Vai trò của giáo dục và đào tạo đối với sự phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng

Thứ năm, 29/10/2026 - 16:59

Tóm tắt: Giáo dục và đào tạo giữ vai trò quan trọng trong phát triển đất nước. Theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng, bài viết làm rõ vai trò của giáo dục và đào tạo trong tạo nền tảng phát triển bền vững, phát triển con người toàn diện, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và xây dựng xã hội học tập, góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Từ khóa: Giáo dục và đào tạo; phát triển đất nước; nguồn nhân lực; kỷ nguyên mới; Đại hội XIV.

MỞ ĐẦU

Trong tiến trình phát triển của mỗi quốc gia, giáo dục và đào tạo tác động trực tiếp đến con người, chủ thể sáng tạo và sử dụng các nguồn lực. Đối với Việt Nam, bước vào kỷ nguyên mới đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng, phát huy nội lực và bảo đảm phát triển vì hạnh phúc của Nhân dân. Những yêu cầu đó đòi hỏi giáo dục phải tạo chuyển biến về phẩm chất, năng lực người học và khả năng đáp ứng nhiệm vụ phát triển đất nước. Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh: "Nhận thức sâu sắc, đầy đủ và thực hiện nhất quán quan điểm giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, quyết định tương lai dân tộc"[1]. Quan điểm này khẳng định vị trí chiến lược của giáo dục, đồng thời đặt ra trách nhiệm chuyển thành chất lượng và hiệu quả thực tế. Vì vậy, làm rõ vai trò của giáo dục và đào tạo theo tinh thần Đại hội XIV có ý nghĩa trong nhận thức và tổ chức thực hiện nhiệm vụ phát triển đất nước trong giai đoạn mới này.

Nội dung

1. Giáo dục và đào tạo tạo nền tảng cho phát triển bền vững, củng cố nội lực và năng lực tự chủ của đất nước

Sự phát triển của đất nước phụ thuộc vào khả năng huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Trong đó, con người giữ vai trò quyết định vì mọi nguồn lực tự nhiên, tài chính, kỹ thuật đều phải thông qua hoạt động của con người để tạo thành giá trị. Giáo dục và đào tạo tác động vào nền tảng này bằng việc nâng cao tri thức, hình thành năng lực lao động và phát triển khả năng sáng tạo. Một nền giáo dục có chất lượng góp phần biến tiềm năng dân số thành nguồn lực phát triển, tạo điều kiện để đất nước chủ động lựa chọn và thực hiện con đường phát triển phù hợp.

Khẳng định giáo dục và đào tạo "quyết định tương lai dân tộc"[2] cho thấy tầm nhìn vượt ra ngoài kết quả của từng năm học. Chất lượng giáo dục hôm nay ảnh hưởng đến năng lực sản xuất, trình độ khoa học và chất lượng đời sống xã hội trong nhiều thập niên tiếp theo. Đầu tư cho giáo dục vì thế mang ý nghĩa chuẩn bị năng lực phát triển lâu dài. Khi người dân có tri thức, kỹ năng và ý thức trách nhiệm, xã hội có điều kiện sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực, hạn chế lãng phí và ứng phó chủ động trước những biến động.

Trong kỷ nguyên mới, tăng trưởng bền vững đòi hỏi nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng. Giáo dục góp phần đáp ứng yêu cầu đó bằng việc nâng cao chất lượng lao động, phát triển tư duy khoa học và khả năng cải tiến công việc. Người lao động được đào tạo tốt có thể sử dụng thiết bị hiệu quả, tiếp nhận quy trình mới và giải quyết những vấn đề phát sinh trong sản xuất. Ở phạm vi rộng hơn, trình độ học vấn và kỹ năng của dân cư tạo cơ sở để doanh nghiệp đổi mới công nghệ, phát triển sản phẩm và tham gia sâu hơn vào các hoạt động có giá trị cao.

Giáo dục còn củng cố năng lực tự chủ thông qua khả năng tạo lập và vận dụng tri thức. Tự chủ quốc gia cần đội ngũ có năng lực nhận diện vấn đề, đánh giá phương án và thực hiện các quyết định phát triển. Khi hệ thống giáo dục hình thành được lực lượng chuyên gia, nhà khoa học và người lao động sáng tạo, đất nước có thêm khả năng tiếp thu có chọn lọc thành tựu quốc tế. Sự tiếp thu ấy trở thành cơ sở để từng bước làm chủ công nghệ, phát triển giải pháp phù hợp với điều kiện Việt Nam và giảm sự lệ thuộc vào nguồn lực bên ngoài.

Để phát huy vai trò này, cần thực hiện nhất quán vị trí ưu tiên của giáo dục trong chiến lược phát triển. Văn kiện yêu cầu: "Đổi mới và hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển giáo dục và đào tạo, tập trung đột phá về phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao"[3]. Theo đó, chính sách giáo dục phải gắn với chính sách kinh tế, khoa học và xã hội; nguồn lực đầu tư phải hướng đến chất lượng thực chất.

2. Giáo dục và đào tạo phát triển con người toàn diện, bồi đắp phẩm chất công dân và các giá trị văn hóa Việt Nam

Phát triển đất nước trước hết phải hướng đến sự phát triển của con người. Giáo dục và đào tạo có vai trò trực tiếp trong quá trình này vì vừa cung cấp tri thức, vừa hình thành nhân cách, phương pháp tư duy và cách ứng xử. Con người được giáo dục toàn diện có khả năng lao động, sáng tạo, tự hoàn thiện và thực hiện trách nhiệm xã hội.

Đại hội XIV xác định: "Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực, thể lực và phẩm chất người học, chuẩn hoá chất lượng và kiểm soát chặt chẽ đầu ra"[4]. Định hướng này yêu cầu gắn kiến thức với khả năng vận dụng, kết hợp phát triển trí tuệ với đạo đức và sức khỏe. Người học cần biết tìm hiểu, phân tích, hợp tác, giải quyết vấn đề và chịu trách nhiệm về hành động. Như vậy, mục tiêu giáo dục phải được thể hiện trong năng lực thực tế, đồng thời bảo đảm sự hài hòa giữa các mặt phát triển.

Trước hết, giáo dục giúp người học hình thành thế giới quan, phương pháp nhận thức và thái độ khoa học. Thông qua quá trình học tập, người học từng bước biết kiểm chứng thông tin, sử dụng bằng chứng và phân biệt giữa nhận định với sự kiện. Những năng lực này có ý nghĩa khi môi trường thông tin ngày càng đa dạng và phức tạp. Người có tư duy độc lập có thể tiếp nhận thông tin có chọn lọc, hạn chế bị dẫn dắt bởi những nội dung thiếu căn cứ và tham gia thảo luận xã hội với tinh thần trách nhiệm.

Gắn với phát triển trí tuệ, giáo dục bồi đắp lòng yêu nước, ý thức dân tộc, đạo đức và trách nhiệm công dân. Các giá trị đó cần được hình thành thông qua kiến thức lịch sử, văn hóa, pháp luật và trải nghiệm thực tiễn. Khi người học hiểu truyền thống dân tộc và yêu cầu của đất nước, tinh thần yêu nước có thể chuyển thành thái độ học tập nghiêm túc, lao động sáng tạo và ý thức đóng góp. Giáo dục vì vậy góp phần kết nối lợi ích cá nhân với lợi ích cộng đồng, xây dựng động cơ phát triển đúng đắn.

Giáo dục cũng giữ vai trò bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Việt Nam. Nhà trường là môi trường truyền đạt tiếng Việt, lịch sử, văn học, nghệ thuật và những chuẩn mực ứng xử giữa các thế hệ. Trong hội nhập quốc tế, nền tảng văn hóa giúp người học tiếp nhận những giá trị tiến bộ với thái độ tự tin và có chọn lọc. Sự kết hợp giữa hiểu biết truyền thống với năng lực tiếp cận cái mới tạo điều kiện hình thành con người Việt Nam có bản sắc, có khả năng hợp tác và thích ứng với môi trường quốc tế.

Vai trò này được phát huy khi gia đình, nhà trường và xã hội phối hợp chặt chẽ. Nhà trường cần tổ chức dạy học và đánh giá phù hợp với mục tiêu phát triển toàn diện; gia đình tạo nền tảng nếp sống; xã hội cung cấp môi trường thực hành các giá trị. Qua đó, giáo dục góp phần xây dựng những công dân có năng lực, có trách nhiệm và khát vọng cống hiến cho đất nước.

3. Giáo dục và đào tạo cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

Chất lượng nguồn nhân lực là cầu nối giữa mục tiêu phát triển với khả năng thực hiện. Những chủ trương đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển công nghiệp và ứng dụng công nghệ chỉ có thể đạt kết quả khi có lực lượng đủ năng lực đảm nhiệm. Giáo dục và đào tạo tạo ra lực lượng này thông qua hệ thống giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học.

Văn kiện Đại hội XIV yêu cầu: "Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực, ngành, nghề trọng điểm, chiến lược"[5]. Nhân lực chất lượng cao cần được nhận diện bằng năng lực thực hiện nhiệm vụ, khả năng sáng tạo và chất lượng sản phẩm công việc. Bằng cấp là một căn cứ, song giá trị đào tạo phải được thể hiện trong thực tiễn. Điều này đòi hỏi chương trình đào tạo gắn với nhu cầu phát triển và những yêu cầu cụ thể của lĩnh vực nghề nghiệp.

Giáo dục đại học có vai trò đào tạo chuyên gia, phát triển nghiên cứu và sáng tạo tri thức. Đại hội XIV nhấn mạnh: "Hiện đại hoá giáo dục đại học, có chính sách đột phá phát triển một số cơ sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu trở thành các trung tâm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngang tầm các nước tiên tiến"[6]. Định hướng này mở rộng đóng góp của trường đại học đối với phát triển đất nước. Thông qua nghiên cứu, nhà trường có thể tạo ra kiến thức mới, giải pháp kỹ thuật và cơ sở khoa học phục vụ hoạch định chính sách.

Mối liên hệ giữa đào tạo và nghiên cứu giúp nâng cao năng lực sáng tạo của người học. Khi tham gia đề tài, phòng thí nghiệm và dự án thực tiễn, sinh viên được rèn luyện cách đặt vấn đề, thiết kế phương án và đánh giá kết quả. Những trải nghiệm đó phát triển khả năng làm việc với vấn đề chưa có sẵn lời giải. Sự liên kết giữa cơ sở đào tạo với viện nghiên cứu và doanh nghiệp còn tạo điều kiện đưa kết quả nghiên cứu vào ứng dụng, đồng thời cung cấp những yêu cầu thực tiễn để đổi mới nội dung đào tạo.

Đối với các lĩnh vực chiến lược, cần chuẩn bị nhân lực theo tầm nhìn dài hạn. Văn kiện xác định: "Tập trung đào tạo nhân lực chất lượng cao theo chuẩn quốc tế đáp ứng yêu cầu phát triển các ngành công nghiệp, công nghệ chiến lược"[7]. Việc thực hiện cần dựa trên dự báo nhu cầu, lựa chọn lĩnh vực ưu tiên và bảo đảm điều kiện đào tạo. Bên cạnh chuyên môn sâu, người học cần ngoại ngữ, kỹ năng số và năng lực hợp tác. Những yếu tố này hỗ trợ tiếp cận tri thức quốc tế và tham gia các hoạt động nghiên cứu phức tạp.

Để nguồn nhân lực được phát huy, đào tạo phải gắn với sử dụng và môi trường làm việc. Cơ chế tuyển dụng, đánh giá, đãi ngộ và giao nhiệm vụ cần khuyến khích năng lực thực chất. Khi quá trình đào tạo được kết nối với cơ hội cống hiến, giáo dục mới chuyển hóa thành năng lực khoa học, công nghệ và sức cạnh tranh của đất nước.

4. Giáo dục và đào tạo xây dựng xã hội học tập, mở rộng cơ hội phát triển và tăng cường khả năng thích ứng của Nhân dân

Sự phát triển đất nước cần sự tham gia của đông đảo người dân. Giáo dục và đào tạo tạo điều kiện cho sự tham gia ấy bằng việc mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức, nâng cao kỹ năng và hỗ trợ mỗi người phát triển năng lực. Khi cơ hội học tập được bảo đảm, người dân có thêm khả năng tìm việc làm, cải thiện thu nhập và tham gia đời sống xã hội.

Đại hội XIV yêu cầu: "Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời, phát triển các mô hình, phương thức, phong trào học tập theo hướng đa dạng hoá, phù hợp với các đối tượng, từng địa phương"[8]. Xã hội học tập tạo điều kiện để việc học được duy trì trong suốt cuộc đời và gắn với nhu cầu thực tế. Người dân có thể học để làm việc, chuyển đổi nghề, chăm sóc sức khỏe hoặc thực hiện trách nhiệm công dân. Từ đó, giáo dục trở thành nguồn hỗ trợ thường xuyên cho quá trình phát triển của cá nhân và cộng đồng.

Mở rộng cơ hội học tập phải gắn với khắc phục những trở ngại về điều kiện tiếp cận. Khoảng cách địa lý, chi phí, hạ tầng và khả năng sử dụng công nghệ có thể ảnh hưởng đến việc học của từng nhóm dân cư. Chính sách giáo dục cần quan tâm đến người có hoàn cảnh khó khăn, người khuyết tật và cư dân ở địa bàn còn hạn chế về điều kiện học tập. Việc hỗ trợ cần phù hợp với nhu cầu cụ thể, bảo đảm người học có thể tham gia và hoàn thành quá trình học, từ đó cải thiện cơ hội phát triển.

Chuyển đổi số mở ra khả năng đa dạng hóa hình thức học tập. Học liệu số, đào tạo từ xa và các nền tảng trực tuyến hỗ trợ người học tiếp cận kiến thức linh hoạt hơn. Tuy nhiên, hiệu quả phụ thuộc vào chất lượng nội dung, sự hướng dẫn và kỹ năng sử dụng của người học. Văn kiện yêu cầu: "Đưa giáo dục kỹ năng số, trí tuệ nhân tạo vào hệ thống giáo dục quốc dân ngay từ chương trình giáo dục mầm non"[9]. Việc cụ thể hóa phải phù hợp với độ tuổi, chú trọng sử dụng công nghệ an toàn và có mục đích.

Xây dựng xã hội học tập còn góp phần nâng cao năng lực thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân. Người dân có tri thức và kỹ năng có thể tìm hiểu chính sách, sử dụng dịch vụ công, phản ánh nhu cầu và tham gia giải quyết công việc cộng đồng. Khả năng tiếp cận và đánh giá thông tin giúp sự tham gia có căn cứ hơn. Qua đó, giáo dục tăng cường trách nhiệm xã hội, tạo điều kiện hình thành sự đồng thuận trên cơ sở hiểu biết và phát huy vai trò chủ thể của người dân trong phát triển đất nước.

Để phát huy vai trò này, cần kết nối nhà trường, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, trung tâm học tập cộng đồng và nơi làm việc. Các hình thức học tập cần linh hoạt, thiết thực và có cơ chế ghi nhận kết quả phù hợp. Cùng với đầu tư điều kiện học tập, cần khuyến khích tinh thần tự học và hỗ trợ người dân lựa chọn nội dung hữu ích. Khi mỗi người có khả năng học tập và vận dụng tri thức, xã hội có thêm nguồn lực sáng tạo, đất nước có nền tảng rộng hơn cho phát triển bền vững.

KẾT LUẬN

Theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng, giáo dục và đào tạo giữ vị trí chiến lược trong phát triển đất nước, góp phần phát triển con người toàn diện, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và xây dựng xã hội học tập. Phát huy vai trò này đòi hỏi cụ thể hóa quan điểm quốc sách hàng đầu bằng thể chế, nguồn lực và trách nhiệm thực hiện; gắn đào tạo với nghiên cứu và nhu cầu thực tiễn; bảo đảm cơ hội học tập, góp phần củng cố nội lực, xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

ThS. Nguyễn Trần Lực

Trường Đào tạo các bộ Lê Hồng Phong, thành phố Hà Nội


[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.100.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.100.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.89.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.101.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.100–101.

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.101.

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.103.

[8] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.103.

[9] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.101.