Trong tư tưởng của Người, động lực phát triển xã hội không chỉ bao gồm các yếu tố kinh tế, lợi ích vật chất mà còn bao gồm sức mạnh của nhân dân, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, dân chủ, đạo đức cách mạng, giáo dục, khoa học và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
1. Đặt vấn đề
Trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, vấn đề động lực phát triển xã hội luôn giữ vị trí trung tâm trong nghiên cứu triết học và khoa học xã hội. Việc xác định đúng những nhân tố thúc đẩy sự vận động và phát triển của xã hội không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn có giá trị phương pháp luận sâu sắc đối với hoạt động thực tiễn của các lực lượng chính trị và các quốc gia dân tộc.
Khác với các học thuyết duy tâm hoặc siêu hình trước đó khi giải thích động lực của lịch sử bằng ý chí của thượng đế, tinh thần tuyệt đối hoặc vai trò của các cá nhân kiệt xuất, chủ nghĩa Mác - Lênin đã tạo ra bước ngoặt cách mạng trong nhận thức khi khẳng định quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo lịch sử, lợi ích là động lực trực tiếp của hoạt động xã hội và sự phát triển của lực lượng sản xuất là cơ sở vật chất của tiến bộ xã hội. C.Mác từng khẳng định: "Lịch sử chẳng qua chỉ là hoạt động của con người theo đuổi những mục đích của bản thân mình" [1, tr.119].
Tiếp thu thế giới quan và phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã phát triển thành hệ thống quan điểm toàn diện về động lực phát triển xã hội phù hợp với điều kiện của một nước thuộc địa nửa phong kiến tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó không phải là sự sao chép giản đơn những luận điểm kinh điển mà là quá trình vận dụng sáng tạo trên cơ sở kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa yêu nước Việt Nam với chủ nghĩa quốc tế vô sản, giữa truyền thống dân tộc với tinh hoa văn hóa nhân loại và lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về động lực phát triển xã hội - cơ sở lý luận trực tiếp hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
Một trong những cống hiến vĩ đại của C.Mác và Ph.Ăngghen là phát hiện ra quy luật vận động và phát triển của xã hội loài người thông qua học thuyết duy vật lịch sử. Theo các ông, động lực của lịch sử không nằm ở ý chí của thần linh, ở tư tưởng thuần túy hay ở hoạt động của các cá nhân kiệt xuất mà bắt nguồn từ chính đời sống hiện thực của con người, từ hoạt động sản xuất vật chất và những quan hệ xã hội do con người tạo ra.
C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định: "Tiền đề đầu tiên của toàn bộ lịch sử nhân loại dĩ nhiên là sự tồn tại của những cá nhân con người sống" [1, tr.29]. Từ tiền đề đó, các ông chỉ ra rằng nhu cầu, lợi ích và hoạt động thực tiễn của con người là những nhân tố trực tiếp thúc đẩy sự phát triển xã hội. Mặc dù chưa đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về động lực phát triển xã hội, song các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã xác định những nhân tố giữ vai trò thúc đẩy sự vận động của lịch sử như phương thức sản xuất, sự phát triển của lực lượng sản xuất, đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội và lợi ích của các chủ thể xã hội.
Đặc biệt, chủ nghĩa Mác khẳng định lợi ích là nguyên nhân sâu xa của mọi hoạt động xã hội. C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng: "Ở đâu không có lợi ích chung thì ở đó không thể có sự thống nhất về mục đích và càng không thể có sự thống nhất về hành động được" [2, tr.21]. Chính lợi ích là cái tạo ra động cơ hành động, quy định sự lựa chọn phương thức hoạt động và khả năng huy động các lực lượng xã hội tham gia vào tiến trình phát triển.
Bên cạnh đó, chủ nghĩa Mác - Lênin còn khẳng định vai trò quyết định của quần chúng nhân dân đối với lịch sử. V.I.Lênin nhấn mạnh rằng cách mạng là sự nghiệp của quần chúng và không một giai cấp nào có thể trở thành lực lượng lãnh đạo xã hội nếu không đào tạo được đội ngũ tiên phong chính trị có đủ năng lực tổ chức và lãnh đạo phong trào cách mạng. Chính những luận điểm đó đã trở thành cơ sở lý luận trực tiếp cho sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về động lực phát triển xã hội.
2.2. Sự kế thừa và phát triển sáng tạo của Hồ Chí Minh đối với lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về động lực phát triển xã hội
Trong di sản lý luận của mình, Hồ Chí Minh không xây dựng một học thuyết độc lập về động lực phát triển xã hội theo nghĩa hàn lâm của khoa học hiện đại. Tuy nhiên, thông qua toàn bộ hoạt động lý luận và thực tiễn cách mạng, Người đã luận giải một cách sâu sắc những nhân tố tạo nên sức mạnh phát triển của xã hội Việt Nam. Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh xác định các động lực của phát triển xã hội bao gồm đoàn kết dân tộc, đoàn kết giai cấp, đấu tranh giai cấp, dân chủ, đạo đức, lợi ích vật chất và tinh thần của nhân dân lao động. Trong đó, sự thỏa mãn lợi ích và hạnh phúc của nhân dân giữ vị trí đặc biệt quan trọng.
Thứ nhất, con người và nhân dân là động lực trung tâm của sự phát triển xã hội. Nếu chủ nghĩa Mác khẳng định quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo lịch sử thì Hồ Chí Minh phát triển thành quan điểm nổi tiếng: "Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân". Theo Người, mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều bắt nguồn từ sức mạnh của nhân dân và vì lợi ích của nhân dân. Người nhiều lần nhấn mạnh: "Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh" [3, tr.51]. Đây không chỉ là nguyên tắc đạo đức của người cán bộ cách mạng mà còn phản ánh tư duy phát triển mang tính nhân văn sâu sắc, trong đó con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của tiến bộ xã hội.
Thứ hai, lợi ích vật chất và tinh thần là động lực trực tiếp của hoạt động xã hội. Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác về vai trò của lợi ích, Hồ Chí Minh cho rằng muốn phát huy tính tích cực, sáng tạo của nhân dân phải quan tâm đến lợi ích thiết thân của họ. Người yêu cầu phải không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bảo đảm cho mọi người có cơm ăn, áo mặc, được học hành và có điều kiện phát triển toàn diện. Người khẳng định: "Hết thảy những việc có thể nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của dân phải được ta đặc biệt chú ý" [3, tr.52]. Quan điểm đó phản ánh sự thống nhất giữa mục tiêu nhân văn của chủ nghĩa xã hội với yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.
Thứ ba, đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh to lớn của phát triển xã hội.Hồ Chí Minh tiếp thu sâu sắc truyền thống cố kết cộng đồng của dân tộc Việt Nam và phát triển thành tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc. Người cho rằng đoàn kết là vấn đề chiến lược, quyết định thành công của cách mạng Việt Nam trong mọi giai đoạn lịch sử. Theo Hồ Chí Minh, đoàn kết không chỉ là yêu cầu chính trị mà còn là động lực xã hội đặc biệt quan trọng để tập hợp mọi nguồn lực vật chất và tinh thần của dân tộc phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước. Đề tài đã khẳng định đoàn kết dân tộc và đoàn kết giai cấp là những động lực quan trọng trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển xã hội.
Thứ tư, dân chủ và đạo đức cách mạng là những động lực tinh thần của sự phát triển. Hồ Chí Minh coi dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực của chủ nghĩa xã hội. Theo Người, dân chủ tạo điều kiện để phát huy sáng kiến, trí tuệ và trách nhiệm của nhân dân trong xây dựng đất nước. Một xã hội không phát huy được quyền làm chủ của nhân dân sẽ không thể huy động được nguồn lực phát triển to lớn nhất là con người. Cùng với đó, Hồ Chí Minh coi đạo đức cách mạng là "gốc" của người cách mạng. Người kế thừa tư tưởng "đức trị" của phương Đông nhưng nâng lên tầm cao mới của đạo đức cộng sản chủ nghĩa. Đạo đức cách mạng trở thành động lực nội sinh thúc đẩy con người vượt qua chủ nghĩa cá nhân, cống hiến cho cộng đồng và xã hội.
Thứ năm, Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò tổ chức và định hướng các động lực xã hội. Nếu chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định vai trò lãnh đạo của chính đảng vô sản thì Hồ Chí Minh phát triển thành quan điểm về Đảng cầm quyền trong điều kiện Việt Nam. Theo Người, Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân; có trách nhiệm tổ chức, phát huy và định hướng đúng đắn các nguồn lực phát triển của xã hội. Vai trò lãnh đạo của Đảng không thay thế vai trò của nhân dân mà nhằm phát huy tối đa sức mạnh của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
2.3. Giá trị lý luận và ý nghĩa thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh về động lực phát triển xã hội
Trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu thực hiện khát vọng phát triển đến năm 2045, tư tưởng Hồ Chí Minh về động lực phát triển xã hội tiếp tục giữ nguyên giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Một mặt, tư tưởng đó cung cấp cơ sở phương pháp luận để giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, giữa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể và lợi ích quốc gia - dân tộc.
Mặt khác, tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần định hướng cho việc phát huy nhân tố con người, khơi dậy khát vọng cống hiến, tinh thần đổi mới sáng tạo và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển đổi số quốc gia hiện nay. Đối với các học viện, nhà trường quân đội nói chung và Học viện Chính trị nói riêng, việc nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về động lực phát triển xã hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị, xây dựng bản lĩnh chính trị, động cơ học tập đúng đắn và ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, giảng viên và học viên trong tình hình mới.
3. Kết luận
Tư tưởng Hồ Chí Minh về động lực phát triển xã hội là sự kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về động lực phát triển xã hội trong điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam. Nếu chủ nghĩa Mác - Lênin đặt nền móng lý luận bằng việc phát hiện vai trò của lợi ích, của quần chúng nhân dân và của sự phát triển lực lượng sản xuất thì Hồ Chí Minh đã phát triển thành hệ thống quan điểm toàn diện về con người, đại đoàn kết dân tộc, dân chủ, đạo đức cách mạng, lợi ích vật chất và tinh thần cùng vai trò lãnh đạo của Đảng. Giá trị nổi bật của tư tưởng Hồ Chí Minh nằm ở chỗ đã kết hợp một cách biện chứng giữa các động lực vật chất và tinh thần, giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội, giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, tạo thành nguồn lực tổng hợp cho sự phát triển của cách mạng Việt Nam.
Trong giai đoạn hiện nay, việc tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về động lực phát triển xã hội có ý nghĩa quan trọng đối với việc phát huy nhân tố con người, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Trung tá, TS. Điền Văn Dần - Đại úy Nguyễn Trọng Duy
Khoa Triết học Mác-Lênin/ Học viện Chính trị
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
[1]. C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995.
[2]. C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, t.2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995.
[3]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.5, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011.
[4]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.6, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011.
[5]. V.I.Lênin, Toàn tập, t.41, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1978.
[6]. Học viện Chính trị, Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài khoa học cấp Học viện: Tư tưởng Hồ Chí Minh về động lực phát triển xã hội, định hướng vận dụng trong giảng dạy ở Học viện Chính trị hiện nay, Hà Nội, 2026