logo
ISSN 2734-9020

Ai sẽ đầu tư cho văn hóa?

Thứ tư, 19/08/2026 - 08:08

Văn hóa muốn phát triển không thể chỉ trông vào ngân sách. Khi Nhà nước mở đường, doanh nghiệp nhìn thấy cơ hội và xã hội cùng tham gia, nguồn lực cho văn hóa mới thực sự được khơi thông.

Kỳ 4: Ai sẽ đầu tư cho văn hóa?

Không thể chỉ trông vào ngân sách

Trong một thời gian dài, đầu tư cho văn hóa thường gắn hoàn toàn với ngân sách nhà nước. Bởi nhiều lĩnh vực như bảo tồn di sản, thư viện, bảo tàng, nghệ thuật hàn lâm, thiết chế văn hóa cơ sở hay các chương trình phục vụ cộng đồng mang lại lợi ích xã hội lớn nhưng khả năng thu hồi vốn thấp, thậm chí không lợi nhuận. Tuy nhiên, khi nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng đa dạng, công nghiệp sáng tạo, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, thiết kế, nội dung số, du lịch văn hóa và các thị trường mới phát triển mạnh, mô hình chủ yếu dựa vào cấp phát ngân sách bắt đầu bộc lộ giới hạn. Nguồn lực công luôn hữu hạn, trong khi tiềm năng trong xã hội rất lớn.

Nghị quyết số 80-NQ/TW đã chỉ ra hướng tiếp cận mới khi xác định "đầu tư cho văn hoá là đầu tư cho phát triển bền vững đất nước, cho tương lai của dân tộc", đồng thời nhấn mạnh Nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, nguồn lực xã hội và khu vực tư nhân là động lực quan trọng, thể chế giữ vai trò then chốt[1]. Đây hoàn toàn không phải thoái thác vai trò của Nhà nước, mà là thay đổi cách Nhà nước sử dụng nguồn lực: từ chỗ chủ yếu trực tiếp cấp kinh phí sang vừa đầu tư cho những giá trị nền tảng, vừa tạo môi trường để các nguồn vốn khác có thể cùng tham gia.

Nhà nước mở đường, không làm thay thị trường

Vai trò dẫn dắt của Nhà nước không nên chỉ được đo bằng số công trình văn hóa được xây dựng hay số chương trình được cấp kinh phí, mà quan trọng hơn là khả năng tạo nền tảng để các nguồn lực khác có thể đi vào. Khi hạ tầng văn hóa được đầu tư bài bản, dữ liệu được chuẩn hóa và số hóa, cơ chế sử dụng tài sản công rõ ràng, nhân lực được đào tạo, quyền khai thác được xác định minh bạch và môi trường pháp lý đủ ổn định, doanh nghiệp mới có cơ sở để bỏ vốn dài hạn thay vì chỉ tài trợ cho những hoạt động ngắn hạn.

Vì thế, Nhà nước cần tập trung vào những phần việc có tính mở đường như bảo tồn di sản, xây dựng hạ tầng thiết yếu, hỗ trợ các nền tảng sáng tạo, đào tạo nhân lực, hoàn thiện dữ liệu và tạo hành lang pháp lý cho những mô hình mới. Hiệu quả của nguồn vốn từ ngân sách khi ấy không chỉ nằm ở tài sản được hình thành, mà còn ở khả năng kéo theo hoạt động kinh doanh, dịch vụ, sáng tạo và việc làm. Đây là khác biệt giữa cấp phát và dẫn dắt: cấp phát kết thúc khi ngân sách được giải ngân, còn dẫn dắt chỉ thành công khi nguồn lực công tạo được niềm tin và mở được đường cho nguồn lực xã hội tiếp tục đi vào.

Doanh nghiệp cần nhìn thấy cơ hội, không chỉ nhìn thấy trách nhiệm

Xã hội hóa văn hóa sẽ khó bền vững nếu doanh nghiệp chủ yếu tham gia với tư cách nhà tài trợ. Tài trợ rất cần, nhưng phụ thuộc nhiều vào thiện chí, chiến lược truyền thông và khả năng tài chính từng thời điểm của doanh nghiệp; vì vậy khó trở thành nền tảng cho các dự án dài hạn. Muốn dòng vốn tư nhân đi sâu hơn vào văn hóa, doanh nghiệp phải nhìn thấy không chỉ trách nhiệm xã hội mà còn cơ hội hình thành sản phẩm, thị trường, thương hiệu và những lợi ích hợp pháp, chính đáng từ khoản đầu tư của mình.

Điều đó phụ thuộc rất lớn vào thể chế. Nếu quyền khai thác không rõ, thời hạn hợp tác ngắn, thủ tục kéo dài, cơ chế chia sẻ lợi ích thiếu ổn định hoặc nhà đầu tư không biết mình được làm gì với tài sản văn hóa sau khi bỏ vốn, sẽ rất khó kỳ vọng vào nguồn vốn dài hạn. Ngược lại, khi luật chơi minh bạch, quyền và nghĩa vụ được xác định cụ thể, rủi ro chính sách giảm xuống, doanh nghiệp có thể nhìn văn hóa như một lĩnh vực đầu tư thực sự chứ không chỉ như địa chỉ để thực hiện trách nhiệm xã hội.

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị vì vậy đặt ra các mô hình như "lãnh đạo công - quản trị tư", "đầu tư công - quản lý tư", "đầu tư tư - sử dụng công", đồng thời đề cập tới các quỹ văn hóa, nghệ thuật và những cơ chế ưu đãi phù hợp[2]. Đây là một chuyển dịch đáng chú ý: thay vì hỏi doanh nghiệp có sẵn sàng "ủng hộ" văn hóa hay không, cần hỏi liệu môi trường thể chế đã đủ tốt để doanh nghiệp có thể đầu tư lâu dài vào văn hóa hay chưa.

Gỡ nút thắt hiếu cơ chế để dòng tiền chảy vào lĩnh vực văn hóa

Thực tế cho thấy xã hội không hoàn toàn thiếu nguồn lực, doanh nghiệp rất có nhu cầu tìm kiếm lĩnh vực đầu tư mới, trong khi người dân ngày càng quan tâm đến các sản phẩm và dịch vụ văn hóa có chất lượng. Điều còn thiếu ở nhiều nơi chính là cơ chế đủ rõ để những nhu cầu và nguồn lực ấy gặp nhau. Khi thủ tục sử dụng tài sản công phức tạp, mô hình hợp tác thiếu ổn định, quyền khai thác không minh bạch, trách nhiệm bảo tồn chưa được phân định hoặc rủi ro chính sách quá lớn, vốn sẽ đứng ngoài dù dự án có tiềm năng.

Bởi vậy, bài toán nguồn lực cho văn hóa không thể chỉ giải bằng cách tăng ngân sách. Điều quan trọng hơn là giảm "chi phí thể chế" của việc đầu tư vào văn hóa, làm rõ quy trình, quyền lợi, nghĩa vụ, thời hạn, cơ chế giám sát và phương thức chia sẻ lợi ích. Khi những yếu tố này được thiết kế tốt, nguồn lực xã hội mới có thể đi vào một cách ổn định và lâu dài; ngược lại, nếu thể chế chưa thông thì ngay cả khi có tiền, dòng vốn cũng khó phát huy hiệu quả. Nghị quyết 80 đặt thể chế ở vị trí then chốt chính vì lý do đó: văn hóa không chỉ cần thêm nguồn lực, mà cần một con đường đủ rõ để nguồn lực có thể đi vào đúng nơi, đúng mục tiêu và đúng giá trị.

Xã hội hóa nhưng kiên quyết không thương mại hóa

Mở rộng nguồn lực xã hội không có nghĩa mọi giá trị văn hóa đều phải vận hành theo logic lợi nhuận. Văn hóa có thị trường nhưng không đồng nhất với thị trường. Có những lĩnh vực hoàn toàn có thể hình thành mô hình kinh doanh bền vững, nhưng cũng có những giá trị phải được bảo vệ ngay cả khi chúng không tạo ra doanh thu đáng kể, bởi giá trị lớn nhất của chúng nằm ở giáo dục, bản sắc, ký ức cộng đồng và lợi ích lâu dài của xã hội.

Nếu xã hội hóa bị hiểu giản đơn là giao mọi thứ cho thị trường, những gì dễ bán sẽ được đầu tư nhiều, trong khi những giá trị khó thương mại hóa nhưng có ý nghĩa nền tảng có nguy cơ bị bỏ quên. Chính vì vậy, huy động nguồn lực luôn phải đi cùng với cơ chế bảo vệ giá trị gốc. Doanh nghiệp có thể khai thác dịch vụ trong không gian văn hóa nhưng không thể vì doanh thu mà làm mất đi ý nghĩa lịch sử của không gian ấy; dự án có thể hướng tới hiệu quả tài chính nhưng không thể lấy lợi nhuận ngắn hạn để biện minh cho việc phá vỡ bản sắc hay làm nghèo đời sống cộng đồng. Nghị quyết 80 cũng nhấn mạnh yêu cầu tránh thương mại hóa văn hóa một chiều và không chạy theo lợi ích kinh tế đơn thuần. Cần thiết lập ranh giới giữa xã hội hóa là mở rộng chủ thể cùng tạo giá trị và thương mại hóa bằng mọi giá là để lợi nhuận quyết định giá trị nào được giữ và giá trị nào bị bỏ lại.

Kiến tạo một thị trường văn hóa

Nếu vẫn bắt đầu bằng câu hỏi "lấy đâu ra tiền cho văn hóa?", cách làm thường xoay quanh việc tìm ngân sách, vận động nhà tài trợ hoặc kêu gọi từng nguồn hỗ trợ riêng lẻ. Nhưng khi chuyển sang câu hỏi "làm thế nào để nguồn lực muốn đi vào văn hóa?", tư duy sẽ thay đổi. Trọng tâm khi ấy không còn chỉ là tìm tiền, mà là tạo luật chơi, tạo sản phẩm, tạo thị trường và tạo niềm tin để dòng vốn có lý do ở lại lâu dài.

Điều này đòi hỏi sự phân loại rõ ràng thay vì áp dụng cùng một cơ chế cho mọi lĩnh vực. Bảo tàng, nghệ thuật biểu diễn, điện ảnh, lễ hội, làng nghề, nội dung số hay không gian sáng tạo có đặc điểm kinh tế hoàn toàn khác nhau, vì thế cũng cần những mô hình đầu tư khác nhau. Có lĩnh vực Nhà nước cần đầu tư trực tiếp để bảo đảm lợi ích công; có lĩnh vực phù hợp với đặt hàng; có dự án có thể hợp tác công - tư; có hoạt động thích hợp với mô hình quỹ; cũng có lĩnh vực đủ khả năng vận hành theo cơ chế thị trường với sự định hướng và giám sát cần thiết.

Một kiến trúc đầu tư hiệu quả vì thế không phải cố tìm một nguồn tiền cho tất cả, mà là đặt đúng loại vốn vào đúng loại giá trị. Khi làm được điều đó, văn hóa sẽ chuyển từ vị thế đi tìm tài trợ sang vị thế có khả năng thu hút đầu tư.

Không phải "ai đầu tư?", mà là "ai cùng đầu tư?"

Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề đặt ra không phải là lựa chọn giữa Nhà nước và doanh nghiệp. Nhưng đặc tính của văn hóa khiến không chủ thể nào có thể đứng một mình. Nhà nước cần bảo đảm những giá trị công cộng, doanh nghiệp có thế mạnh về vốn, quản trị, công nghệ và thị trường, còn cộng đồng chính là chủ thể sống cùng những giá trị văn hóa và có vai trò quyết định đối với việc bảo tồn bản sắc.

Vì vậy, câu trả lời phù hợp hơn không phải "ai đầu tư?" mà là "ai cùng đầu tư và cùng chịu trách nhiệm?". Nhà nước kiến tạo thể chế và đầu tư vào nền tảng; doanh nghiệp mang đến năng lực tổ chức, công nghệ và khả năng phát triển sản phẩm; cộng đồng bảo đảm các giá trị văn hóa không bị tách khỏi đời sống và chủ thể của chính nó. Khi ba nguồn lực này gặp nhau trong một cơ chế minh bạch, văn hóa sẽ không còn chỉ đi tìm kinh phí để tồn tại, mà có khả năng huy động nguồn lực để phát triển.

Tóm lại, điểm nghẽn của đầu tư văn hóa không chỉ nằm ở thiếu vốn, mà ở chỗ các nguồn lực chưa được kết nối bằng một cơ chế đủ rõ. Khi vốn công biết dẫn dắt, vốn tư có không gian tham gia, cộng đồng được bảo đảm vai trò chủ thể và ranh giới giữa xã hội hóa với thương mại hóa được xác lập, văn hóa mới có thể thoát khỏi tư duy cấp phát ngắn hạn để hình thành những dòng đầu tư bền vững.

    ThS. Trương Thị Điệp

    Phó Trưởng Khoa Nhà nước và Pháp luật, Trường Chính trị TP Đà Nẵng


    Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, tr.3.

    Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, tr.6.