Thực thi pháp luật về phòng ngừa ô nhiễm môi trường biển ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp hoàn thiện

Thứ bảy, 28/03/2026 - 15:00

Tóm tắt: Ô nhiễm môi trường biển đang là một trong những thách thức môi trường nghiêm trọng nhất mà Việt Nam phải đối mặt trong bối cảnh đẩy mạnh chiến lược phát triển kinh tế biển. Bài viết phân tích thực trạng thực thi pháp luật về phòng ngừa ô nhiễm môi trường biển, bao gồm đánh giá hệ thống pháp lý hiện hành, chỉ ra những hạn chế trong cơ chế thực thi, làm rõ nguyên nhân của những bất cập đó và đề xuất các giải pháp hoàn thiện theo hướng tiếp cận tổng hợp.

Nghiên cứu chỉ ra rằng mặc dù Việt Nam đã xây dựng được một khung pháp lý tương đối đầy đủ, từ Luật Bảo vệ Môi trường 2020 đến Luật Tài nguyên, Môi trường biển và Hải đảo 2015, song hiệu quả thực thi trên thực tế còn rất hạn chế bởi ba nhóm vấn đề chủ yếu: hệ thống chế tài chưa đủ tính răn đe; sự phân mảnh trong cơ cấu quản lý và cơ chế phối hợp liên ngành và thiếu hụt nguồn lực kỹ thuật, tài chính phục vụ thanh tra, giám sát. Bài viết kết luận rằng việc hoàn thiện thực thi pháp luật đòi hỏi sự đổi mới đồng bộ cả về thể chế lẫn năng lực thực tiễn, có sự kết hợp giữa pháp luật nội địa và các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.

Từ khóa: ô nhiễm môi trường biển; phòng ngừa ô nhiễm; thực thi pháp luật; quản lý biển; Luật Bảo vệ Môi trường 2020.

ABSTRACT: Marine pollution is one of the most pressing environmental challenges facing Vietnam as it pursues an ambitious ocean economy strategy. This article comprehensively examines the enforcement of legal regulations on marine pollution prevention, assessing the current legal framework, identifying gaps and deficiencies in enforcement mechanisms, clarifying their root causes, and proposing comprehensive solutions. The study finds that while Vietnam has established a relatively complete legal framework-encompassing the 2020 Law on Environmental Protection and the 2015 Law on Marine and Island Resources and Environment practical enforcement effectiveness remains significantly limited by three core issues: insufficiently deterrent sanctions; fragmentation in management structures and inter-agency coordination; and inadequate technical and financial resources for inspection and monitoring. The article concludes that improving enforcement requires systemic reforms across both institutional and practical dimensions, integrating domestic law with Vietnams international environmental commitments.

Keywords: marine pollution; pollution prevention; law enforcement; ocean governance; Law on Environmental Protection 2020.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Biển Đông đóng vai trò chiến lược đặc biệt với Việt Nam không chỉ về tài nguyên biển, cửa ngõ giao lưu quốc tế mà còn là nền tảng của chiến lược phát triển kinh tế biển theo Nghị quyết số 36-NQ/TW [3]. Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế-xã hội nhanh chóng đang tạo ra những áp lực môi trường nghiêm trọng lên hệ sinh thái biển. Theo số liệu thống kê, Việt Nam hiện đứng thứ tư thế giới về ô nhiễm rác thải biển, đặc biệt là rác thải nhựa, với lượng xả thải ra đại dương ước tính từ 0,28 đến 1,8 triệu tấn mỗi năm[1] và 0,28–0,73 triệu tấn chảy ra đại dương[2]. Theo Báo cáo quốc gia về đa dạng sinh học, khoảng 80% rạn san hô trong vùng biển Việt Nam đang ở trong tình trạng rủi ro, trong đó 50% ở mức cao, đe dọa trực tiếp đến đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản[3].

Thực trạng này đặt ra câu hỏi cốt lõi về hiệu quả của hệ thống pháp luật trong lĩnh vực phòng ngừa ô nhiễm môi trường biển. Về mặt hình thức, Việt Nam đã xây dựng được một khung pháp lý khá toàn diện với nhiều văn bản quan trọng. Song giữa những quy định pháp lý và thực tế thi hành vẫn còn tồn tại một khoảng cách đáng lo ngại. Vấn đề thực thi bao gồm thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và ngăn chặn sự cố môi trường vẫnn là điểm yếu căn bản của hệ thống quản lý môi trường biển Việt Nam.

Bài viết này tiếp cận vấn đề từ góc độ pháp lý, kết hợp phương pháp phân tích luật học, so sánh pháp luật và đánh giá thực tiễn thi hành, nhằm làm rõ thực trạng pháp luật và đề xuất những giải pháp hoàn thiện có tính khả thi cho công tác thực thi pháp luật phòng ngừa ô nhiễm môi trường biển ở Việt Nam trong thời gian tới.

2. KHÁI QUÁT VỀ PHÒNG NGỪA Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN VÀ YÊU CẦU ĐỐI VỚI PHÁP LUẬT

 2.1. Khái niệm và đặc thù của ô nhiễm môi trường biển

Ô nhiễm môi trường biển được hiểu là sự biến đổi thành phần, tính chất của nước biển theo chiều hướng tiêu cực, vượt quá tiêu chuẩn cho phép, ảnh hưởng xấu đến hệ sinh thái biển và sức khỏe con người. Từ góc độ pháp lý, Luật Tài nguyên, Môi trường biển và Hải đảo năm 2015 xác định ô nhiễm môi trường biển là "sự xuất hiện của các chất độc hại, các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường biển dưới tác động của con người, gây ra hoặc có khả năng gây ra tác hại đến nguồn lợi sinh vật, nguy hiểm cho sức khỏe con người, cản trở các hoạt động ở biển" [8].

Ô nhiễm môi trường biển có một số đặc thù quan trọng cần được nhận thức đúng. Thứ nhất, tính liên thông và xuyên biên giới, ô nhiễm từ một nguồn có thể lan rộng qua nhiều vùng biển, vượt ra ngoài phạm vi thẩm quyền của một quốc gia. Thứ hai, tính tích lũy và không hồi phục, nhiều dạng ô nhiễm biển, đặc biệt là kim loại nặng và vi nhựa, có khả năng tích lũy sinh học và gây tổn hại không thể phục hồi. Thứ ba, tính đa nguồn, ô nhiễm biển đến từ nhiều nguồn khác nhau (từ đất liền, từ hoạt động hàng hải, từ thăm dò khai thác dầu khí, từ nuôi trồng thủy sản) đòi hỏi cơ chế quản lý đa ngành.

Những đặc thù này đặt ra yêu cầu đặc biệt cho công tác xây dựng và thực thi pháp luật như khung pháp lý phải bao quát đầy đủ các nguồn gây ô nhiễm; cơ chế phối hợp liên ngành và hợp tác quốc tế phải được thiết lập và vận hành hiệu quả; chế tài phải đủ mạnh để hạn chế lợi ích kinh tế ngắn hạn thúc đẩy hành vi vi phạm.

2.2. Nguyên tắc phòng ngừa trong pháp luật môi trường biển

Nguyên tắc phòng ngừa được coi là trụ cột của pháp luật môi trường hiện đại. Khác với nguyên tắc "người gây ô nhiễm phải trả" mang tính khắc phục, phòng ngừa nhấn mạnh việc ngăn chặn sự cố trước khi xảy ra. Luật Bảo vệ Môi trường 2020 của Việt Nam đã tiếp thu nguyên tắc này khi quy định rõ ràng rằng hoạt động bảo vệ môi trường cần "ưu tiên dự báo, phòng ngừa ô nhiễm, sự cố, suy thoái môi trường, quản lý rủi ro về môi trường" (Khoản 4 Điều 4).

Về mặt học thuật, nguyên tắc phòng ngừa trong pháp luật môi trường biển được cụ thể hóa qua ba cơ chế pháp lý: đánh giá tác động môi trường bắt buộc trước khi triển khai các dự án có nguy cơ gây ô nhiễm; hệ thống tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật về xả thải; và yêu cầu lập và thực hiện kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố. Việc thực thi hiệu quả ba cơ chế này là thước đo quan trọng nhất của năng lực pháp luật phòng ngừa ô nhiễm môi trường biển.

3. KHUNG PHÁP LÝ VỀ PHÒNG NGỪA Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN Ở VIỆT NAM 

 3.1. Các văn bản pháp luật nội địa chủ yếu

Luật Bảo vệ Môi trường 2020 (Luật số 72/2020/QH14) là văn bản trung tâm, có hiệu lực từ ngày 01/01/2022 [7]. Luật này thiết lập khung pháp lý tổng thể, bao gồm các quy định về đánh giá tác động môi trường, kiểm soát nguồn thải, ứng phó sự cố môi trường biển và bồi thường thiệt hại. Đáng chú ý, đây là lần đầu tiên luật quy định công khai thông tin trong phòng ngừa sự cố môi trường và đặt ra nguyên tắc không hy sinh môi trường để đổi lấy tăng trưởng kinh tế.

Luật Tài nguyên, Môi trường biển và Hải đảo 2015 là văn bản chuyên biệt điều chỉnh hoạt động khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên biển. Luật quy định về kiểm soát các nguồn ô nhiễm từ đất liền, từ hoạt động trên biển, ứng phó sự cố tràn dầu và bảo vệ các hệ sinh thái biển quan trọng. Tuy nhiên, đây là văn bản đang được xem xét sửa đổi, toàn diện do bộc lộ nhiều hạn chế qua gần một thập kỷ thi hành.

Nghị định số 08/2022/NĐ-CP [5] và Nghị định số 05/2025/NĐ-CP [6] về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường tạo thành cơ sở pháp lý cho hoạt động cưỡng chế và xử phạt. Thông tư số 19/2020/TT-BTNMT quy định về danh mục chất phân tán và quy trình ứng phó sự cố tràn dầu trên biển [4]. Quy hoạch không gian biển quốc gia được ban hành theo Nghị quyết số 139/2024/QH15 [9] tạo nền tảng quy hoạch mới quan trọng.

3.2. Cam kết quốc tế của Việt Nam

Việt Nam là thành viên của nhiều điều ước quốc tế quan trọng về bảo vệ môi trường biển. Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS) [2], được Việt Nam phê chuẩn năm 1994, đặt ra các nghĩa vụ cơ bản về bảo vệ và giữ gìn môi trường biển. Điều 194 UNCLOS yêu cầu các quốc gia thành viên phải áp dụng mọi biện pháp cần thiết để ngăn ngừa, giảm bớt và kiểm soát ô nhiễm môi trường biển từ mọi nguồn.

Ngoài ra, Việt Nam đã tham gia Công ước MARPOL 73/78 [1] về ngăn ngừa ô nhiễm từ tàu biển (các phụ lục I, II, IV, V và VI), đặt ra yêu cầu kỹ thuật nghiêm ngặt đối với tàu thuyền trong việc quản lý dầu, chất thải lỏng độc hại, nước thải và rác. Việt Nam cũng đã ký kết và thực hiện Kế hoạch Hành động Quốc gia về Quản lý rác thải nhựa đại dương đến năm 2030.

Việc nội luật hóa và thực thi các cam kết quốc tế này là một trong những thách thức lớn. Về mặt hình thức pháp lý, Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong việc nội luật hóa. Tuy nhiên trên thực tế, năng lực giám sát, cưỡng chế thực thi các tiêu chuẩn quốc tế vẫn còn nhiều bất cập.

4. THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG HẠN CHẾ TRONG THỰC THI PHÁP LUẬT

 4.1. Chế tài xử phạt chưa đủ tính răn đe

Một trong những điểm yếu cơ bản nhất của pháp luật phòng ngừa ô nhiễm môi trường biển Việt Nam là mức độ chế tài còn thấp so với lợi ích kinh tế thu được từ hành vi vi phạm. Điều này tạo ra cơ cấu khuyến khích ngược: khi lợi nhuận từ việc xả thải trái phép lớn hơn nhiều so với mức phạt phải chịu, doanh nghiệp và cá nhân sẽ chấp nhận rủi ro vi phạm thay vì đầu tư vào hệ thống xử lý đúng chuẩn.

Nghị định số 05/2025/NĐ-CP quy định mức phạt tiền tối đa đối với hành vi vi phạm quy định bảo vệ môi trường biển trong hoạt động dầu khí là 2 tỷ đồng đối với tổ chức. Tuy nhiên, so với lợi nhuận từ một giếng khai thác dầu khí, mức phạt này có thể được xem như một chi phí kinh doanh hơn là biện pháp răn đe thực sự. Bên cạnh đó, hình thức buộc khắc phục hậu quả, thu hồi lợi nhuận bất hợp pháp và đình chỉ hoạt động vốn có tính răn đe cao hơn lại được áp dụng không nhất quán và thường không đủ căn cứ kỹ thuật để thi hành.

Pháp luật cũng còn thiếu quy định về các công cụ kinh tế như thuế môi trường biển, phí bù đắp thiệt hại hệ sinh thái, hay quỹ bảo lãnh môi trường những công cụ được nhiều quốc gia phát triển sử dụng hiệu quả như một lớp bảo vệ bổ sung bên cạnh chế tài hành chính và hình sự. Đây là khoảng trống pháp lý cần được ưu tiên hoàn thiện.

4.2. Phân mảnh trong cơ cấu quản lý và phối hợp liên ngành

Một hạn chế có tính cấu trúc của hệ thống thực thi pháp luật môi trường biển Việt Nam là sự phân tán thẩm quyền giữa quá nhiều cơ quan. Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Công Thương, Bộ Quốc phòng (Cảnh sát biển, Bộ đội Biên phòng), Ủy ban nhân dân các tỉnh ven biển — tất cả đều có thẩm quyền liên quan đến quản lý môi trường biển. Điều này dẫn đến hai hệ quả là vừa chồng chéo thẩm quyền ở một số lĩnh vực, vừa bỏ trống trách nhiệm quản lý ở một số lĩnh vực khác.

Cơ chế phối hợp liên ngành trong ứng phó sự cố môi trường biển, đặc biệt là sự cố tràn dầu vẫn còn những bất cập nghiêm trọng. Khi xảy ra sự cố, thường mất nhiều thời gian để xác định cơ quan phụ trách, huy động nguồn lực và triển khai ứng phó, trong khi ô nhiễm tràn dầu có tính lan nhanh theo dòng hải lưu. Nghiên cứu thực tiễn về một số vụ tràn dầu lớn cho thấy sự phối hợp giữa Cảnh sát biển, cơ quan phụ trách tại địa phương và các bộ ngành trung ương thường xuyên gặp trở ngại do thiếu quy trình, hệ thống thông tin liên thông.

Sự phân cấp mạnh cho UBND cấp tỉnh trong quản lý môi trường biển ven bờ cũng tạo ra sự không đồng đều về năng lực thực thi. Tỉnh có nguồn lực tốt và lãnh đạo quyết tâm thì thực thi hiệu quả, trong khi tỉnh thiếu nguồn lực thì việc thực thi pháp luật mang tính hình thức hơn là thực chất.

4.3. Bất cập trong giám sát và kiểm soát nguồn thải

Khoảng 70% đến 80% ô nhiễm biển có nguồn gốc từ đất liền, chủ yếu qua các con sông đổ ra biển[4]. Tuy nhiên, hệ thống kiểm soát và giám sát nguồn thải từ đất liền vào môi trường biển còn rất nhiều lỗ hổng. Theo các báo cáo về quản lý môi trường tại Việt Nam, nước thải sinh hoạt được xử lý trước khi xả ra môi trường chỉ vào khoảng 15% một con số cực kỳ thấp so với yêu cầu bảo vệ môi trường biển[5]. Hàng loạt khu công nghiệp ven biển vẫn chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn.

Hệ thống quan trắc môi trường biển quốc gia mặc dù đã được quy hoạch nhưng chưa đạt đủ mật độ điểm quan trắc để phát hiện kịp thời các sự cố ô nhiễm. Thiết bị quan trắc tự động có kết nối trực tuyến mới được triển khai ở một số đối tượng có nguy cơ cao, trong khi đại đa số cơ sở sản xuất ven biển vẫn tự quan trắc và báo cáo theo định kỳ. Điều này đặt ra câu hỏi về tính độc lập và tin cậy của dữ liệu môi trường biển hiện nay.

Đối với hoạt động khai thác dầu khí, một trong những nguồn ô nhiễm nguy hiểm nhất, hiện trạng kiểm soát chất thải từ gần 340 giếng khoan trong vùng biển Việt Nam còn nhiều khoảng trống nghiêm trọng. Đặc biệt, khoảng 20-30% chất thải rắn nguy hại phát sinh từ hoạt động khai thác dầu khí vẫn chưa có cơ sở xử lý đạt chuẩn, phản ánh sự thiếu đồng bộ giữa quy định pháp lý và hạ tầng kỹ thuật thực tế[6].

4.4. Thiếu hụt nguồn lực thực thi

Thực thi pháp luật môi trường biển đòi hỏi nguồn lực kỹ thuật và tài chính đặc thù: tàu tuần tra, thiết bị đo đạc và phân tích mẫu môi trường biển, hệ thống radar và vệ tinh theo dõi tàu thuyền, phòng thí nghiệm được chứng nhận năng lực. Thực tế ở Việt Nam, lực lượng thanh tra môi trường biển vừa thiếu về số lượng, vừa hạn chế về năng lực chuyên môn, vừa không đủ trang bị kỹ thuật để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ giám sát trên một vùng biển rộng lớn trải dài hơn 3.260 km bờ biển.

Chi ngân sách cho bảo vệ môi trường biển còn thấp so với yêu cầu. Đây là hạn chế có tính hệ thống, khi môi trường biển thường xếp sau các ưu tiên phát triển kinh tế trong phân bổ ngân sách. Mô hình quỹ bảo vệ môi trường được thu từ phí, thuế môi trường để tạo nguồn lực độc lập cho thực thi pháp luật môi trường. Hiện nay vẫn chưa được khai thác đúng mức ở Việt Nam.

5. NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG HẠN CHẾ

Phân tích các hạn chế nêu trên cho thấy chúng xuất phát từ ba nhóm nguyên nhân có tính cấu trúc và liên hệ chặt chẽ với nhau.

Thứ nhất, nguyên nhân thể chế và pháp lý. Pháp luật về môi trường biển tuy đã được hệ thống hóa nhưng vẫn còn quy định tại nhiều văn bản khác nhau, dẫn đến sự chồng chéo, mâu thuẫn và khoảng trống pháp lý. Luật Tài nguyên, Môi trường biển và Hải đảo 2015 ra đời trước khi Luật Bảo vệ Môi trường 2020 có những thay đổi căn bản, dẫn đến sự không đồng bộ. Ngoài ra, cơ chế trách nhiệm pháp lý trong ô nhiễm xuyên địa phương chưa được quy định rõ ràng, tạo ra không gian trốn tránh trách nhiệm.

Thứ hai, nguyên nhân từ áp lực tăng trưởng kinh tế. Chiến lược phát triển kinh tế biển với các mục tiêu tham vọng về du lịch biển, khai thác dầu khí, thủy sản và công nghiệp ven biển tạo ra áp lực đáng kể lên cơ quan quản lý môi trường. Trong nhiều trường hợp, các dự án kinh tế được ưu tiên triển khai nhanh, khiến thủ tục đánh giá tác động môi trường trở nên hình thức và công tác giám sát hậu cấp phép bị coi nhẹ.

Thứ ba, nguyên nhân từ nhận thức và văn hóa pháp luật. Ý thức chấp hành pháp luật môi trường của một bộ phận doanh nghiệp và cư dân ven biển còn thấp. Thiếu sự giám sát xã hội và sự tham gia của cộng đồng trong bảo vệ môi trường biển, vốn là yếu tố bổ sung quan trọng cho cơ chế thực thi nhà nước cũng làm giảm hiệu quả chung của hệ thống. Khuôn khổ pháp lý về tiếp cận thông tin môi trường và cơ chế khiếu nại, tố cáo vi phạm môi trường biển vẫn chưa tạo điều kiện đủ thuận lợi để người dân và tổ chức xã hội dân sự tham gia hiệu quả.

6. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN THỰC THI PHÁP LUẬT PHÒNG NGỪA Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN

 6.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật và chế tài

Trước hết, cần sửa đổi toàn diện Luật Tài nguyên, Môi trường biển và Hải đảo 2015 để bảo đảm đồng bộ với Luật Bảo vệ Môi trường 2020 và cập nhật với thực tiễn mới. Trong quá trình sửa đổi, cần bổ sung rõ ràng các quy định về trách nhiệm pháp lý của chủ thể gây ô nhiễm xuyên địa phương và xuyên biên giới; cơ chế bắt buộc đặt quỹ dự phòng xử lý sự cố môi trường đối với các dự án có nguy cơ cao; và mở rộng phạm vi áp dụng đánh giá tác động môi trường chiến lược (SEA) đối với các quy hoạch phát triển kinh tế biển.

Về chế tài, cần nâng mức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường biển lên mức đủ để tạo tính răn đe thực sự, đặc biệt là đối với hành vi xả thải từ hoạt động dầu khí, nhiệt điện và công nghiệp nặng ven biển. Cần thiết lập nguyên tắc mức phạt không được thấp hơn lợi nhuận bất hợp pháp thu được từ hành vi vi phạm. Đồng thời, cần tăng cường ứng dụng trách nhiệm hình sự đối với các hành vi gây ô nhiễm nghiêm trọng điều mà Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017) đã mở ra nhưng chưa được vận dụng đúng mức.

Ngoài ra, cần triển khai các công cụ kinh tế bổ sung: thuế carbon và thuế ô nhiễm biển, quỹ bảo vệ môi trường biển quốc gia được tài trợ qua phí khai thác tài nguyên biển, và cơ chế chi trả dịch vụ hệ sinh thái biển. Các công cụ này vừa tạo nguồn lực cho thực thi, vừa tạo động lực kinh tế để doanh nghiệp tự nguyện tuân thủ.

6.2. Cải cách cơ cấu quản lý và phối hợp liên ngành

Việc hợp nhất Bộ Tài nguyên và Môi trường với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thành Bộ Nông nghiệp và Môi trường (năm 2025) là một bước đi tích cực, giảm bớt sự phân tán trong quản lý môi trường biển. Tuy nhiên, cần tiếp tục xây dựng một cơ chế điều phối liên ngành thực sự hiệu quả, có thể theo mô hình Ủy ban quốc gia về quản lý tổng hợp vùng bờ và môi trường biển, với thẩm quyền đủ mạnh để ra quyết định trong các tình huống liên ngành.

Cần thiết lập và kiểm thử định kỳ các kế hoạch ứng phó sự cố môi trường biển theo vùng, quy định rõ vai trò, trách nhiệm và quy trình phối hợp giữa các cơ quan từ trung ương đến địa phương, giữa lực lượng dân sự và quân sự. Kinh nghiệm từ Nhật Bản và Hàn Quốc cho thấy việc diễn tập ứng phó sự cố tràn dầu hàng năm có tác dụng rất lớn trong việc nâng cao năng lực và sự phối hợp thực tế của các lực lượng.

6.3. Nâng cao năng lực giám sát và tăng cường nguồn lực

Cần đầu tư có trọng tâm vào hạ tầng kỹ thuật phục vụ giám sát môi trường biển: hoàn thiện mạng lưới quan trắc môi trường biển quốc gia với đủ điểm đo theo quy hoạch; triển khai hệ thống quan trắc tự động và kết nối trực tuyến cho tất cả các cơ sở có nguy cơ ô nhiễm cao; ứng dụng công nghệ vệ tinh, drone và AI trong phát hiện sớm các sự cố ô nhiễm biển. Công nghệ số hóa và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước về môi trường biển cần được đặt thành một ưu tiên chiến lược.

Về nguồn nhân lực, cần xây dựng chương trình đào tạo bài bản và có hệ thống cho đội ngũ thanh tra, kiểm soát viên môi trường biển, bao gồm cả đào tạo pháp lý và kỹ thuật. Hợp tác quốc tế với các quốc gia có kinh nghiệm trong quản lý môi trường biển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và các quốc gia Bắc Âu cần được tăng cường để tiếp nhận chuyên gia, công nghệ và kinh nghiệm thực tiễn.

6.4. Tăng cường sự tham gia của cộng đồng và xã hội dân sự

Pháp luật môi trường biển cần mở rộng và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho sự tham gia của cộng đồng dân cư ven biển, ngư dân, tổ chức xã hội dân sự và giới khoa học trong giám sát và phản ánh vi phạm. Điều này không chỉ là yêu cầu dân chủ hóa quản trị môi trường, mà còn là giải pháp thực tiễn để bổ sung cho năng lực giám sát hạn chế của nhà nước. Cần hoàn thiện cơ chế bảo vệ người tố giác vi phạm môi trường biển, xây dựng đường dây nóng và ứng dụng di động tiếp nhận thông tin vi phạm.

Đồng thời, cần đầu tư mạnh mẽ hơn vào giáo dục pháp luật môi trường biển, xây dựng ý thức và văn hóa bảo vệ biển từ thế hệ trẻ. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các cộng đồng ven biển có ý thức bảo vệ môi trường biển cao sẽ trở thành lực lượng giám sát xã hội quan trọng và hiệu quả, bổ sung cho hệ thống kiểm soát nhà nước.

7. KẾT LUẬN

Thực thi pháp luật về phòng ngừa ô nhiễm môi trường biển ở Việt Nam đang đứng trước một nghịch lý là khung pháp lý ngày càng được hoàn thiện, nhưng thực trạng ô nhiễm biển không ngừng gia tăng. Sự chênh lệch này không phải là bằng chứng của sự thất bại về pháp luật, mà là lời nhắc nhở rằng pháp luật, dù hoàn thiện đến đâu, cũng chỉ là điều kiện cần chứ không phải điều kiện đủ cho việc bảo vệ môi trường biển. Điều kiện đủ là một hệ thống thực thi hiệu quả, có đủ nguồn lực, có sự phối hợp nhịp nhàng và được xã hội ủng hộ.

Nghiên cứu này chỉ ra rằng để thu hẹp khoảng cách giữa pháp luật và thực tiễn trong lĩnh vực này, cần một chiến lược toàn diện: hoàn thiện chế tài đủ mạnh để có sức răn đe; cải cách cơ cấu thể chế theo hướng quản lý tổng hợp và phối hợp liên ngành hiệu quả; đầu tư mạnh vào năng lực kỹ thuật và nguồn nhân lực thực thi; và mở rộng sự tham gia của cộng đồng và xã hội dân sự trong giám sát bảo vệ môi trường biển.

Trong bối cảnh Việt Nam đang hướng đến mục tiêu trở thành "quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển" vào năm 2030 theo Nghị quyết 36-NQ/TW [3], việc bảo vệ môi trường biển không chỉ là nghĩa vụ pháp lý quốc tế hay cam kết phát triển bền vững, mà còn là yêu cầu tất yếu để bảo đảm tính khả thi lâu dài của chính chiến lược kinh tế biển. Biển sạch chính là nền tảng để kinh tế biển phát triển bền vững. Điều này đòi hỏi sự cam kết chính trị mạnh mẽ, sự phối hợp thể chế thực chất và một tư duy pháp lý chuyển từ quản lý sang bảo vệ chủ động môi trường biển.

Trần Đại Nghĩa, Hoàng Khắc Thành, Nguyễn Thị Thiên Ân

Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam tại TPHCM

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

 Tài liệu tham khảo quốc tế

[1] International Maritime Organization (1973/1978). International Convention for the Prevention of Pollution from Ships (MARPOL 73/78). London: IMO.

[2] United Nations (1982). United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS). New York: UN.

Tài liệu tham khảo trong nước

[3] Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2018). Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Hà Nội.

[4] Bộ Tài nguyên và Môi trường (2020). Thông tư số 19/2020/TT-BTNMT về danh mục chất phân tán và quy trình ứng phó sự cố tràn dầu trên biển. Hà Nội.

[5] Chính phủ (2022). Nghị định số 08/2022/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường. Hà Nội.

[6] Chính phủ (2025). Nghị định số 05/2025/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Hà Nội.

[7] Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2020). Luật Bảo vệ Môi trường, số 72/2020/QH14. Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia.

[8] Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2015). Luật Tài nguyên, Môi trường biển và Hải đảo, số 82/2015/QH13. Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia.

[9] Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2024). Nghị quyết số 139/2024/QH15 về Quy hoạch không gian biển quốc gia thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050. Hà Nội.

[10] Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam (2023). Báo cáo hiện trạng môi trường biển và hải đảo Việt Nam giai đoạn 2016–2020. Hà Nội: NXB Tài nguyên – Môi trường và Bản đồ.


[1] VietnamPlus (2025), Urgent Solutions Needed to Address Plastic Waste Pollution: Experts. Truy cập ngày 26/03/2026. https://en.vietnamplus.vn/urgent-solutions-needed-to-address-plastic-waste-pollution-experts-post310845.vnp

[2] Tieu Bac (2023), "Vietnam discards some 1.8 million metric tons of plastic waste each year", Vietnam News. Truy cập ngày 26/03/2026. https://news.tuoitre.vn/vietnam-discards-some-18-million-metric-tons-of-plastic-waste-each-year-10373233.htm?utm_source=

[3] Ministry of Natural Resources and Environment (2019), "The sixth national report to The United Nations Convention on Biological Diversity", Convention on Biologicial Diversity, Hanoi, pp.190.

[4] Minh Hanh (2026), "80% of ocean plastic waste originates from land, report finds", Ministry of Agriculture and Environment. Truy cập ngày 26/03/2026. https://en.mae.gov.vn/80-of-ocean-plastic-waste-originates-from-land-report-finds-9197.htm

[5] Bộ Tài nguyên và Môi trường (2021), "Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia giai đoạn 2016-2020", Nxb Dân trí, tr. 9

[6] Diệu Thúy (2019), "Môi trường biển Việt Nam - Bài 1: Ô nhiễm và suy thoái gia tăng", Kinh tế xanh – Cơ quan của Trung ương Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam (VIASEE). Truy cập ngày 27/03/2026. https://kinhtexanh.vn/moi-truong-bien-viet-nam-bai-1-o-nhiem-va-suy-thoai-gia-tang-11551.html