Vai trò của nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay

Thứ năm, 21/05/2026 - 15:30

Tóm tắt: Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là nhiệm vụ chiến lược, là cội nguồn sức mạnh nội sinh cho sự phát triển bền vững của đất nước. Tính "tiên tiến" của nền văn hóa thể hiện ở tinh thần yêu nước, tiến bộ, lấy lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội làm kim chỉ nam, đồng thời chủ động tiếp thu tinh hoa khoa học, công nghệ và văn minh nhân loại. Song hành với sự tiến bộ đó, tính "đậm đà bản sắc dân tộc" chính là việc gìn giữ, phát huy những giá trị cốt lõi, lâu đời như lòng nhân ái, đoàn kết, đạo lý "uống nước nhớ nguồn", cùng các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú của 54 dân tộc trên đất nước Việt Nam.

Từ khóa: Văn hóa tiên tiến, bản sắc dân tộc, Đảng cộng sản, đường lối chính sách, đổi mới

    Đặt vấn đề

Tại Hội nghị văn hoá toàn quốc (2021), cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: "Phải tiếp tục xây dựng, giữ gìn và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thực sự là "nền tảng tinh thần", "động lực phát triển", và "soi đường cho quốc dân đi". Trong tiến trình của lịch sử dựng nước và giữ nước văn hóa luôn là nền tảng tinh thần của xã hội, là sức mạnh nội sinh, có vai trò điều tiết xã hội bằng hệ giá trị, giữ vai trò định hướng cho sự phát triển chung của xã hội. Đặc biệt, trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay, Đảng và nhà nước luôn xác định văn hóa có vai trò vô cùng quan trọng, là gốc rễ của quốc gia dân tộc...

1.Khái quát chung

Đại hội lần thứ VII (tháng 6 năm 1991) của Đảng Cộng sản đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó Cương lĩnh đã xác định nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một trong sáu đặc trưng cơ bản của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Trong bản cương lĩnh bổ sung năm 2011: Những đặc trưng cơ bản của xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng đã được phát triển gồm có 8 ý chính cũng đã khẳng định sâu sắc và nhấn mạnh triệt để tầm quan trọng của nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

1- Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

2- Do nhân dân làm chủ.

3- Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp.

4- Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

5- Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.

6- Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển.

7- Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo.

8- Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

Đặc trưng thứ 4 cũng đã nhấn mạnh tầm quan trọng của nền văn hóa, phải đưa nền văn hóa trở thành tiên tiến nhưng vẫn đậm đà bản sắc dân tộc. Để đi sâu hiểu được thế nào là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc thì phải hiểu thế nào là "văn hóa".

1.1 Khái niệm văn hóa

Có rất nhiều khái niệm, cách hiểu khác nhau về văn hóa nhưng nổi bật nhất là khái niệm văn hóa của UNESCO và khái niệm văn hóa do chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra. Theo UNESCO, văn hóa được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng thì "Văn hóa là một phức hệ- tổng hợp các đặc trưng diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm...khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội. Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà còn cả lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng..."[1]. Hiểu theo nghĩa hẹp thì " Văn hóa là tổng thể những hệ thống biểu trưng (ký hiệu) chi phối cách ứng xử và giao tiếp trong cộng đồng, khiến cộng đồng đó có đặc thù riêng"[2].

Theo Hồ Chí Minh: " Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa".[3] Từ văn hóa có rất nhiều nghĩa, trong tiếng việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức, lối sống. Theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn. Vậy, chúng ta có thể hiểu văn hóa là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần do lao động của người sáng tạo ra, được cộng đồng khẳng định tích lũy lại, tạo ra bản sắc riêng của từng tộc người, từng xã hội.

1.2 Văn hóa tiên tiến

Từ việc hiểu và làm rõ khái niệm văn hóa thì chúnng ta cần hiểu thế nào là nền văn hóa tiên tiến. Nền văn hóa tiên tiến là nền văn hóa đã được chắt lọc trên nền văn hóa truyền thống, loại bỏ đi những cổ hủ lạc hậu, những hủ tục mang tính phản khoa học, chỉ để lại những văn hóa truyền thống tốt đẹp đầy tính nhân văn để biểu trưng cho dân tộc. Nền văn hóa tiên tiến có thể được cụ thể hoá bằng những khiá cạnh cơ bản sau:

Tiên tiến về trình độ học vấn, về trình độ khoa học và công nghệ

Tiên tiến về tư tưởng, đạo đức, tinh thần, tình cảm lối sống

Sự kết hợp giữa hiện đại và truyền thống cả về hình thức và nội dung.

Sự kết hợp truyền thống dân tộc với Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

1.3 Bản sắc văn hóa của một dân tộc

Bản sắc văn hóa là những đặc trưng về văn hóa, về đời sống tinh thần của dân tộc ấy, là những nét đặc biệt, độc đáo về tinh thần về văn hóa, về cách sống và sực sáng tạo để phân biệt với dân tộc này với dân tộc khác. Bản sắc văn hóa là tổng hòa những giá trị bền vững, phản ánh diện mạo, sắc thái, cốt cách, tâm hồn, tâm lý …của một dân tộc. Chính nhờ vào bản sắc văn hóa mà chúng ta có thể phân biệt được dân tộc này với dân tộc khác trong cộng đồng nhân loại. Bản sắc văn hóa được thể hiện :

* Lòng yêu nước, quê hương, tinh thần bất khuất chiến đấu cho độc lập tự do

Tình yêu quê hương đất nước là tình cảm gắn bó sâu sắc, chân thành đối với những sự vật và con người nơi ta được sinh ra và lớn lên, là hành động không ngừng nỗ lực để xây dựng và phát triển đất nước.

* Tinh thần nhân nghĩa, nhân ái, sống có tình nghĩa, thuỷ chung trong gia đình, với làng xóm, với cộng đồng, yêu thương quý trọng con người

* Tinh thần tôn trọng lẽ phải yêu quý cái đẹp, cái hay

* Sự tế nhị trong tâm hồn trong phong cách giao tiếp…

2. Vai trò của nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Văn hóa chính là quốc hồn của dân tộc, vai trò của văn hóa từ ngàn đời nay luôn được thể hiện rõ nét trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đi sâu vào tiềm thức của mỗi con người.

.Văn hóa góp phần ổn định xã hội

.Văn hóa góp phần cải thiện các mối quan hệ trong xã hội, mang lại cuộc sống chất lượng hơn cho con người.

.Văn hóa được chia thành văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể, góp phần mang lại lợi ích tinh thần và vật chất cho con người

. Văn hóa chính là văn kiện chứng minh cho lịch sử vẻ vang, cho truyền thống yêu nước của một dân tộc

.Văn hóa thực hiện chức năng giao tiếp, biểu đạt, là nhịp cầu nối con người với con người, nối thế hệ trước với thế hệ sau

.Văn hóa có chức năng giáo dục, giúp thế hệ sau hiểu biết về lịch sử dân tộc, đảm bảo cho sự bảo tồn và phát triển

.Văn hóa góp phần thúc đẩy kinh tế đất nước phát triển

Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Đảng Trung ương (khóa VIII) tháng 7 năm 1998, đã ra Nghị quyết chuyên đề về: "Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc", xác định những quan điểm cơ bản:

Một là, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.

Hai là, nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Ba là, nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Bốn là, xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo

Năm là, văn hóa là một mặt trận.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII nhấn mạnh đến phương hướng, nhiệm vụ xây dựng nền văn hóa, xây dựng con người Việt Nam. Quan điểm này tiếp tục được khẳng địnhtrong các giai đoạn tiếp theo và các chương trình hành động tương ứng được triển khai nhằm đạt mục tiêu đặt ra... Trong đó, phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa"được khởi xướng và phát động từ năm 2000 với mục đích tạo dựng môi trường văn hóa lành mạnh, giúp người dân nâng cao chất lượng cuộc sống. Cùng với việc phát động phong trào là việc thành lập ban chỉ đạo xuyên suốt từ Trung ương đến địa phương để triển khai thực hiện.

3. Thực trạng và giải pháp

3.1Thực trạng

Đại hội X của Đảng là đại hội đã nhìn nhận lại và đã đánh giá: "Việc xây dựng nếp sống văn hóa chưa được coi trọng đúng mức. Tình trạng suy thoái, xuống cấp về đạo đức, lối sống, sự gia tăng tệ nạn xã hội và tội phạm đáng lo ngại, nhất là trong lớp trẻ. Quản lý nhà nước về văn hóa còn nhiều sơ hở, yếu kém. Đấu tranh ngăn ngừa văn hóa phẩm độc hại chưa được chú ý đầy đủ, còn nhiều khuyết điểm, bất cập"...[4] Đại hội X của Đảng đã hết sức thẳng thắn trong việc đánh giá những gì đã làm được hay chưa làm được của việc xây dựng nếp sống văn hóa trên cơ sở thực tiễn.

Tại Đại hội XI của Đảng nhận định, hoạt động văn hóa, văn nghệ, thông tin, thể dục, thể thao ngày càng mở rộng, từng bước đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng cao của nhân dân. Phong trào từng bước đi vào chiều sâu, nhưng "văn hóa phát triển chưa tương xứng với tăng trưởng kinh tế. Quản lý văn hóa, văn nghệ, báo chí, xuất bản còn thiếu chặt chẽ. Môi trường văn hóa bị xâm hại, lai căng, thiếu lành mạnh, trái với thuần phong mỹ tục, các tệ nạn xã hội, tội phạm và sự xâm nhập của các sản phẩm và dịch vụ độc hại làm suy đồi đạo đức, nhất là trong thanh, thiếu niên, rất đáng lo ngại"[5].

Tại Đại hội XI và Đại hội XII, văn kiện của Đảng đều đánh giá, văn hóa phát triển chưa tương xứng với các lĩnh vực khác. Một trong những nguyên nhân quan trọng đó là quan điểm tiếp cận trong xây dựng chính sách và triển khai hành động còn nhiều bất cập.

Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII lần đầu đặt ra yêu cầu việc xây dựng con người Việt Nam đi liền với xây dựng nền văn hóa dân tộc. Các kỳ đại hội tiếp theo xác định cụ thể hơn vấn đề này. Hội nghị Trung ương 9 khóa XI đã khẳng định, việc xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải trở thành một mục tiêu của chiến lược phát triển, đồng thời cũng là nhiệm vụ hàng đầu trong các mục tiêu, nhiệm vụ về văn hóa. Tuy vậy, kết quả thực hiện còn nhiều hạn chế. Báo cáo chính trị tại Đại hội XII của Đảng nêu rõ: "Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa bị đẩy lùi. Tội phạm và tệ nạn xã hội còn diễn biến phức tạp; đạo đức xã hội có mặt xuống cấp nghiêm trọng".[6] Nguyên nhân chủ yếu của các hạn chế, yếu kém trên là "do nhiều cấp uỷ, chính quyền nhận thức chưa đúng tầm quan trọng và chưa quan tâm đầy đủ lĩnh vực này; lãnh đạo, chỉ đạo chưa thật quyết liệt. Việc cụ thể hóa, thể chế hóa nghị quyết của Đảng còn chậm, thiếu đồng bộ. Công tác quản lý nhà nước về văn hóa chậm được đổi mới, có lúc, có nơi bị xem nhẹ, thậm chí buông lỏng...

Bên cạnh đó những thách thức xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong bối cảnh hội nhập cũng là một trong những vấn đề nòng cốt, được quan tâm hàng đầu hiện nay của Đảng và nhà nước bởi những nguyên nhân sau đây:

Thứ 1. Nguy cơ phai nhạt bản sắc văn hóa dân tộc

Nguy cơ này xuất phát từ quá trình hội nhập mang đến sự giao thoa mạnh mẽ giữa các nền văn hóa. Nếu không có chọn lọc, bản sắc văn hóa dân tộc dễ bị hòa tan, đồng hóa hoặc bị thay thế bởi các yếu tố ngoại lai.Một số giá trị truyền thống đang bị xem là lỗi thời, dẫn đến sự thờ ơ, thiếu quan tâm của giới trẻ.

Thứ 2. Sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa lệch chuẩn

Nhiều sản phẩm văn hóa ngoại lai không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam (bạo lực, suy đồi đạo đức, lối sống thực dụng...) dễ ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức và hành vi của một bộ phận người dân, đặc biệt là thanh thiếu niên.

Internet và mạng xã hội lan truyền nhanh chóng các nội dung "độc hại" mà không dễ kiểm soát.

3.2 Giải pháp

Trên cơ sở đánh giá những thành tựu và hạn chế, văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục một cách nhất quán quan điểm "phát triển văn hoá là nền tảng tinh thần" và định hướng phát triển văn hoá giai đoạn 2021-2030 "xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hoá thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc".

Bằng quan điểm và định hướng đó, trong văn kiện Đại hội XIII, Đảng đề ra một số vấn đề mới về văn hoá và phát triển văn hoá.

Một: Tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng "hệ giá trị văn hoá".

Cần thiết triển khai xây dựng hệ giá trị văn hoá, bao gồm cả các giá trị văn hoá truyền thống, hiện đại và tinh hoa văn hoá của nhân loại. Xây dựng "hệ giá trị" văn hoá phản ánh tư duy mới của Đảng ta về văn hoá, với nghĩa rất rộng, không chỉ tập trung vào các loại hình văn hoá, dịch vụ văn hoá, mà còn hướng đến các giá trị văn hoá trong tất cả các mặt của đời sống xã hội, như là thước đo, chuẩn mực để góp phần định hướng, giáo dục, điều chỉnh hành vi, suy nghĩ của con người theo hướng tiến bộ, tích cực, thúc đẩy ý chí tự cường, tự hào dân tộc và khát vọng vươn lên.

Hai: Xác định mối quan hệ gắn kết chặt chẽ giữa văn hoá với con người, "giữa hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá và chuẩn mực con người" với "hệ giá trị gia đình Việt Nam". Vấn đề này một lần nữa thể hiện quan điểm coi yếu tố con người là trung tâm, xuyên suốt, song, điểm mới là Đảng ta nhấn mạnh yếu tố con người, hệ giá trị văn hoá phải đi đôi với việc xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa.

Mặt khác, Đảng đề cao vai trò của gia đình trong xây dựng văn hoá; gia đình- tế bào của xã hội, đồng thời, là môi trường giáo dục đầu tiên, quan trọng nhất của mỗi con người.

Ba: Cụ thể hoá vấn đề phát triển công nghiệp văn hoá, đặt trong mối quan hệ với "sức mạnh mềm" của văn hoá. Đại hội XIII xác định "khẩn trương triển khai phát triển có trọng tâm, trọng điểm ngành công nghiệp văn hoá và dịch vụ văn hoá trên cơ sở xác định và phát huy sức mạnh mềm của văn hoá Việt Nam, vận dụng có hiệu quả các giá trị và thành tựu mới của văn hoá, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của thế giới".

Như vậy, để khai thác, phát huy hiệu quả giá trị, tiềm năng, thế mạnh của văn hoá Việt Nam cần thực hiện tốt mối quan hệ hài hoà giữa phát triển văn hoá với phát triển kinh tế, gắn văn hoá với phát triển du lịch, dịch vụ cũng như giới thiệu, quảng bá văn hoá ra thế giới thông qua những sản phẩm của ngành công nghiệp văn hoá.

Bốn: Thống nhất giữa "phát triển" và "quản lý" văn hoá, nhất là trên các lĩnh vực báo chí, truyền thông. Đại hội XIII nhấn mạnh yêu cầu "tiếp tục xây dựng nền báo chí, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại" đi đôi với việc "tăng cường quản lý và phát triển các loại hình truyền thông và thông tin trên internet. Kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị - xã hội, thuần phong mỹ tục".

Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng, dựa trên các giá trị tiến bộ, nhân văn; chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội.

KẾT LUẬN

Đảng, nhà nước ta rất coi trọng văn hóa trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Không chỉ bắt nguồn từ truyền thống lịch sử vẻ vang của dân tộc mà còn khẳng định trên thực tế vai trò, ảnh hưởng to lớn của văn hóa Việt Nam trong quá trình dựng và giữ nước của cha ông. Điều này càng cho thấy phạm vi rộng lớn và tầm ảnh hưởng của văn hóa đối với phát triển xã hội, phát triển kinh tế, phát triển chính trị. Văn hóa ấy là sức mạnh nội sinh là đòn bẩy, là kim chỉ nam, là chìa khóa của mọi chìa khóa hun đúc nên con người phát triển toàn diện về cả trí lực, thể lực, tư tưởng, lí tưởng, đạo đức, lối sống. Chính văn hóa sẽ soi đường quốc dân đi như lời tổng kết lại của cố tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng nói với nhân dân.

ThS. Bùi Thị Kim Xuân - ThS. Nguyễn Minh Sương

Đại học Công Nghiệp Hà Nội

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Dẫn theo chương Văn hóa trong giáo trình Nhân học đại cương của Bộ môn Nhân học, Đại học KHXH&NV tài liệu đánh máy.

2.Ngô Gia Lệ, Tộc người và văn hóa tộc người, Nxb Đại học Quốc gia TP.HCM, 2004, tr.314

Hồ Chí Minh, toàn tập, in lần 2, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà nội

3. Hồ Chí Minh, toàn tập, in lần 2, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà nội

4. Đảng Cộng sản Việt Nam: "Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010 tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X", Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập (Đại hội VI, VII, VIII, IX, X, XI)Sđd, 2013, tr. 680

5. Đảng Cộng sản Việt Nam: "Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng", Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập (Đại hội VI, VII, VIII, IX, X, XI)Sđd, tr. 790

6. Đảng Cộng sản Việt Nam:Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIISđd, tr. 123, 124

    Dẫn theo chương Văn hóa trong giáo trình Nhân học đại cương của Bộ môn Nhân học, Đại học KHXH&NV tài liệu đánh máy.

    Ngô Gia Lệ, Tộc người và văn hóa tộc người, Nxb Đại học Quốc gia TP.HCM, 2004, tr.314

    Hồ Chí Minh, toàn tập, in lần 2, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà nội

    Đảng Cộng sản Việt Nam: "Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010 tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X", Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập (Đại hội VI, VII, VIII, IX, X, XI)Sđd, 2013, tr. 680

    (5) Đảng Cộng sản Việt Nam: "Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng", Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập (Đại hội VI, VII, VIII, IX, X, XI)Sđd, tr. 790

    Đảng Cộng sản Việt Nam:Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIISđd, tr. 123, 124