Văn hóa Đảng - Nguồn sức mạnh mềm của đối ngoại Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc: Khơi trong, gạn đục – Giữ lấy phẩm giá, bồi đắp niềm tin

Thứ hai, 26/10/2026 - 11:59

Những nhịp cầu nối Việt Nam với thế giới đã được dựng nên bằng bản lĩnh và lòng nhân nghĩa của một dân tộc từng đi qua chiến tranh. Để những nhịp cầu ấy bền lâu, đất nước cần tiếp tục vun đắp sự tin cậy từ chính đời sống của mình. Lịch sử đã trao cho Đảng một di sản lớn lao về uy tín, đồng thời đặt lên vai người hôm nay trách nhiệm giữ gìn. Trong trách nhiệm ấy, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là công việc bảo vệ những giá trị từng làm nên sức cảm hóa của Việt Nam, để điều được bạn bè trân trọng trong quá khứ tiếp tục có căn cứ trong hiện tại.

1. Di sản không tự gìn giữ lấy mình

Qua những năm tháng đấu tranh giành độc lập, hình ảnh người cộng sản gắn với sự hy sinh vì đồng bào, với lời hẹn về một đất nước mà người dân được làm chủ cuộc đời mình. Sự tin cậy của Nhân dân được gây dựng trong hoàn cảnh khắc nghiệt, khi phẩm chất của người cán bộ phải được chứng minh bằng hành động. Chính nền tảng ấy đã góp phần đem lại sức thuyết phục cho tiếng nói Việt Nam trước thế giới.

Nhưng uy tín được gây dựng qua nhiều thế hệ không phải một tài sản có thể thừa hưởng nguyên vẹn mà không cần tiếp tục vun đắp. Mỗi thời kỳ đều đặt người lãnh đạo trước những thử thách riêng. Trong chiến tranh, đó có thể là sự lựa chọn giữa sống và chết. Trong hòa bình, thử thách lại đến từ cách sử dụng quyền lực, từ khả năng giữ mình trước lợi ích riêng và thái độ đối với những điều chưa làm được cho dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhìn thấy nguy cơ ấy. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, viết năm 1947, Người bàn sâu về việc phê bình, sửa chữa khuyết điểm, về tư cách cán bộ và cách lãnh đạo. Khi cuộc kháng chiến còn bộn bề gian khó, việc chỉnh đốn tổ chức vẫn được đặt ra như một điều kiện để hoàn thành sự nghiệp cứu nước. Sức mạnh của Đảng phải được giữ gìn ngay trong quan hệ với Nhân dân và trong cách mỗi cán bộ thực hiện nhiệm vụ của mình.

Từ đây có thể hiểu vì sao tự sửa mình thuộc về chiều sâu văn hóa của Đảng. Một tổ chức lãnh đạo phải có khả năng nhận ra những điều đang làm mình xa dân, kể cả khi những điều ấy chưa trở thành sai phạm nghiêm trọng. Bởi khoảng cách với Nhân dân có thể âm thầm nảy sinh khi tổ chức không còn nghe được đầy đủ sự thật từ đời sống, để những bất cập kéo dài mà chậm được sửa chữa.

Đến Đại hội VI năm 1986, tinh thần "nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật"[1] tiếp tục đánh dấu bản lĩnh của Đảng trước yêu cầu đổi mới đất nước. Nhìn nhận những hạn chế của chính mình là bước cần thiết để vượt qua những cách làm không còn phù hợp, tìm con đường đưa đất nước ra khỏi khó khăn.


Tinh thần đổi mới đòi hỏi Đảng tiếp tục nhìn thẳng vào những vấn đề của đất nước, lấy thực tiễn để xem xét lại cách lãnh đạo của mình. Trân trọng di sản của các thế hệ đi trước cũng có nghĩa là giữ được bản lĩnh sửa chữa những điều không còn phù hợp. Chính trong nỗ lực tìm lời giải cho những đòi hỏi của đời sống, văn hóa Đảng được bồi đắp và tiếp tục phát huy giá trị.

2. Điều làm tổn thương lòng tin

Văn hóa Đảng chịu thử thách trực tiếp ở cách người cán bộ ứng xử với quyền hạn được giao. Một quyết định công tâm có thể tháo gỡ khó khăn cho người dân; sự tùy tiện của người có chức trách lại có thể khiến họ phải chờ đợi, tốn kém hoặc mất đi cơ hội chính đáng. Bởi vậy, những biểu hiện suy thoái trong đội ngũ luôn có hậu quả vượt khỏi phạm vi phẩm chất cá nhân.

Vụ án "chuyến bay giải cứu" là một bài học nghiêm khắc. Chủ trương đưa công dân từ nước ngoài về nước trong đại dịch mang ý nghĩa nhân đạo, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước với đồng bào. Tuy nhiên, một số người được giao nhiệm vụ đã lợi dụng quyền hạn để trục lợi. Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 28-7-2023, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội tuyên án 54 bị cáo; Hội đồng xét xử xác định có hành vi nhũng nhiễu, tạo cơ chế xin – cho trong việc cấp phép chuyến bay để buộc doanh nghiệp đưa hối lộ[2].


Sự việc gây bức xúc bởi chính mục đích tốt đẹp của chủ trương đã bị tổn hại trong quá trình thực hiện. Giữa lúc công dân mong được trở về, quyền hạn phục vụ họ bị biến thành phương tiện kiếm lợi. Khoảng cách ấy cho thấy một đường lối nhân văn cần được bảo vệ đến tận khâu thực thi, nơi người dân trực tiếp cảm nhận trách nhiệm của bộ máy.

Đối với đối ngoại, đây còn là vấn đề danh dự của người đại diện. Công dân ở xa Tổ quốc tìm đến cơ quan chức năng bằng sự tin cậy đối với đất nước mình. Cách họ được tiếp nhận, hướng dẫn và bảo vệ quyền lợi sẽ để lại những đánh giá lâu dài. Những trải nghiệm ấy cũng đi vào cách cộng đồng và đối tác nhìn nhận Việt Nam.

Không thể lấy sai phạm của một số người để phủ nhận sự tận tụy của cả đội ngũ. Nhưng bảo vệ những người làm đúng cũng đòi hỏi phải xử lý nghiêm những người làm sai. Danh dự của tổ chức cần được gìn giữ bằng sự phân minh ấy, thay vì để trách nhiệm cá nhân bị hòa lẫn trong trách nhiệm tập thể.

Xử lý người vi phạm còn phải đi đến sửa những sơ hở đã để sai phạm xảy ra. Quyền hạn ở khâu nào bị lợi dụng thì trách nhiệm ở khâu ấy cần được làm rõ, kể cả trách nhiệm của người giao việc và kiểm tra. Có như vậy, việc xử lý mới giúp ngăn ngừa sai phạm, để người dân không tiếp tục chịu phiền hà từ những bất cập đã được chỉ ra.

Đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực từ góc nhìn này cũng là giữ gìn danh dự của Đảng trước Nhân dân. Người cán bộ dùng quyền hạn để mưu lợi riêng đã làm tổn hại lòng tin mà bao thế hệ đi trước gây dựng bằng sự tận tụy và hy sinh. Bởi vậy, trách nhiệm phải được làm rõ đến cùng, để những giá trị từng làm nên uy tín của Đảng được gìn giữ ngay trong cách Đảng xử lý sai phạm của mình.

3. Giữ người ngay, nuôi dưỡng điều tốt

Gạn bỏ những điều làm suy thoái tổ chức phải đi cùng việc vun đắp những phẩm chất giúp tổ chức trưởng thành. Đảng cần những cán bộ giữ được lòng trong sạch trước lợi ích riêng, đồng thời có đủ tâm huyết và năng lực để nhận việc khó. Trọng dụng và bảo vệ những con người ấy cũng là trách nhiệm của tổ chức, bởi sự ngay thẳng khó bền nếu thường xuyên phải chịu thiệt thòi, còn tinh thần đổi mới khó phát triển trong một môi trường chỉ chuộng sự an toàn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu người lãnh đạo phải "khiến cho cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến"[3]. Lời chỉ dẫn ấy đặt trách nhiệm thực hành dân chủ trước hết ở người có quyền nghe và quyết định. Cán bộ có thể nói hết suy nghĩ của mình khi tin rằng ý kiến được xem xét công tâm, kể cả khi điều được nói ra là thiếu sót của cấp trên. Không khí sinh hoạt như vậy giúp tập thể nhận rõ vấn đề trước khi quyết định, tránh để sự nể nang trở thành nguyên nhân kéo dài bất cập.Lịch sử đổi mới ghi dấu những bước "xé rào" từ thực tiễn, khi nỗi lo cho đời sống Nhân dân thôi thúc người cán bộ tìm đường vượt qua những cách làm đã bộc lộ bất cập. Năm 1966, dưới sự chủ trì của Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TU, mở đường thực hiện "khoán hộ", gắn lợi ích của người nông dân với thành quả lao động. Đó là một tìm tòi mang tầm nhìn "đi trước thời gian", bắt nguồn từ sự thấu hiểu ruộng đồng và cuộc sống còn nhiều thiếu thốn của bà con. Chủ trương ấy từng bị phê phán, đình chỉ, nhưng giá trị của nó dần được thực tiễn xác nhận, trở thành một trong những cơ sở để Đảng từng bước đổi mới cơ chế quản lý nông nghiệp. Nhìn lại chặng đường ấy, càng trân trọng bản lĩnh của người dám nhận về mình những thử thách để tìm một cách làm có lợi cho dân[4].


Nhìn lại câu chuyện ấy, càng thấy việc phát hiện một cách làm mới đòi hỏi tâm huyết, còn nhận ra giá trị của nó đòi hỏi tầm nhìn và sự công tâm. Người đi trước có thể thấy những bất cập mà nhận thức chung chưa kịp giải đáp. Tổ chức cần đủ thận trọng để xem xét, nhưng cũng phải đủ cầu thị để những tìm tòi vì dân có cơ hội được kiểm nghiệm. Đó là cách trân trọng trí tuệ và giữ gìn nguồn lực đổi mới từ trong đội ngũ.

Kết luận số 14-KL/TW ngày 22-9-2021 của Bộ Chính trị về khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung đặt vấn đề này thành trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng. Đề xuất đổi mới phải được báo cáo và xem xét theo thẩm quyền; khi được chấp thuận, người thực hiện cần được hỗ trợ, theo dõi và tháo gỡ khó khăn. Đặc biệt, nếu việc thí điểm gặp rủi ro, cấp có thẩm quyền phải "đánh giá công tâm để xem xét, xử lý phù hợp", trên cơ sở làm rõ nguyên nhân và động cơ thực hiện[5].Tinh thần ấy được cụ thể hóa trong Nghị định số 73/2023/NĐ-CP ngày 29-9-2023 của Chính phủ về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Nghị định nghiêm cấm việc cản trở, gây khó khăn đối với cán bộ thực hiện đề xuất; đồng thời không cho phép lợi dụng chính sách bảo vệ để bao che hành vi tham nhũng, trục lợi[6]. Bảo vệ cán bộ vì thế đòi hỏi sự phân định rõ ràng, tránh đánh đồng rủi ro trong quá trình tìm cách giải quyết việc chung với sai phạm có động cơ vụ lợi.


Trách nhiệm ấy phải được thực hiện ngay khi công việc đang triển khai. Người đứng đầu đã chấp thuận đề xuất cần cùng chịu trách nhiệm theo thẩm quyền, theo sát để kịp thời điều chỉnh những điều chưa phù hợp. Không thể khuyến khích cán bộ nhận việc khó rồi để họ đơn độc khi xuất hiện trở ngại. Cũng không thể đánh giá người né tránh ngang với người đã tận tâm tìm cách tháo gỡ vướng mắc cho dân.

Quy định số 144-QĐ/TW ngày 9-5-2024 của Bộ Chính trị nêu rõ yêu cầu "thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh". Cùng với giữ gìn phẩm giá, văn bản đặt ra trách nhiệm dấn thân vì công việc và phê phán thái độ làm cầm chừng, sợ trách nhiệm[7]. Sự trong sạch của người cán bộ, theo đó, cần được thể hiện bằng việc sử dụng đúng quyền hạn để làm tròn nhiệm vụ. Giữ riêng mình khỏi sai sót trong khi để công việc đình trệ chưa thể đáp ứng đòi hỏi của tinh thần phụng sự.


Đối với một Đảng lãnh đạo đất nước hội nhập, yêu cầu ấy càng có ý nghĩa. Những vấn đề mới trong hợp tác quốc tế cần người nghiên cứu thấu đáo và đủ bản lĩnh đề xuất. Tổ chức biết lắng nghe, biết giao việc và bảo vệ người làm việc có trách nhiệm sẽ phát huy được trí tuệ của đội ngũ. Khơi trong chính là nuôi dưỡng sức sống ấy, để sự liêm chính đi cùng năng lực hành động, để người cán bộ yên tâm đem hết hiểu biết và tâm huyết của mình phụng sự đất nước.

4. Từ lòng tin của Nhân dân đến uy tín trước thế giới

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: "Thực lực là cái chiêng, ngoại giao là cái tiếng". Bình luận về tư tưởng ấy, nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan cho rằng thực lực cần được hiểu trong sự tổng hòa giữa sức mạnh vật chất với những giá trị tinh thần, trong đó có tính đúng đắn của đường lối và chất lượng lãnh đạo, điều hành[8]. Tiếng nói của một quốc gia vì thế mang theo cả sức nặng của những việc quốc gia ấy làm được cho dân tộc mình. Đối ngoại có thể mở rộng sự hiểu biết, tranh thủ sự đồng tình; nền tảng của sự tin cậy vẫn phải được gây dựng từ bên trong đất nước.Một minh chứng đáng suy ngẫm là cách thế giới nhìn nhận hành trình phát triển của Việt Nam. Tại lễ kỷ niệm 45 năm Việt Nam gia nhập Liên hợp quốc, ngày 21-10-2022, Tổng Thư ký António Guterres gọi đó là "một câu chuyện về chuyển đổi và hy vọng do dân tộc Việt Nam viết lên". Trong bài phát biểu, ông ghi nhận những tiến bộ về giảm nghèo và khả năng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu, đồng thời đánh giá cao chính sách đặt con người ở trọng tâm phát triển[9]. Điều được trân trọng ở đây là kết quả của một quá trình dựng xây, trong đó cuộc sống của người dân từng bước thay đổi. Những thành quả có thể quan sát và kiểm chứng đã đem lại sức thuyết phục cho con đường phát triển của Việt Nam.

Đằng sau sự ghi nhận ấy là mối liên hệ giữa trách nhiệm trong nước và uy tín quốc tế. Chăm lo đời sống Nhân dân trước hết là bổn phận của Đảng cầm quyền. Khi bổn phận ấy được thực hiện có kết quả, Việt Nam có thêm kinh nghiệm để chia sẻ và cơ sở để đối thoại về những vấn đề phát triển. Tiếng nói về công bằng có chiều sâu hơn khi đi cùng nỗ lực thu hẹp những thiệt thòi trong xã hội; quan điểm lấy con người làm trung tâm có sức nặng hơn khi được chứng minh trong chính sách và đời sống.

Từ nền tảng ấy, Việt Nam từng bước tham gia định hình những quyết định chung của cộng đồng quốc tế. Ngày 27-4-2021, Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết số 2573 về bảo vệ cơ sở hạ tầng thiết yếu đối với sự sống của người dân trong xung đột vũ trang, do Việt Nam chủ trì thúc đẩy[10]. Đằng sau đó là những điều kiện căn bản để con người tiếp tục sống giữa chiến tranh. Với một dân tộc từng chịu cảnh trường học, bệnh viện và làng mạc bị tàn phá, lựa chọn ấy mang chiều sâu của ký ức lịch sử, đồng thời thể hiện khả năng chuyển sự thấu hiểu thành một đóng góp cụ thể cho thế giới.


Sự tiếp nối giữa điều Việt Nam chăm lo trong nước với điều Việt Nam theo đuổi trên các diễn đàn quốc tế là nơi văn hóa Đảng góp phần tạo nên sức mạnh mềm. Giá trị nhân văn trong đường lối lãnh đạo đi vào chính sách, rồi từ kinh nghiệm thực hiện chính sách mà trở thành tiếng nói có căn cứ trong đối thoại quốc tế. Chính vì thế, xây dựng, chỉnh đốn Đảng có ý nghĩa thiết thực đối với uy tín quốc gia. Khắc phục những biểu hiện lạm quyền, sửa chữa sự chậm trễ trước yêu cầu chính đáng của dân cũng là giữ cho đường lối nhân văn của Đảng được thực hiện trọn vẹn, để bạn bè tin Việt Nam từ những việc đất nước đã làm được.

Bởi vậy, xây dựng văn hóa Đảng có ý nghĩa đối với toàn bộ công tác đối ngoại, chứ không chỉ với đội ngũ trực tiếp làm ngoại giao. Tại hội nghị triển khai đường lối đối ngoại ngày 11-6-2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh việc "lấy kết quả thực chất làm tiêu chuẩn đánh giá cán bộ", đồng thời khẳng định từng bộ, ngành, địa phương làm tốt công việc của mình cũng góp phần vào đối ngoại[11]. Sau mỗi thỏa thuận, đối tác còn nhìn vào cách Việt Nam thực hiện những điều đã cam kết. Chính trong quá trình cùng tháo gỡ vướng mắc và theo đuổi công việc đến kết quả, sự tin cậy dành cho nhau mới có thêm cơ sở bền vững.


Khơi trong, gạn đục vì thế mang ý nghĩa giữ gìn những giá trị đã làm nên sự gắn bó giữa Đảng với Nhân dân. Uy tín được gây dựng bằng bao hy sinh của các thế hệ đi trước đòi hỏi người hôm nay phải tiếp nối bằng sự liêm chính và tận tâm với việc nước. Đảng nghiêm khắc với chính mình cũng là để xứng đáng với lòng tin ấy, để quyền lực được trao thực sự đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho dân. Từ nền tảng đó, tiếng nói Việt Nam bước ra thế giới có sức nặng của một đất nước biết gìn giữ phẩm giá trong cách hành xử. Bởi điều khiến bạn bè tin cậy lâu dài chính là sự nhất quán giữa những giá trị Việt Nam theo đuổi và cách Việt Nam sống với những giá trị ấy./.

Trung úy Dương Đình Tuấn - Công an tỉnh Quảng Trị

 Nguyễn Gia Bảo - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Chính trị (2021), Kết luận số 14-KL/TW ngày 22/9/2021 của Bộ Chính trị về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung, Hà Nội.

2. Bộ Chính trị (2024), Quy định số 144-QĐ/TW, ngày 9/5/2024 về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên giai đoạn mới, Hà Nội.

3. Chính phủ (2023), Nghị định số 73/2023/NĐ-CP ngày 29/9/2023 của Chính phủ quy định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, Hà Nội.

4. Phạm Dự, Thanh Lam (2023), "Hoàng Văn Hưng và 3 người bị phạt chung thân trong vụ 'chuyến bay giải cứu'", VnExpress, ngày 28-7-2023.

5. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

6. Vũ Khoan (2021), "Suy ngẫm về 'văn hóa ngoại giao Việt Nam'", Báo điện tử Chính phủ, ngày 18-12-2021.

7. Liên hợp quốc VIệt Nam (2022), "Bài phát biểu khai mạc của Tổng thư ký Liên hợp quốc, Ngài António Guterres", https://vietnam.un.org/, ngày 22-10-2022.

8. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 5, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

9. Nguyen Minh, "Viet Nam in UNSC – mission accomplished" (Việt Nam tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc – nhiệm vụ hoàn thành), https://en.baochinhphu.vn/, ngày 2-1-2022.

10. Tô Lâm (2026), "Bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về công tác đối ngoại, ngoại giao trong giai đoạn mới", Báo điện tử Chính phủ, ngày 11-6-2026.

11. Mai Thủy (2017), "Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc – con người của đổi mới và sáng tạo", Bảo tàng lịch sử quốc gia, https://baotanglichsu.vn/, ngày 18-10-2017.


12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 


13. ↑Phạm Dự, Thanh Lam (2023), "Hoàng Văn Hưng và 3 người bị phạt chung thân trong vụ 'chuyến bay giải cứu'", VnExpress, ngày 28-7-2023.


14.  ↑Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 5, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 319. ↑Mai Thủy (2017), Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc – con người của đổi mới và sáng tạo, Bảo tàng lịch sử quốc gia, https://baotanglichsu.vn/, ngày 18-10-2017.


15.  ↑Bộ Chính trị (2021), Kết luận số 14-KL/TW ngày 22/9/2021 của Bộ Chính trị về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung, Hà Nội.


16. ↑Chính phủ (2023), Nghị định số 73/2023/NĐ-CP ngày 29/9/2023 của Chính phủ quy định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, Hà Nội.


17. ↑Bộ Chính trị (2024), Quy định số 144-QĐ/TW, ngày 9/5/2024 về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên giai đoạn mới, Hà Nội.


18.↑Vũ Khoan (2021), "Suy ngẫm về 'văn hóa ngoại giao Việt Nam'", Báo điện tử Chính phủ, ngày 18-12-2021.


19. ↑Liên hợp quốc VIệt Nam (2022), "Bài phát biểu khai mạc của Tổng thư ký Liên hợp quốc, Ngài António Guterres Hà Nội, 21/10/2022", https://vietnam.un.org/, ngày 22-10-2022.


20. ↑Nguyen Minh, "Viet Nam in UNSC – mission accomplished" (Việt Nam tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc – nhiệm vụ hoàn thành), https://en.baochinhphu.vn/, ngày 2-1-2022.


21. ↑Tô Lâm (2026), "Bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về công tác đối ngoại, ngoại giao trong giai đoạn mới", Báo điện tử Chính phủ, ngày 11-6-2026. ↑