riêng một chỉ số để đại diện cho toàn bộ chất lượng quản trị.
Thứ tư, nhóm chỉ số về trách nhiệm giải trình và phục hồi, bao gồm tỷ lệ thực hiện các kiến nghị sau đánh giá, thời gian giải quyết khiếu nại, mức độ công khai kết quả sử dụng nguồn lực và khả năng giảm thiểu những rủi ro tương tự trong các lần tiếp theo.
Các chỉ số cần được lựa chọn phù hợp với từng loại khủng hoảng, có đường cơ sở để so sánh và được công bố trong phạm vi cho phép. Không nên áp dụng một bộ chỉ số cứng nhắc cho mọi tình huống hoặc biến chỉ tiêu thành mục đích tự thân. Mục tiêu cuối cùng là nâng cao khả năng bảo vệ con người, duy trì hoạt động thiết yếu, giảm thiểu thiệt hại và củng cố niềm tin xã hội.
Những định hướng này tương thích với yêu cầu được nhấn mạnh trong bài phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV về chuyển từ xử lý từng nguy cơ sang chủ động phòng ngừa, nâng cao sức chống chịu và bảo đảm khả năng vận hành liên tục của hệ thống chính trị, kinh tế, xã hội và công nghệ. Điều quan trọng là các định hướng phải được cụ thể hóa thành chương trình hành động có mục tiêu, nguồn lực, trách nhiệm và kết quả kiểm chứng được.
7. Kết luận
Quản trị khủng hoảng trong nhà nước hiện đại là một quá trình phức hợp, trong đó bảo đảm an ninh, duy trì ổn định xã hội và bảo vệ niềm tin công chúng vừa là những mục tiêu riêng, vừa là các điều kiện tương hỗ của hiệu quả quản trị quốc gia. An ninh tạo nền tảng bảo vệ con người, hạ tầng và hoạt động thiết yếu; ổn định xã hội bảo đảm khả năng duy trì đời sống cộng đồng và hạn chế sự lan truyền của bất ổn; niềm tin công chúng tạo điều kiện để chính quyền huy động sự hợp tác xã hội và phục hồi sau khủng hoảng. Không trụ cột nào có thể thay thế hoàn toàn hai trụ cột còn lại.
Vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào nghiên cứu vấn đề này cần bắt đầu từ việc xem xét nhà nước trong mối quan hệ với những điều kiện kinh tế, xã hội, các quan hệ lợi ích và yêu cầu tổ chức thực hiện quyền lực. Từ đó, quản trị khủng hoảng không thể chỉ tập trung vào biện pháp kiểm soát tình huống trước mắt, mà phải hướng đến giải quyết nguyên nhân cấu trúc, bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, nâng cao chất lượng thực thi chính sách và tăng cường trách nhiệm giải trình.
Trong bối cảnh mới, yêu cầu chuyển từ phản ứng bị động sang dự báo, phòng ngừa từ sớm; từ quản lý phân tán sang phối hợp liên ngành; từ đánh giá hoạt động sang đánh giá kết quả; từ truyền thông một chiều sang cung cấp thông tin có căn cứ và tiếp nhận phản hồi thực chất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đối với Việt Nam, việc cụ thể hóa những yêu cầu này thành cơ chế pháp lý rõ ràng, năng lực thực thi vững chắc, hệ thống dữ liệu an toàn và quy trình đánh giá minh bạch sẽ góp phần nâng cao sức chống chịu quốc gia trước các rủi ro truyền thống và phi truyền thống.
Sau cùng, thước đo của quản trị khủng hoảng không chỉ là việc tình huống được kiểm soát nhanh đến đâu, mà còn là mức độ thiệt hại được hạn chế, người dân được bảo vệ, hoạt động thiết yếu được duy trì, những sai sót được khắc phục và niềm tin xã hội được củng cố. Một nhà nước có năng lực quản trị khủng hoảng cao phải có khả năng hành động quyết đoán nhưng đúng pháp luật, phản ứng nhanh nhưng có trách nhiệm, bảo đảm an ninh nhưng không xem nhẹ quyền lợi chính đáng của người dân, đồng thời biến kinh nghiệm từ mỗi biến cố thành năng lực phòng ngừa và phát triển bền vững trong tương lai.
Tài liệu tham khảo:
1. Tô Lâm. (2026, ngày 20 tháng 7). Toàn văn phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 3, khóa XIV của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. Báo Điện tử Chính phủ, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-phat-bieu-khai-mac-hoi-nghi-trung-uong-3-khoa-xiv-cua-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-119260720110549251.htm?gidzl=Do9NHqFs0nWoEbP9J-e65pe_LaLGx5H09czMH0Iu0X5vE5OLNxzN47y_2azUwrPF8piBJJb4ucHcGla05W
2. C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 604.
3. Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 25-NQ/TW về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới, tài liệu đính kèm, tr. 2.
4. Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 25-NQ/TW về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới, tài liệu đính kèm, tr. 6.
5. Tô Lâm. (2026, ngày 20 tháng 7). Toàn văn phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 3, khóa XIV của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. Báo Điện tử Chính phủ, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-phat-bieu-khai-mac-hoi-nghi-trung-uong-3-khoa-xiv-cua-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-119260720110549251.htm?gidzl=Do9NHqFs0nWoEbP9J-e65pe_LaLGx5H09czMH0Iu0X5vE5OLNxzN47y_2azUwrPF8piBJJb4ucHcGla05W
[1] Tô Lâm. (2026, ngày 20 tháng 7). Toàn văn phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 3, khóa XIV của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. Báo Điện tử Chính phủ, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-phat-bieu-khai-mac-hoi-nghi-trung-uong-3-khoa-xiv-cua-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-119260720110549251.htm?gidzl=Do9NHqFs0nWoEbP9J-e65pe_LaLGx5H09czMH0Iu0X5vE5OLNxzN47y_2azUwrPF8piBJJb4ucHcGla05W
[2] C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 604.
[3] Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 25-NQ/TW về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới, tài liệu đính kèm, tr. 2.
[4] Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 25-NQ/TW về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới, tài liệu đính kèm, tr. 6.
[5] Tô Lâm. (2026, ngày 20 tháng 7). Toàn văn phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 3, khóa XIV của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. Báo Điện tử Chính phủ, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-phat-bieu-khai-mac-hoi-nghi-trung-uong-3-khoa-xiv-cua-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-119260720110549251.htm?gidzl=Do9NHqFs0nWoEbP9J-e65pe_LaLGx5H09czMH0Iu0X5vE5OLNxzN47y_2azUwrPF8piBJJb4ucHcGla05W
Th.s Nguyễn Thị Minh Hòa, Học viện Hành chính và Quản trị công