Tác động của truyền thông quan hệ công chúng số đến uy tín tổ chức giáo dục đại học: Vai trò trung gian của niềm tin và sự hài lòng của sinh viên

Thứ hai, 01/06/2026 - 11:00

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và cạnh tranh ngày càng gia tăng trong giáo dục đại học, truyền thông quan hệ công chúng số trở thành năng lực quản trị quan trọng giúp cơ sở giáo dục đại học xây dựng hình ảnh, củng cố niềm tin và nâng cao uy tín tổ chức. Bài viết sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu, đối chiếu chính sách và khai thác số liệu thứ cấp nhằm xây dựng khung luận giải về tác động của truyền thông quan hệ công chúng số đến uy tín đại học. Kết quả cho thấy truyền thông số góp phần mở rộng khả năng tiếp cận công chúng, tăng tính minh bạch thông tin, nâng cao tương tác với sinh viên và hỗ trợ quản trị khủng hoảng truyền thông. Trong mối quan hệ này, niềm tin và sự

Bài viết sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu, đối chiếu chính sách và khai thác số liệu thứ cấp nhằm xây dựng khung luận giải về tác động của truyền thông quan hệ công chúng số đến uy tín đại học. Kết quả cho thấy truyền thông số góp phần mở rộng khả năng tiếp cận công chúng, tăng tính minh bạch thông tin, nâng cao tương tác với sinh viên và hỗ trợ quản trị khủng hoảng truyền thông. Trong mối quan hệ này, niềm tin và sự hài lòng của sinh viên có thể được xem là hai cơ chế trung gian quan trọng: truyền thông số hiệu quả làm giảm bất định thông tin, cải thiện trải nghiệm của người học và thúc đẩy đánh giá tích cực về nhà trường; từ đó góp phần củng cố uy tín của cơ sở giáo dục đại học.

1. Đặt vấn đề

Chuyển đổi số đang làm thay đổi căn bản cách các tổ chức giáo dục đại học vận hành, cung cấp dịch vụ, tương tác với người học và kiến tạo uy tín trong không gian công cộng. Ở cấp độ toàn cầu, sinh viên, phụ huynh, nhà tuyển dụng và xã hội ngày càng tiếp cận thông tin về trường đại học thông qua website, mạng xã hội, nền tảng video, hệ thống quản lý học tập, thư điện tử, chatbot và các cộng đồng trực tuyến. Vì vậy, quan hệ công chúng trong giáo dục đại học không còn chỉ dựa vào báo chí, sự kiện, ấn phẩm giới thiệu hay truyền thông trực tiếp, mà đã chuyển mạnh sang môi trường số với đặc trưng tương tác nhanh, dữ liệu hóa phản hồi và lan tỏa thông tin theo mạng lưới.

Tại Việt Nam, vai trò của truyền thông số đối với trường đại học càng trở nên rõ rệt trong bối cảnh tỷ lệ sử dụng internet, mạng xã hội và thiết bị di động ở mức cao. DataReportal (2026) ghi nhận Việt Nam có 85,6 triệu người dùng internet vào cuối năm 2025, tương đương 84,2% dân số; 79,0 triệu định danh người dùng mạng xã hội vào tháng 10 năm 2025, tương đương 77,6% dân số; và 137 triệu kết nối di động, tương đương khoảng 134% dân số [1]. Cần hiểu chỉ báo kết nối di động là số lượng thuê bao/kết nối, không đồng nhất với số người dùng cá nhân, bởi một người có thể sử dụng nhiều SIM, nhiều thiết bị hoặc nhiều kết nối. Các dữ liệu này cho thấy không gian số đã trở thành môi trường tiếp nhận, phản hồi và đánh giá thông tin giáo dục quan trọng của thanh niên, sinh viên và phụ huynh.

Bảng 1. Một số chỉ báo về môi trường truyền thông số tại Việt Nam

Chỉ báo

Số liệu

Ý nghĩa đối với truyền thông đại học

Người dùng internet

85,6 triệu người

Công chúng tiếp cận thông tin giáo dục thường xuyên qua môi trường số

Tỷ lệ thâm nhập internet

84,2% dân số

Truyền thông số trở thành kênh nền tảng để xây dựng hình ảnh nhà trường

Định danh người dùng mạng xã hội

79,0 triệu

Mạng xã hội là không gian sinh viên phản hồi, chia sẻ và đánh giá trải nghiệm

Kết nối di động

137 triệu kết nối

Khả năng tiếp cận thông tin giáo dục diễn ra liên tục qua thiết bị di động

Tốc độ tải xuống internet di động trung vị

152,17 Mbps

Tạo điều kiện cho video, livestream, học liệu số và tương tác thời gian thực

Tốc độ tải xuống internet cố định trung vị

261,80 Mbps

Hỗ trợ truyền thông đa phương tiện, lớp học trực tuyến và nền tảng học tập số

Nguồn: DataReportal (2026), tác giả tổng hợp từ Digital 2026: Vietnam [1].

Đối với giáo dục đại học, uy tín tổ chức không chỉ được tạo lập từ chất lượng đào tạo, năng lực đội ngũ giảng viên, kết quả nghiên cứu khoa học, cơ sở vật chất hay tỷ lệ việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp. Uy tín còn chịu ảnh hưởng bởi cách nhà trường truyền thông về các giá trị đó, mức độ minh bạch của thông tin và khả năng phản hồi trước những vấn đề người học quan tâm. Trong thời đại số, sinh viên không chỉ là đối tượng tiếp nhận thông tin mà còn là chủ thể tương tác, đánh giá, chia sẻ trải nghiệm và tham gia đồng kiến tạo hình ảnh của nhà trường.

Về chính sách, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 25/01/2022 phê duyệt Đề án "Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022 - 2025, định hướng đến năm 2030" [5]. Tiếp đó, Quyết định số 1705/QĐ-TTg ngày 31/12/2024 phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đặt giáo dục trong yêu cầu hiện đại hóa, nâng cao chất lượng và tăng cường năng lực quản trị [6]. Trong bối cảnh này, truyền thông quan hệ công chúng số của trường đại học không chỉ là hoạt động kỹ thuật truyền thông mà còn gắn với quản trị đại học, trách nhiệm giải trình, văn hóa minh bạch và xây dựng niềm tin xã hội.

Bài viết này hướng tới mục tiêu luận giải tác động của truyền thông quan hệ công chúng số đến uy tín tổ chức giáo dục đại học, đồng thời làm rõ vai trò của niềm tin và sự hài lòng của sinh viên như hai cơ chế trung gian về mặt lý thuyết. Phạm vi bài viết tập trung vào phân tích thứ cấp và tổng hợp tài liệu đã công bố; do đó, kết quả được hiểu như một khung luận giải và định hướng quản trị, không thay thế cho kiểm định định lượng trong từng trường đại học cụ thể.

2. Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu

Truyền thông quan hệ công chúng số trong giáo dục đại học có thể hiểu là toàn bộ hoạt động truyền thông chiến lược của nhà trường trên nền tảng số nhằm thiết lập, duy trì và phát triển mối quan hệ tích cực với các nhóm công chúng liên quan. Khác với truyền thông một chiều, truyền thông số nhấn mạnh khả năng đối thoại, tốc độ phản hồi, cá nhân hóa thông tin, đo lường phản ứng công chúng và quản trị khủng hoảng theo thời gian gần thực. Đối với trường đại học, các nhóm công chúng quan trọng gồm sinh viên hiện tại, học sinh chuẩn bị xét tuyển, phụ huynh, cựu sinh viên, giảng viên, doanh nghiệp, cơ quan quản lý, báo chí và cộng đồng xã hội.

Uy tín tổ chức giáo dục đại học là sự đánh giá tổng hợp của công chúng về năng lực, chất lượng, trách nhiệm, độ tin cậy và giá trị xã hội của nhà trường. Uy tín không phải là kết quả của truyền thông đơn thuần, nhưng truyền thông là con đường quan trọng để các thành tựu, giá trị, cam kết và bản sắc của nhà trường được nhận biết, hiểu đúng và ghi nhận. Một cơ sở giáo dục đại học có chất lượng đào tạo tốt nhưng truyền thông thiếu nhất quán, thiếu minh bạch hoặc phản hồi chậm trước các vấn đề của sinh viên vẫn có thể gặp khó khăn trong xây dựng uy tín. Truyền thông số chuyên nghiệp giúp nhà trường công khai thông tin, giải thích chính sách, xử lý thắc mắc, lan tỏa câu chuyện tích cực và củng cố cảm nhận tin cậy của người học.

Các nghiên cứu gần đây cho thấy uy tín đại học chịu tác động đồng thời bởi chất lượng dịch vụ, niềm tin, sự hài lòng, hoạt động quan hệ công chúng và khả năng tương tác với các bên liên quan. Qazi và cộng sự (2022) chỉ ra rằng chất lượng dịch vụ, đóng góp xã hội, nghiên cứu và phát triển, sự hướng dẫn sinh viên và niềm tin đối với trường đại học có liên quan đến danh tiếng đại học và sự hài lòng của sinh viên [3]. Tessema và cộng sự (2025) tiếp cận từ chất lượng dịch vụ cảm nhận, nhấn mạnh vai trò của niềm tin thương hiệu và sự hài lòng của sinh viên trong việc hình thành truyền miệng tích cực trong giáo dục đại học [4]. Anggarina và cộng sự (2024) đặt vấn đề từ góc độ quản trị danh tiếng, cho rằng quan hệ công chúng có vai trò quan trọng trong truyền đạt giá trị, kết nối các bên liên quan và quản lý những yếu tố có thể làm suy giảm danh tiếng của cơ sở giáo dục đại học [7].

Các nghiên cứu trên gặp nhau ở nhận định rằng uy tín đại học không chỉ được tạo ra bởi thông điệp truyền thông, mà phụ thuộc vào trải nghiệm, niềm tin và đánh giá của người học. Điểm khác biệt nằm ở trọng tâm tiếp cận: Qazi và cộng sự (2022) nhấn mạnh các tiền đề của danh tiếng và sự hài lòng; Tessema và cộng sự (2025) làm rõ cơ chế niềm tin, hài lòng và truyền miệng; Anggarina và cộng sự (2024) đề cao chức năng quản trị quan hệ công chúng trong xây dựng danh tiếng. Khoảng trống đặt ra là cần kết nối các hướng tiếp cận này với bối cảnh truyền thông số của giáo dục đại học Việt Nam, nơi sinh viên vừa là người tiếp nhận dịch vụ, vừa là chủ thể lan tỏa hình ảnh nhà trường trên các nền tảng số.

Bảng 2. Một số nền tảng số có ý nghĩa đối với truyền thông đại học

Nền tảng/kênh số

Chỉ báo người dùng/tiếp cận tại Việt Nam

Ý nghĩa đối với trường đại học

Zalo

78,3 triệu người dùng hoạt động hằng tháng

Thông báo nhanh, chăm sóc sinh viên, phụ huynh và cựu sinh viên

Facebook

79,0 triệu người dùng theo dữ liệu tiếp cận quảng cáo

Xây dựng hình ảnh, tuyển sinh, phản hồi công chúng và lan tỏa hoạt động nhà trường

TikTok

76,1 triệu người dùng từ 18 tuổi trở lên theo công cụ quảng cáo

Truyền thông ngắn, trực quan, phù hợp với học sinh, sinh viên và nội dung trải nghiệm

YouTube

62,1 triệu người dùng theo dữ liệu tiếp cận quảng cáo

Video giới thiệu ngành học, bài giảng mở, câu chuyện sinh viên và hoạt động nghiên cứu

LinkedIn

10,0 triệu thành viên

Truyền thông học thuật, việc làm, cựu sinh viên và kết nối doanh nghiệp

Nguồn: DataReportal (2026), tác giả tổng hợp từ Digital 2026: Vietnam [1].

3. Cơ chế tác động của truyền thông quan hệ công chúng số đến uy tín đại học

Truyền thông quan hệ công chúng số có thể tác động đến uy tín đại học thông qua bốn phương diện chủ yếu. Thứ nhất, truyền thông số làm tăng khả năng hiện diện của nhà trường trong không gian công cộng. Một trường đại học có hệ thống truyền thông số chuyên nghiệp, cập nhật thường xuyên và thông tin dễ tiếp cận sẽ tạo cảm nhận về sự năng động, hiện đại và gần gũi với người học. Thứ hai, truyền thông số nâng cao tính minh bạch thông tin. Các vấn đề liên quan đến chương trình đào tạo, học phí, học bổng, chuẩn đầu ra, kiểm định chất lượng, hoạt động nghiên cứu, cơ hội việc làm và dịch vụ hỗ trợ sinh viên nếu được công bố rõ ràng sẽ góp phần giảm bất định và tăng niềm tin.

Thứ ba, truyền thông số tạo điều kiện tương tác hai chiều. Khi nhà trường lắng nghe, phản hồi và xử lý vấn đề của sinh viên trên các nền tảng số, sinh viên có xu hướng cảm nhận rằng tiếng nói của mình được tôn trọng. Thứ tư, truyền thông số hỗ trợ quản trị khủng hoảng. Trong môi trường mạng xã hội, thông tin tiêu cực có thể lan truyền rất nhanh; vì vậy, khả năng phản hồi kịp thời, chính xác và có trách nhiệm là điều kiện quan trọng để bảo vệ uy tín tổ chức.

Thực tiễn sử dụng nền tảng số ở Việt Nam cho thấy trường đại học cần triển khai truyền thông quan hệ công chúng số theo hướng đa kênh, thay vì phụ thuộc vào một nền tảng duy nhất. Zalo, Facebook, TikTok, YouTube, LinkedIn, website, email, cổng thông tin sinh viên và hệ thống quản lý học tập đều có những ưu thế khác nhau trong tiếp cận sinh viên, phụ huynh, cựu sinh viên, doanh nghiệp và xã hội. Do đó, uy tín của cơ sở giáo dục đại học trong môi trường số phụ thuộc vào khả năng phối hợp nhiều kênh, bảo đảm thông tin nhất quán, kịp thời và phù hợp với từng nhóm công chúng.

Dù vậy, truyền thông số chỉ tạo ra uy tín bền vững khi phản ánh đúng chất lượng thực tế. Thông tin quá thiên về quảng bá, thiếu căn cứ hoặc tạo khoảng cách giữa cam kết và trải nghiệm của sinh viên có thể làm suy giảm uy tín. Trong giáo dục đại học, uy tín không thể xây dựng bằng hình ảnh đơn thuần mà phải dựa trên sự phù hợp giữa "điều nhà trường nói" và "điều sinh viên thực sự trải nghiệm". Đây chính là điểm kết nối giữa truyền thông quan hệ công chúng số với hai biến trung gian quan trọng là niềm tin và sự hài lòng của sinh viên.

3.1. Niềm tin của sinh viên như cơ chế trung gian

Sinh viên là nhóm công chúng trung tâm của cơ sở giáo dục đại học. Báo cáo về bức tranh giáo dục đại học Việt Nam năm học 2024 - 2025 cho biết tổng quy mô đào tạo đại học đạt 2.528.519 sinh viên; trong đó có 2.245.369 sinh viên đại học hệ chính quy, 132.095 sinh viên vừa làm vừa học và 148.055 sinh viên đào tạo từ xa. Báo cáo cũng ghi nhận 111.805 học viên cao học, 12.555 nghiên cứu sinh, 118.450 cán bộ quản lý và giảng viên giáo dục đại học, trong đó có 82.451 giảng viên toàn thời gian [2]. Quy mô này cho thấy sinh viên là nhóm công chúng có ảnh hưởng lớn đến uy tín của các trường đại học.

Bảng 3. Quy mô giáo dục đại học Việt Nam năm học 2024 - 2025

Chỉ báo

Số lượng

Sinh viên đại học hệ chính quy

2.245.369

Sinh viên đại học vừa làm vừa học

132.095

Sinh viên đại học đào tạo từ xa

148.055

Tổng quy mô đào tạo đại học

2.528.519

Học viên cao học

111.805

Nghiên cứu sinh

12.555

Tổng số cán bộ quản lý, giảng viên giáo dục đại học

118.450

Giảng viên toàn thời gian

82.451

Tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ

35,7%

Nguồn: Đặng Văn Huân (2025), tác giả tổng hợp từ Overview of the higher education landscape in Vietnam [2].

Niềm tin của sinh viên đối với trường đại học là kỳ vọng rằng nhà trường có năng lực, thiện chí, trách nhiệm và nhất quán trong thực hiện các cam kết đào tạo. Niềm tin được hình thành từ chất lượng giảng dạy, sự công bằng trong đánh giá, tính minh bạch của học phí, thái độ phục vụ của bộ phận hỗ trợ, cơ hội thực tập - việc làm, mức độ an toàn của môi trường học tập và cách nhà trường xử lý phản hồi của sinh viên. Truyền thông quan hệ công chúng số tác động đến niềm tin vì nó quyết định cách sinh viên tiếp nhận, kiểm chứng và diễn giải thông tin liên quan đến nhà trường.

Một hệ thống truyền thông số đáng tin cậy cần bảo đảm ba yêu cầu. Trước hết, thông tin phải chính xác, thống nhất và có nguồn chịu trách nhiệm rõ ràng. Tiếp theo, thông tin phải kịp thời, nhất là trong các vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi sinh viên như lịch học, học phí, quy chế đào tạo, học bổng, thực tập, tốt nghiệp và tuyển dụng. Cuối cùng, truyền thông cần có khả năng đối thoại, nghĩa là sinh viên có kênh đặt câu hỏi, phản ánh vấn đề và nhận phản hồi phù hợp. Khi các yêu cầu này được bảo đảm, truyền thông số không chỉ cung cấp thông tin mà còn tạo dựng niềm tin vào năng lực quản trị và trách nhiệm của nhà trường.

Niềm tin có thể được xem là cơ chế trung gian thứ nhất giữa truyền thông quan hệ công chúng số và uy tín đại học. Truyền thông số hiệu quả giúp sinh viên hiểu đúng về nhà trường, giảm cảm giác mơ hồ, hạn chế tin đồn và tăng cảm nhận rằng nhà trường minh bạch, có trách nhiệm. Khi niềm tin được củng cố, sinh viên có xu hướng đánh giá tích cực hơn về uy tín của tổ chức. Truyền thông chậm, né tránh, thiếu thống nhất hoặc chỉ chú trọng quảng bá có thể làm suy giảm niềm tin và ảnh hưởng bất lợi đến uy tín.

3.2. Sự hài lòng của sinh viên như cơ chế trung gian

Sự hài lòng của sinh viên là mức độ đánh giá tích cực của người học đối với trải nghiệm giáo dục mà họ nhận được so với kỳ vọng ban đầu. Sự hài lòng không chỉ đến từ bài giảng, chương trình đào tạo hay cơ sở vật chất, mà còn đến từ toàn bộ hành trình trải nghiệm của sinh viên: tuyển sinh, nhập học, học tập, hoạt động đoàn - hội, dịch vụ hỗ trợ, tiếp cận thông tin, thực tập, tốt nghiệp và kết nối cựu sinh viên. Trong hành trình đó, truyền thông số hiện diện ở hầu hết các điểm chạm.

Từ các nghiên cứu của Qazi và cộng sự (2022), Tessema và cộng sự (2025), có thể rút ra rằng chất lượng dịch vụ, niềm tin và sự hài lòng có liên hệ chặt chẽ với truyền miệng tích cực và cảm nhận về tổ chức [3], [4]. Nếu truyền thông số phản ánh đúng chất lượng dịch vụ, giúp sinh viên dễ tiếp cận thông tin và tạo cảm giác được lắng nghe, sự hài lòng của sinh viên sẽ được củng cố. Khi hài lòng, sinh viên có xu hướng chia sẻ tích cực về trường, giới thiệu cho người học mới, tham gia hoạt động cựu sinh viên và bảo vệ hình ảnh nhà trường trước thông tin sai lệch.

Có thể hình dung cơ chế tác động như sau: truyền thông quan hệ công chúng số tác động đến nhận thức và trải nghiệm thông tin của sinh viên; nhận thức và trải nghiệm này ảnh hưởng đến niềm tin và sự hài lòng; niềm tin và sự hài lòng tiếp tục tác động đến cách sinh viên đánh giá, chia sẻ và bảo vệ uy tín của nhà trường. Như vậy, uy tín tổ chức không chỉ được xây dựng từ truyền thông ra bên ngoài mà còn từ cảm nhận nội bộ của sinh viên. Sinh viên tin tưởng và hài lòng có thể trở thành "đại sứ truyền thông" tự nhiên của nhà trường thông qua chia sẻ tích cực trên mạng xã hội và trong các mạng lưới cá nhân.

Trong phạm vi bài viết này, vai trò trung gian của niềm tin và sự hài lòng được luận giải trên cơ sở lý thuyết và tài liệu thứ cấp. Vì vậy, cách diễn đạt phù hợp là niềm tin và sự hài lòng "có thể đóng vai trò trung gian", "được xem là cơ chế giải thích" hoặc "là hướng giả thuyết cần kiểm định trong nghiên cứu tiếp theo". Cách tiếp cận này giúp bảo đảm tính thận trọng khoa học, đồng thời vẫn giữ được ý nghĩa lý luận và thực tiễn của bài viết.

Bảng 4. Khung luận giải tác động của truyền thông quan hệ công chúng số đến uy tín đại học

Thành tố

Biểu hiện trong truyền thông số

Tác động kỳ vọng đến uy tín đại học

Hiện diện số

Website, mạng xã hội, video, cổng thông tin sinh viên được cập nhật và đồng bộ

Tăng khả năng nhận diện, tạo cảm nhận hiện đại và chuyên nghiệp

Minh bạch thông tin

Công khai chương trình, học phí, học bổng, chuẩn đầu ra, kiểm định, cơ hội việc làm

Giảm bất định, củng cố niềm tin của sinh viên và phụ huynh

Tương tác hai chiều

Tiếp nhận câu hỏi, phản hồi phản ánh, lắng nghe ý kiến sinh viên

Tăng cảm giác được tôn trọng, cải thiện sự hài lòng

Quản trị khủng hoảng

Phát hiện sớm, xác minh, phân quyền phát ngôn, phản hồi có trách nhiệm

Bảo vệ hình ảnh, hạn chế lan truyền thông tin bất lợi

Đồng kiến tạo uy tín

Sinh viên, cựu sinh viên, giảng viên tham gia kể câu chuyện nhà trường

Tăng truyền miệng tích cực và sức thuyết phục xã hội

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ cơ sở lý luận và các nghiên cứu liên quan [3], [4], [7].

4. Giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông quan hệ công chúng số trong các cơ sở giáo dục đại học

Thứ nhất, chuyển từ tư duy "truyền thông quảng bá" sang tư duy "truyền thông quan hệ". Truyền thông số của trường đại học không nên chỉ tập trung đưa tin thành tích, tuyển sinh hoặc sự kiện, mà cần hướng tới xây dựng quan hệ lâu dài với sinh viên và các bên liên quan. Muốn vậy, nhà trường cần coi sinh viên là trung tâm của hoạt động truyền thông, lắng nghe nhu cầu thông tin của sinh viên, phản hồi có trách nhiệm và tạo điều kiện để sinh viên tham gia đóng góp vào quá trình cải thiện chất lượng dịch vụ.

Thứ hai, bảo đảm tính minh bạch, nhất quán và dễ tiếp cận của thông tin. Các thông tin liên quan đến chương trình đào tạo, chuẩn đầu ra, học phí, học bổng, quy chế học vụ, điều kiện tốt nghiệp, kiểm định chất lượng, tỷ lệ việc làm, cơ hội thực tập và hỗ trợ sinh viên cần được công bố rõ ràng trên các kênh chính thức. Thông tin càng minh bạch thì khả năng hình thành niềm tin càng cao. Nhà trường cần hạn chế tình trạng mỗi đơn vị truyền thông một kiểu, gây nhiễu thông tin cho sinh viên.

Thứ ba, xây dựng hệ thống lắng nghe số đối với sinh viên. Nhà trường cần có cơ chế theo dõi phản hồi của sinh viên trên website, fanpage, email, cổng thông tin, khảo sát trực tuyến và các cộng đồng số. Việc lắng nghe không nên dừng ở ghi nhận ý kiến mà cần phân loại vấn đề, chuyển đến đơn vị chịu trách nhiệm, phản hồi kết quả xử lý và công khai những cải tiến đã thực hiện. Khi sinh viên thấy phản ánh của mình tạo ra thay đổi thực tế, sự hài lòng và niềm tin đối với nhà trường sẽ được củng cố.

Thứ tư, chuyên nghiệp hóa đội ngũ truyền thông quan hệ công chúng số. Nhân sự truyền thông đại học cần có năng lực viết nội dung, quản trị mạng xã hội, phân tích dữ liệu truyền thông, xử lý khủng hoảng, hiểu biết chính sách giáo dục, đạo đức truyền thông và đặc điểm tâm lý sinh viên. Đội ngũ này không chỉ làm nhiệm vụ đăng tin mà phải tham gia tư vấn truyền thông chiến lược cho lãnh đạo nhà trường, đặc biệt trong các vấn đề có ảnh hưởng đến uy tín tổ chức.

Thứ năm, gắn truyền thông số với chất lượng dịch vụ thực tế. Uy tín đại học không thể bền vững nếu truyền thông tốt nhưng trải nghiệm của sinh viên không tốt. Vì vậy, hoạt động truyền thông cần kết nối chặt chẽ với các bộ phận đào tạo, công tác sinh viên, khảo thí, đảm bảo chất lượng, thư viện, ký túc xá, tư vấn tâm lý, việc làm và cựu sinh viên. Mỗi điểm chạm dịch vụ đều là một điểm chạm truyền thông. Khi chất lượng thực tế được cải thiện, truyền thông số sẽ có nội dung chân thực để lan tỏa.

Thứ sáu, phát huy vai trò của sinh viên như chủ thể đồng kiến tạo uy tín nhà trường. Sinh viên không chỉ là đối tượng được truyền thông mà còn là người kể câu chuyện về trường đại học. Nhà trường có thể khuyến khích sinh viên tham gia sản xuất nội dung tích cực, chia sẻ trải nghiệm học tập, giới thiệu hoạt động nghiên cứu, khởi nghiệp, tình nguyện, đoàn - hội và kết nối doanh nghiệp. Cách làm này cần dựa trên sự tự nguyện, chân thực và tôn trọng tiếng nói của sinh viên, tránh biến sinh viên thành công cụ quảng bá hình thức.

Thứ bảy, thiết lập quy trình quản trị khủng hoảng truyền thông số. Mỗi trường đại học cần có quy trình phát hiện sớm rủi ro truyền thông, xác minh thông tin, phân quyền phát ngôn, chuẩn bị thông điệp, phản hồi công chúng và đánh giá sau khủng hoảng. Trong các vấn đề liên quan đến quyền lợi sinh viên, sự im lặng hoặc phản hồi chung chung có thể làm gia tăng nghi ngờ. Phản hồi nhanh, đúng sự thật, có trách nhiệm và có giải pháp khắc phục sẽ giúp bảo vệ niềm tin và uy tín tổ chức.

5. Kết luận

Truyền thông quan hệ công chúng số có tác động ngày càng rõ đến uy tín của các cơ sở giáo dục đại học trong bối cảnh chuyển đổi số, cạnh tranh tuyển sinh, tự chủ đại học và thay đổi hành vi tiếp nhận thông tin của sinh viên. Tác động này không diễn ra một cách trực tiếp và đơn giản mà thông qua những cơ chế tâm lý - trải nghiệm quan trọng, trong đó nổi bật là niềm tin và sự hài lòng của sinh viên. Truyền thông số hiệu quả giúp nhà trường tăng cường minh bạch thông tin, tương tác hai chiều, xử lý phản hồi và lan tỏa giá trị tích cực; từ đó góp phần củng cố niềm tin, cải thiện sự hài lòng và nâng cao uy tín tổ chức.

Với cách tiếp cận phân tích tài liệu và số liệu thứ cấp, bài viết đề xuất một khung luận giải phù hợp cho nghiên cứu và thực tiễn quản trị truyền thông đại học. Trong thời gian tới, các trường đại học cần coi truyền thông quan hệ công chúng số là một bộ phận của quản trị chiến lược, gắn chặt với chất lượng đào tạo, dịch vụ sinh viên, văn hóa minh bạch và trách nhiệm giải trình. Chỉ khi truyền thông số phản ánh đúng giá trị thực và tạo ra trải nghiệm tích cực cho người học, uy tín của cơ sở giáo dục đại học mới có thể được xây dựng một cách bền vững.

ThS. Lê Phương Thảo

Trường Đại học Phương Đông


Tài liệu tham khảo:

1. DataReportal. (2026). Digital 2026: Vietnam. https://datareportal.com/reports/digital-2026-vietnam

2. Đặng Văn Huân. (2025). Overview of the higher education landscape in Vietnam. Department of Higher Education, Ministry of Education and Training, Vietnam. https://www.daad-vietnam.org/files/2025/11/1.1-Keynote-Dang-Van-Huan-MoET.pdf

3. Qazi, Z., Qazi, W., Raza, S. A., & Yousufi, S. Q. (2022). The antecedents affecting university reputation and student satisfaction: A study in higher education context. Corporate Reputation Review, 25(4), 253-271. https://doi.org/10.1057/s41299-021-00126-4

4. Tessema, D. H., Yesilada, F., Aghaei, I., & Ahmed, J. N. (2025). Influence of perceived service quality on word-of-mouth: The mediating role of brand trust and student satisfaction. Journal of Applied Research in Higher Education, 17(6), 2293-2306. https://doi.org/10.1108/JARHE-06-2024-0299

5. Thủ tướng Chính phủ. (2022). Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 25/01/2022 phê duyệt Đề án "Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022 - 2025, định hướng đến năm 2030".

6. Thủ tướng Chính phủ. (2024). Quyết định số 1705/QĐ-TTg ngày 31/12/2024 phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

7. Anggarina, P. T., Irawan, A. P., & Dewi, F. I. R. (2024). Higher education reputation management through increasing the role of public relations. Humanities and Social Sciences Letters, 12(3), 692-702. https://doi.org/10.18488/73.v12i3.3863