Bằng phương pháp phân tích văn kiện, phân tích thể chế, phân tích chính sách và tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ vị thế chính trị, pháp lý, thể chế và xã hội của Đoàn; phân tích sự vận động của các chức năng giáo dục, đại diện, đoàn kết tập hợp, hỗ trợ phát triển, huy động xã hội và tham gia phản hồi chính sách; đồng thời xem xét các mối quan hệ giữa Đoàn với Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thanh niên, các thiết chế xã hội và thanh niên.
1. Đặt vấn đề
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh có vị trí đặc thù trong hệ thống chính trị và đời sống xã hội của thanh niên Việt Nam. Đoàn vừa thực hiện chức năng giáo dục, đoàn kết, tập hợp thanh niên, vừa tổ chức các phong trào hành động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người trẻ; đồng thời tham gia xây dựng Đảng và phối hợp với Nhà nước, các tổ chức trong hệ thống chính trị thực hiện công tác thanh niên. Nghị quyết số 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa X tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của Đoàn trong giáo dục, bồi dưỡng, đoàn kết, tập hợp và phát huy thanh niên. Tuy nhiên, vai trò của Đoàn luôn được thực hiện trong những điều kiện thể chế và xã hội cụ thể. Những năm gần đây, đặc biệt từ năm 2025, quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả đã làm thay đổi cơ cấu tổ chức, cơ chế phối hợp và quan hệ công tác giữa các chủ thể. Nghị quyết số 18-NQ/TW đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ công tác, khắc phục chồng chéo, trùng lặp và xác định rõ trách nhiệm của từng tổ chức. Cùng với đó, những điều chỉnh về khuôn khổ hiến định và pháp luật năm 2025 tiếp tục xác lập vị trí của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong quan hệ với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đồng thời khẳng định Đoàn là tổ chức chính trị - xã hội của thanh niên Việt Nam, giữ vai trò nòng cốt trong phong trào thanh niên và các tổ chức thanh niên. Những thay đổi này diễn ra đồng thời với việc vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, gia tăng phân cấp, phân quyền và đẩy mạnh chuyển đổi số.
Bên cạnh biến đổi về thể chế, đời sống thanh niên cũng ngày càng đa dạng và phân hóa. Thanh niên không chỉ tham gia các không gian tổ chức truyền thống mà còn hiện diện trong các mạng lưới nghề nghiệp, cộng đồng trực tuyến, nhóm sở thích và nền tảng số. Sự khác biệt về địa bàn cư trú, nghề nghiệp, điều kiện sống, khả năng tiếp cận nguồn lực và phương thức tham gia xã hội đặt ra yêu cầu Đoàn vừa thích ứng với cấu trúc tổ chức mới, vừa đổi mới phương thức tiếp cận, tập hợp và phát huy thanh niên. Từ đó, làm rõ vị thế của Đoàn trong cấu trúc quan hệ mới của hệ thống chính trị; sự phát triển các vai trò truyền thống của Đoàn trong điều kiện mới; và yêu cầu tổ chức lại các mối quan hệ nhằm nâng cao năng lực đại diện, tập hợp và phát triển thanh niên.
2. Bối cảnh mới và sự vận động của vị thế Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
Quá trình sắp xếp, đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị đang tạo ra môi trường thể chế mới đối với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Bên cạnh cấu trúc tổ chức theo chiều dọc từ Trung ương đến cơ sở, ngày càng cần chú trọng hơn đến quan hệ phối hợp theo chiều ngang giữa Đoàn với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, chính quyền địa phương và các chủ thể xã hội. Quyết định số 304-QĐ/TW ngày 10/6/2025 xác định cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện chức năng tham mưu, giúp việc đồng thời cho Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương. Trong bối cảnh đó, vị thế của Đoàn có thể được xem xét trên ba phương diện.
Thứ nhất, vị thế chính trị, thể hiện ở vai trò giáo dục, bồi dưỡng thế hệ trẻ, phát hiện và rèn luyện nguồn cán bộ trẻ, phản ánh tình hình tư tưởng, nhu cầu và nguyện vọng của thanh niên với Đảng. Nghị quyết số 25-NQ/TW và Kết luận số 166-KL/TW tiếp tục khẳng định công tác thanh niên và xây dựng Đoàn là bộ phận quan trọng trong sự lãnh đạo của Đảng đối với thế hệ trẻ.
Thứ hai, vị thế pháp lý; thể chế, thể hiện ở việc Đoàn vừa là tổ chức chính trị - xã hội trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, vừa giữ vai trò nòng cốt trong phong trào thanh niên và các tổ chức thanh niên. Đặc điểm này đòi hỏi Đoàn phải đồng thời nâng cao năng lực phối hợp trong hệ thống chung và giữ vững chức năng đại diện đặc thù đối với thanh niên.
Thứ ba, vị thế xã hội, được xác lập chủ yếu thông qua hiệu quả hoạt động thực tiễn. Vị thế này không chỉ thể hiện ở số lượng đoàn viên hay quy mô phong trào mà còn ở khả năng tiếp cận các nhóm thanh niên, nắm bắt nhu cầu, tạo cơ hội phát triển, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng, đồng thời trở thành kênh tin cậy để thanh niên bày tỏ tiếng nói và kiến nghị.
Như vậy, trong giai đoạn mới, vị thế của Đoàn không chỉ được xác lập bằng quy định thể chế mà còn phải được củng cố liên tục thông qua hiệu quả hoạt động, năng lực đại diện và chất lượng mối quan hệ với thanh niên.
3. Sự phát triển của vai trò Đoàn trong bối cảnh mới
Trong bối cảnh mới, các chức năng truyền thống của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh vẫn giữ giá trị nền tảng nhưng nội hàm và phương thức thực hiện cần tiếp tục được đổi mới.
Trước hết, vai trò giáo dục, định hướng cần thích ứng với sự thay đổi trong cách thanh niên tiếp nhận và xử lý thông tin. Trong môi trường số, người trẻ không chỉ tiếp nhận thông tin mà còn tương tác, so sánh, phản biện và sáng tạo nội dung. Vì vậy, giáo dục cần chuyển từ truyền đạt một chiều sang tăng cường đối thoại, trải nghiệm, thảo luận, phản biện và hình thành năng lực tự đánh giá thông tin, qua đó giúp thanh niên nâng cao nhận thức và trách nhiệm xã hội.
Thứ hai, vai trò đại diện, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thanh niên cần được thể hiện bằng năng lực thực chất. Đoàn không chỉ vận động thanh niên tham gia các hoạt động mà còn phải thường xuyên nắm bắt nhu cầu, nguyện vọng, tổ chức đối thoại, phát hiện vấn đề mới, tổng hợp và chuyển hóa tiếng nói của thanh niên thành kiến nghị, chương trình hỗ trợ và phản hồi chính sách có cơ sở.
Thứ ba, vai trò đoàn kết, tập hợp thanh niên cần được mở rộng từ các cấu trúc tổ chức truyền thống sang mạng lưới nghề nghiệp, cộng đồng sở thích, nhóm xã hội và nền tảng số. Tập hợp thanh niên không chỉ là đưa người trẻ vào những tổ chức sẵn có mà còn là chủ động hiện diện ở những không gian thanh niên đang sinh hoạt, học tập, làm việc và tương tác.
Thứ tư, vai trò đồng hành và phát triển thanh niên cần chuyển từ hỗ trợ theo từng hoạt động sang kiến tạo chuỗi giá trị phát triển phù hợp với từng nhóm. Sự đa dạng về nghề nghiệp, địa bàn, điều kiện sống và nhu cầu đòi hỏi Đoàn phải nâng cao năng lực nhận diện nhu cầu, huy động và kết nối nguồn lực.
Thứ năm, vai trò phát huy thanh niên tham gia phát triển kinh tế - xã hội và cộng đồng cần được mở rộng theo hướng tạo điều kiện để người trẻ trực tiếp tham gia giải quyết các vấn đề thực tiễn như chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, bảo vệ môi trường và phát triển cộng đồng.
4. Hệ thống các mối quan hệ của Đoàn trong quản trị phát triển thanh niên
Nếu vị thế xác định vị trí và vai trò xác định chức năng, thì hệ thống các mối quan hệ quyết định cách các chức năng của Đoàn được vận hành trong thực tiễn. Trong bối cảnh mới, hiệu quả hoạt động của Đoàn ngày càng phụ thuộc vào năng lực phối hợp, kết nối và quản trị mạng lưới giữa các chủ thể liên quan đến thanh niên.
Trước hết, quan hệ giữa Đảng và Đoàn có tính nền tảng. Đảng lãnh đạo, định hướng công tác thanh niên; Đoàn có trách nhiệm giáo dục, tập hợp, rèn luyện thanh niên, phát hiện nguồn cán bộ trẻ, tham gia xây dựng Đảng và phản ánh kịp thời những vấn đề nảy sinh trong đời sống thanh niên. Vì vậy, đây không chỉ là quan hệ định hướng từ trên xuống mà còn bao hàm cơ chế phản hồi từ thực tiễn thanh niên vào quá trình lãnh đạo.
Quan hệ giữa Nhà nước và Đoàn chủ yếu thể hiện ở phối hợp thực hiện chính sách thanh niên. Nhà nước ban hành và tổ chức quản lý chính sách; Đoàn tham gia tuyên truyền, triển khai, nắm bắt phản hồi và kiến nghị điều chỉnh. Mối quan hệ này có thể vận hành theo chu trình: chính sách; thực thi; phản hồi; kiến nghị; điều chỉnh, qua đó góp phần nâng cao tính phù hợp và hiệu quả của chính sách đối với thanh niên.
Quan hệ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Đoàn trong cấu trúc thể chế mới đặt ra yêu cầu vừa tăng cường phối hợp, chia sẻ nguồn lực, vừa bảo đảm tính chủ động và bản sắc riêng của tổ chức Đoàn. Sự thống nhất trong hệ thống cần đi đôi với phân định rõ chức năng, trách nhiệm và không gian hoạt động đặc thù, nhất là đối với những vấn đề thanh niên đòi hỏi khả năng tiếp cận linh hoạt và phản ứng nhanh.
Trong quan hệ với Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Hội Sinh viên Việt Nam và các tổ chức, mạng lưới thanh niên, vai trò nòng cốt của Đoàn cần được thể hiện chủ yếu ở khả năng định hướng, kết nối và hỗ trợ. Trong điều kiện các hình thức tham gia xã hội của người trẻ ngày càng đa dạng, Đoàn cần mở rộng kết nối với các câu lạc bộ nghề nghiệp, nhóm thiện nguyện, cộng đồng sáng tạo, mạng lưới khởi nghiệp và các cộng đồng số để mở rộng phạm vi tập hợp và ảnh hưởng xã hội.
Đối với nhà trường, doanh nghiệp, gia đình và các thiết chế xã hội, mối quan hệ cần được tổ chức theo logic huy động và kết nối nguồn lực. Một tổ chức đơn lẻ khó có thể đáp ứng đầy đủ các nhu cầu về học tập, việc làm, sức khỏe, khởi nghiệp, kỹ năng và đời sống văn hóa của thanh niên.
5. Những vấn đề đặt ra và định hướng đổi mới
Sự vận động của vị thế, vai trò và các mối quan hệ của Đoàn trong bối cảnh mới đặt ra một số vấn đề cần được giải quyết cả về lý luận và thực tiễn.
Trước hết, cần xử lý hài hòa mối quan hệ giữa sự thống nhất trong cấu trúc Mặt trận với việc bảo đảm bản sắc và tính chủ động của Đoàn. Cơ chế phối hợp và sử dụng nguồn lực chung có thể nâng cao hiệu quả hoạt động, nhưng đồng thời đòi hỏi phân định rõ chức năng, trách nhiệm và không gian chủ động để tránh hành chính hóa hoặc làm suy giảm khả năng phản ứng linh hoạt trước các vấn đề của thanh niên.
Thứ hai, cần bảo đảm sự thống nhất giữa chức năng định hướng và chức năng đại diện. Đoàn vừa có trách nhiệm giáo dục, vận động thanh niên, vừa phải lắng nghe, phản ánh trung thực nhu cầu, lợi ích và những vấn đề chính đáng của người trẻ. Khả năng định hướng chỉ hiệu quả khi dựa trên sự hiểu biết thực chất về thanh niên; ngược lại, năng lực đại diện cần gắn với việc hỗ trợ người trẻ phát triển năng lực và trách nhiệm xã hội.
Thứ ba, mô hình chính quyền địa phương hai cấp và phạm vi quản lý ngày càng rộng đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực quản trị ở cơ sở. Cán bộ Đoàn không chỉ cần kỹ năng tổ chức hoạt động mà còn phải có khả năng phân tích địa bàn, nhận diện nhóm thanh niên, quản trị dự án, huy động nguồn lực, sử dụng dữ liệu và phối hợp liên ngành.
Thứ tư, cần đổi mới phương thức tiếp cận những nhóm thanh niên nằm ngoài không gian tổ chức truyền thống như thanh niên di cư, lao động tự do, lao động nền tảng, thanh niên trong khu vực kinh tế tư nhân và các cộng đồng số. Điều này đòi hỏi mở rộng tập hợp theo nhu cầu, nghề nghiệp, vấn đề và mạng lưới thay vì chỉ dựa vào địa bàn hoặc cơ cấu tổ chức sẵn có.
Thứ năm, cần tăng cường năng lực nghiên cứu và sử dụng dữ liệu về thanh niên. Hệ thống khảo sát, đối thoại và dữ liệu thường xuyên phải trở thành cơ sở để nhận diện nhu cầu, theo dõi biến đổi, dự báo vấn đề mới và cung cấp đầu vào cho thiết kế hoạt động, tham mưu và phản hồi chính sách. Từ đó, định hướng đổi mới cần chuyển trọng tâm từ "tổ chức hoạt động" sang "tạo giá trị phát triển cho thanh niên"
6. Kết luận
Quá trình đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị cùng những biến đổi nhanh trong đời sống thanh niên đang đặt Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong một bối cảnh hoạt động mới. Những điều chỉnh về thể chế và cơ chế phối hợp trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam không làm thay đổi bản chất chính trị - xã hội của Đoàn, nhưng đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ phương thức thực hiện vai trò. Bên cạnh các chức năng giáo dục, đoàn kết, tập hợp và phát huy thanh niên, yêu cầu về đại diện, hỗ trợ phát triển, kết nối nguồn lực, sử dụng dữ liệu và phản hồi chính sách ngày càng trở nên rõ nét. Vị thế của Đoàn vì vậy không chỉ được xác lập bằng địa vị thể chế mà còn được củng cố bằng hiệu quả hoạt động và giá trị thực tế tạo ra cho thanh niên. Khả năng lắng nghe, kết nối cơ hội, hỗ trợ phát triển năng lực và tạo điều kiện để người trẻ tham gia giải quyết các vấn đề xã hội là những yếu tố trực tiếp tạo nên sức sống và ảnh hưởng của tổ chức. Từ góc độ lý luận, tiếp cận Đoàn như một chủ thể kết nối trong hệ sinh thái quản trị phát triển thanh niên cho phép nhận diện đầy đủ hơn vai trò của tổ chức trong điều kiện mới.
Theo đó, đổi mới hoạt động Đoàn thanh niên thực chất là nâng cao chất lượng các mối quan hệ giữa Đoàn với Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thanh niên, các thiết chế xã hội và đặc biệt là với thanh niên. Khi các mối quan hệ này được tổ chức trên cơ sở rõ chức năng, tăng cường phối hợp, phát huy tính chủ động, dựa trên dữ liệu và lấy sự phát triển của người trẻ làm trung tâm, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh sẽ có điều kiện phát huy tốt hơn vai trò và vị thế của mình trong hệ thống chính trị và đời sống xã hội.
TS. Trần Ngọc Lương - Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam
Trần Thế Hưng - Lớp Công tác xã hội 2-K14
Trần Thị Ngọc Anh - Lớp 5027 - Luật Thương mại quốc tế
Nguyễn Phạm Hà Anh - Lớp Công tác xã hội 3-K15
Tài liệu tham khảo
- Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2008). Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 25/7/2008 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2017). Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 về một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Bộ Chính trị (2025). Kết luận số 166-KL/TW ngày 10/6/2025 về nâng cao hiệu quả thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 25/7/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X trong tình hình mới. Bộ Chính trị, Ban Bí thư (2025). Quyết định số 304-QĐ/TW ngày 10/6/2025 về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy Cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Quốc hội (2020). Luật Thanh niên số 57/2020/QH14 ngày 16/6/2020. Quốc hội (2025). Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.