logo
ISSN 2734-9020

Bảo tồn không gian văn hóa thờ phụng Thánh Tản ở Đền Và tại Sơn Tây – Hà Nội

Thứ ba, 07/07/2026 - 13:22

Từ lâu, trong tín ngưỡng dân gian Việt Tam vị Đức Thánh Tản đã được nhân dân suy tôn làm “Đệ Nhất Phúc Thần”, Ngài là biểu tượng của tinh thần chế ngự thiên nhiên và bảo vệ cộng đồng. Đông Cung đền Và không đơn thuần chỉ là một di tích lịch sử mà còn là chứng nhân cho sự hiện tồn của Đức Thánh Tản từ thuở khai thiên lập quốc của các vua Hùng đến thời kì hội nhập phát triển. Tuy nhiên, không gian văn hóa thờ phụng Thánh Tản Viên tại Đền Và – Sơn Tây, Hà Nội đã và đang phải đối mặt với nhiều thách thức từ quá trình đô thị hóa và nguy cơ thương mại hóa di sản.

Nghi môn Đền Và

Nghi môn Đền Và

Bài viết của tác giả nhằm nhấn mạnh rằng không gian này là một tổng thể sống động và hữu cơ, nơi các giá trị văn hóa - tâm linh được mã hóa qua kiến trúc, biểu tượng và sinh hoạt lễ hội. Do đó, việc bảo tồn phải có sự chủ động và mang tính tổng thể. Trước hết, cần bảo vệ tính toàn vẹn của cảnh quan thiên nhiên. Thứ hai, phải bảo tồn nguyên trạng và ý nghĩa triết học ẩn trong kiến trúc cùng hệ thống biểu tượng. Bởi đây là những ngôn ngữ vật chất chứa đựng vũ trụ quan và đạo đức xã hội truyền thống. Thứ ba, cần duy trì các lễ hội (Rằm tháng Giêng, Đả Ngư) như một phương thức để kết nối cộng đồng và truyền tải các giá trị nhân văn sâu sắc. Cuối cùng, bài viết đề xuất các giải pháp mang tính bền vững như chuyển từ "bảo tồn thụ động" sang "quản lý chủ động và sáng tạo", thông qua ứng dụng công nghệ, giáo dục di sản và phát huy vai trò then chốt của thanh niên như những người kế thừa, giải thích và lan tỏa giá trị.

Từ khóa: Sơn Tây, Thánh Tản Viên, đền Và, Đông Cung, thờ phụng, bảo tồn không gian văn hóa.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong hệ thống điện thờ thánh Tản Viên tại Việt Nam mà chủ yếu là ở khu vực đồng bằng sông Hồng, đền Và (hay Đông Cung) là một trong những trung tâm tín ngưỡng quan trọng nhất. Đây không chỉ là một quần thể di tích đơn thuần mà còn là một thực thể văn hóa sống động từ kiến trúc đến hệ thống thờ tự đa dạng. Tuy nhiên, không gian văn hóa này đã và đang đứng trước nhiều thách thức lớn mà quá trình đô thị hóa mang lại như mạng lưới giao thông phát triển dày đặc, làm mất cảnh quan tự nhiên, ngoài ra còn do các yếu tố biến động trong đời sống cộng đồng, thực trạng đã cho thấy đa số du khách tới đền chỉ với mục đích cầu cúng và tế tự, còn về nguồn gốc và ý nghĩa thì dường như bị gạt sang một bên. Thêm nữa, tình trạng xả rác bừa bãi ra xung quanh khu vực rừng Lim cũng là một trong những vấn đề hết sức nghiêm trọng, vì nó sẽ làm mất mỹ quan của di tích,.v.v... Vì lẽ đó nên tác giả đã lựa chọn đề tài làm bài tham luận nhằm giúp người đọc có sự nhận diện một cách có hệ thống về các giá trị tổng thể của không gian thờ phụng Thánh Tản, để từ đó đưa ra các giải pháp bảo tồn di sản văn hóa có tính khả thi, góp phần phát triển bền vững mối quan hệ giữa cộng đồng với các di sản văn hóa không chỉ ở Sơn Tây mà còn mở rộng ra khắp các vùng văn hóa – di sản của Việt Nam.

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Quan niệm về Thánh Tản – Tam Vị Quốc Chúa Thượng Đẳng Thần trong tín ngưỡng dân gian của người dân Sơn Tây Không gian thờ phụng Thánh Tản và các lễ hội lớn ở Sơn Tây Không gian thờ phụng Thánh Tản Các lễ hội lớn của đền Và Các quan điểm của Chính quyền sở tại và vai trò của thanh niên thế hệ trẻ phường Sơn Tây về bảo tồn các giá trị văn hóa trong việc giữ gìn và phát triển bản sắc văn hóa thờ phụng Thánh Tản Viên

Trong quan niệm của người dân xứ Đoài nói chung và nhân dân Sơn Tây nói riêng, Đức Thánh Tản Viên không chỉ là một vị thần trong truyền thuyết mà còn được dân chúng tôn làm "Đệ Nhất Phúc Thần". Người dân Sơn Tây tôn thờ Đức Thánh Tản với vị thế đứng đầu trong "Tứ bất tử" của tín ngưỡng Việt Nam. Trong tiềm thức của người dân nơi đây, Ngài là biểu tượng tuyệt đối của tinh thần chế ngự thiên nhiên và bảo vệ cộng đồng. Câu chuyện Thánh Tản sử dụng gậy thần, sách ước để chống lại sự giận dữ của Thủy Tinh không đơn thuần là truyện cổ tích; đó là bản anh hùng ca về nghị lực của cha ông trong cuộc chiến sinh tồn với lũ lụt sông Đà, sông Hồng.

Nhân dân nơi đây cho rằng Thánh Tản là vị thánh của sự khai sáng và nhân văn. Ngài không chỉ dẫn quân đánh giặc, trị thủy mà còn dạy nhân dân làm ruộng, săn bắn, dệt lụa và mở hội. Chính vì lẽ đó, việc phụng thờ Thánh Tản Viên không xuất phát từ sự sợ hãi quyền uy, mà bắt nguồn từ lòng biết ơn sâu sắc đối với một vị "Cha" đã có công dựng xây cuộc sống ấm no đối với bách tính trăm họ. Dưới thời kỳ phong kiến, Thánh Tản được các triều đại Phong kiến và các tầng lớp nhân dân tôn vinh thành Tứ Bất Tử, tức là bốn vị Thánh linh thiêng, bất tử trong hệ thống thần điện của Việt Nam.

Trong một số bản Ngọc phả cổ lục có ghi: "...Sau khi bình được họ Mạc, Trang Tông lên ngôi hoàng đế lại truy phong một chữ Bảo Quốc An Dân Thượng Tối Linh Đại Vương..." [4, tr.30], hay dưới thời Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm, ông đã ban Lệnh Chỉ tôn làm Tản Viên Sơn Quốc Chúa Tam Vị Đại Vương. Sở dĩ trong sắc phong này sử dụng là "Tam vị Đại Vương" vì hai người em họ của ông cũng đã được nhân dân tôn phong lên tôn vị Thánh và hình ảnh của ba vị thường được gắn liền với nhau tại một số địa phương. Ngày nay trong các bài nghiên cứu về Thánh Tản, các nhà nghiên cứu đều đồng thuận cho rằng Ngài thực sự là những vị Thánh của nhân dân, có sức ảnh hưởng rất lớn đến đời sống văn hóa – tâm linh của nhân dân Sơn Tây. Do đó, vào năm 1964, Đông Cung Đền Và đã được nhà nước xếp hạng là di tích lịch sử cấp Quốc Gia.

Trong tín ngưỡng dân gian xứ Đoài nói chung và khu vực Sơn Tây nói riêng, việc thờ phụng Đức Thánh Tản đóng vai trò quan trọng và phổ biến rộng rãi, mà trong đó nổi bật nhất là Đông Cung Đền Và.

Đền Và, còn được gọi là Đông Cung hay Đông Chấn Cung, là một trong bốn chấn cung lớn thờ thần núi Tản Viên (tức Thánh Tản). Đền nằm cách trung tâm phường Sơn Tây khoảng 2km, thuộc thôn Vân Gia, phường Sơn tây, Hà Nội. Theo các bản Thần Tích, đây là nơi Đức Thánh Tản dừng chân nghỉ ngơi và cho xây dựng một hành cung để làm nơi thiết triều. Theo văn bia "Vân Già Đông Trấn Cung" dựng ở hai bên đầu nhà Tiền Tế năm tự Đức thứ 36 (1883), ta có thể hiểu được rằng Đền Và đã được nhân dân xây dựng dưới sự đô hộ của nhà Đường. Đền Và tọa lạc trên một khu đồi lim rộng hình con rùa đang đi về phía mặt trời mọc và ở phía Tây của đền, du khách sẽ được thấy những ngọn đồi hình bát úp trải dài, xa hơn là dòng sông Tích quanh co uốn khúc tạo nên một khung cảnh thơ mộng, yên bình.

Quần thể di tích gồm bốn khu: nội đền, phù điêu Long quyển thủy, động Ngũ Hổ và lầu cô Chín. Khi đến trước cửa đền, chúng ta sẽ thấy một tấm bia "hạ mã", đây là báo hiệu cho dân chúng biết rằng họ đã đến Đông Cung và họ phải dừng lại, xuống xe – kiệu để đi bộ vào trong. Khi đi vào khoảng 100m sẽ đến một khoảng sân nhỏ, bên trái là bức phù điêu Long Quyển Thủy (Rồng hút nước) thể hiện khát vọng chinh phục và hài hòa với tự nhiên. Khi phân tích hình tượng này dưới góc độ triết học Phương Đông, chúng ta có thể thấy bức tranh tổng hòa sự giao hòa Âm Dương hoàn hảo, Rồng (Dương) đang hút và điều khiển Thủy (Âm) tạo nên vòng tròn của sự sống, nuôi dưỡng vạn vật. Mặt phía sau của bức phù điêu là động Ngũ Hổ, nơi thờ năm vị Thần Hổ trấn giữ năm hướng và ngũ hành, đại diện cho sức mạnh nguyên thủy của tự nhiên và sự bảo hộ của năm Ông Hổ đối với nhân dân xứ Đoài nói chung và nhân dân Sơn Tây nói riêng. Việc phụng thờ Ngũ Hổ ở đền Và mang ý nghĩa xua đuổi tà khí, giữ cho khôn gian thờ tự được thanh tịnh. Bên trái của động Ngũ Hổ là miếu cô Chín giếng – một vị Thánh Cô trong hệ thống Tứ Phủ của dân gian Việt, việc thờ Cô Chín ở Đền Và cho thấy sự hội nhập và dung hợp giữa tín ngưỡng thờ Thánh Tản với tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ, một hệ thống tín ngưỡng dân gian phổ biến, gần gũi với đời sống tâm linh của quần chúng.

Đối diện với bức phù điêu là Nghi môn, công trình này được đặt trên nền cao 1m, được sơn đỏ và vẽ hình Lưỡng Long chầu Nguyệt – hình ảnh của quyền lực và đế vương, tạo cảm giác nguy nga tráng lệ. Khi đi qua cổng chính là một khoảng sân rộng được thiết kế theo kiến trúc khép kín với hình ảnh hai gác chuông – trống nối hai dãy tả – hữu mạc với Nghi môn. Cấu trúc của công trình này được xây dựng theo kiểu chồng diêm hai tầng tám mái có cùng kích thước và có sự đối xứng với nhau. Gác chuông, gác trống có kết cấu mái đơn giản theo kiểu chồng rường, ba mặt tầng trên được trổ cửa sổ tròn, ở bên ngoài được đắp nổi theo hình "ngũ phúc" với hình ảnh hoa dây và các góp được đắp gờ nổi làm giả cột, tạo cảm giác khỏe khoắn, thanh thoát.

Chính điện đền Và được xây theo bố cục "Nội công ngoại quốc" với hai nhà song song là Tiền Tế và Hậu Cung, nối nhau bằng gian ống muống. Bố cục này hiện thân triết lý Thiên – Địa – Nhân hài hòa, phản ánh tư tưởng Nho giáo về trật tự tôn ti, góp phần củng cố xã hội phong kiến. Kết cấu chồng rường – giá chiêng đậm triết lý Âm Dương – Ngũ Hành của người Việt: chồng rường hướng lên, biểu tượng phát triển tuần tự, mỗi lớp rường là bước tiến vững chắc tạo cân bằng động; giá chiêng võng xuống, thể hiện che chở, thu gọn không gian. Hai hình ảnh gắn lại, chồng rường là Dương, giá chiêng là Âm, tạo thế giao hòa. Đền được bao quanh bởi tường đá ong chu vi khoảng 200m, tăng tính phủ đệ, nhấn mạnh sự đăng đối vững vàng, tương phản với thiên nhiên rộng lớn. Thanh quá giang kết hợp gợi ẩn dụ sâu sắc về sức mạnh đoàn kết, hỗ trợ, sẻ chia gánh nặng trong cộng đồng, nơi mỗi cá nhân giữ vai trò riêng để cùng vượt qua khó khăn.

Trong chính điện, cách bày trí các đối tượng thờ phụng được sắp xếp theo chiều dọc của điện thần, lần lượt là nhà Tiền Tế, một gian ống muống là Trung Cung và Hậu Cung. Trước tiên là khu vực nhà Tiền Tế, tại đây có đặt hai pho tượng quan văn – quan võ ở tư thế ngồi, mặt đối mặt với nhau và nhiệm vụ của họ là lắng nghe, quan sát những lời thỉnh cầu của nhân dân rồi trình lên Thánh Tản. Sau cùng là Hậu Cung, đây là vị trí quan trọng nhất của toàn bộ khu đền, đây là nơi đặt Long ngai – bài vị của Tam Vị Thánh Tản và bài vị Đức Quốc Mẫu Đinh Thị Đen – thân mẫu của Tản Viên Sơn Thánh, điều này cho thấy việc đặt nguyên lý Mẹ trong tín ngưỡng dân gian Việt lên vị trí tiên thiên và tối cao, ngoài ra việc thờ phụng Đức Quốc Mẫu còn cho thấy truyền thống "uống nước nhớ nguồn" của dân tộc ta. Qua cách bày trí và phong cách xây dựng độc đáo của đền Và, chúng ta có thể thấy được rằng phong tục thờ phụng Đức Thánh Tản trong suốt chiều dài của lịch sử, nhân dân ta đã tự xây dựng cho chính mình một hệ thống thần linh độc lập, không bị lệ thuộc vào các yếu tố ngoại lai và đây cũng là minh chứng rõ ràng nhất phản ánh ước vọng ngàn đời của dân tộc ta.

Lễ hội đền Và được coi là lễ hội lớn nhất của cả vùng xứ Đoài, là một bảo tàng quy tụ các giá trị văn hóa và góp phần duy trì văn hóa tâm linh của dân tộc ta. Hằng năm Xuân – Thu nhị kỳ, nhân dân Sơn Tây cùng nhau tổ chức các lễ hội lớn nhằm tôn vinh công đức của Thánh Tản đối với nhân dân. Các lễ hội ấy diễn ra trong nhiều ngày, bao gồm nhiều nghi thức và có sự tham gia của tám làng trong và ngoài khu vực như huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc (cũ).

Thứ nhất là hội Rằm Tháng Giêng, vào những năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu, ban quản lý di tích và các bậc cao niên sẽ dựa theo lệ từ xưa để tổ chức hội lớn vào những ngày 14, 15 và 16 tháng Giêng. Đây được gọi là Chính Hội, còn những năm còn lại gọi là Hội Lệ. Trong những năm tổ chức hội lớn, từ đầu giờ Dần vào lễ chính, nhà đền sẽ làm lễ phụng nghinh rước Long Ngai – Bài Vị Tam vị Đức Thánh Tản ra kiệu chính. Ngay sau khi lễ phụng nghinh được hoàn tất, đoàn rước bắt đầu khởi hành từ đền Và (Sơn Tây), qua sông Hồng sang đền Ngự Dội (Tỉnh Phú Thọ) để tái hiện lại sự tích năm xưa Đức Thánh cùng quan quân lên đường ra trận. Lễ rước này không chỉ là một lễ hội mang yếu tố duy tâm mà còn là cơ hội để người dân bản địa và du khách hòa cùng làm một, thể hiện tinh thần đoàn kết của nhân dân ta. Trong suốt những ngày diễn ra lễ hội, rất nhiều trò chơi dân gian đã được tổ chức nhằm gắn kết mối quan hệ giữa du khách và dân sở tại.

Thứ hai là hội Đả Ngư, hay còn gọi là hội Rằm tháng Chín. Đây là ngày lễ tri ân công đức của Thánh Tản khi xưa đã giúp dân dệt lưới, đánh cá và khai sơn trị thủy, thể hiện khát vọng chinh phục tự nhiên của con người. Theo tích xưa, trong những ngày hội này, nhân dân hai bên ven dòng sông Tích sẽ đổ xô ra lòng sông để bắt đủ 99 con cá to, khỏe để dâng lên Thánh. Ngày nay, đa số sẽ được thay thế bằng việc mua những con cá ở ngoài chợ để có sự thuận tiện hơn trong việc thực hiện các nghi lễ và phù hợp với thời gian nghỉ ngơi, làm việc của nhân dân. Sau khi lễ xong, cá sẽ được chia đều cho các làng để về thụ lộc. Hành động này không chỉ là việc tri ân công đức của Thánh mà còn thể hiện tinh thần đoàn kết, sự chia sẻ, đùm bọc lẫn nhau của nhân dân các làng trong việc thờ phụng Thánh Tản.

Như vậy, dù là hội chính hay hội lệ, hội mùa xuân hay mùa thu thì đều là những dịp để toàn thể nhân dân có cơ hội được nghỉ ngơi, quây quần bên gia đình và thực hiên các cuộc hành hương về với đất Tổ để mong cầu, lễ bái Thảnh Tản, nhằm khấn xin chư vị phù hộ độ trì cho công ăn việc làm được thuận buồm xuôi gió, ăn nên làm ra. Đồng thời, đây còn là dịp để chúng ta tri ân công đức của Thánh Tản đã giúp nhân dân khai sơn trị thủy, kéo vó đánh cá, tạo nên một vùng văn hóa mang đậm tính bản địa.

Ngày nay, tại các cơ quan ban ngành, phòng Văn Hóa địa phương cùng Ban quản lý di tích đã triển khai nhiều biện pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị bản sắc văn hóa địa phương theo đúng tinh thần của Luật Di sản Văn Hóa (2024). Đây được coi là một bước chuyển quan trọng, đánh dấu sự thay đổi từ tư duy "làm văn hóa" truyền thống sang "quản lý văn hóa", đồng thời chuyển từ "bảo tồn thụ động" sang một cách tiếp cận "bảo tồn chủ động, sáng tạo và phát triển bền vững". Điều này cũng đã cho thấy sự cụ thể hóa trong chủ trương của Đảng, Nhà nước về phát triển văn hóa: "Phát triển văn hoá, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Các giá trị văn hoá phải được gắn kết chặt chẽ, hài hoà, thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, từ chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường tới quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên mới." [1, tr.2]. Theo đó, một số phương pháp nổi bật như tăng cường tuyên truyền thông qua sách báo, các tiêu ngữ, biểu ngữ hoặc xuất bản sách trực tuyến kết hợp mã QR đã được triển khai. Nhờ đó, du khách có thể dễ dàng đọc và tìm hiểu về lịch sử hình thành, sự phát triển cùng những ý nghĩa sâu sắc của đền Và. Ngoài ra, các cơ quan ban ngành đã và đang tiếp tục tích cực triển khai các chủ trương nhằm giới thiệu văn hóa bản địa thông qua các chương trình giáo dục tại các trường học trên địa bàn phường. Các hoạt động như tổ chức các cuộc thi viết về những địa chỉ lịch sử quan trọng hay các chuyến đi thực tế khám phá miền di sản đang được đẩy mạnh và có tính hiệu quả cao trong việc truyền bá các giá trị di sản văn hóa tại địa phương.

Ngoài các biện pháp trên đã và đang được thực hiện, tác giả đề xuất một số phương thức nhằm góp phần bảo tồn và phát triển di sản văn hóa thờ phụng Thánh Tản như sau:

Thứ nhất, Ban quản lý di tích cần tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Phòng Văn Hóa của phường và các cơ sở giáo dục trên địa bàn để khai thác triệt để vai trò của thanh niên, thế hệ trẻ - nguồn lực to lớn có tác động lớn tới việc bảo tồn di sản văn hóa bằng những việc làm thiết thực như xây dựng các kênh truyền thông số như Facebook, Youtube,v.v... để thông báo, giới thiệu và cung cấp mọi thông tin chính thống, lịch lễ hội, đăng tải các sản phẩm sáng tạo của thanh niên, và là diễn đàn kết nối các nhà nghiên cứu, cộng đồng đến du khách về các hoạt động sắp tới của đền hoặc làm những video nhằm truyền tải thông điệp, ý nghĩa trong việc thờ phụng Thánh Tản tới mọi người. Bên cạnh đó, có thể tuyển tình nguyện viên hỗ trợ nhà đền trong việc giới thiệu di tích, tổ chức, phân phối các sự kiện và hướng dẫn du khách vào lễ sao cho đúng và phù hợp mà ngày nay, nhiều địa phương đã áp dụng như ở đền Mai Hoa, Tùng Lâm Hòa Phúc, v.v...

Thứ hai, Ban quản lý di tích có thể trang bị ti-vi để trình chiếu các video tái hiện về sự hình thành của đền Và, ý nghĩa các chi tiết kiến trúc cũng như các lễ hội lớn tại đây ở hai khu nhà Tả Mạc và Hữu Mạc. Việc này không chỉ tạo không gian cho du khách nghỉ ngơi trong khi chờ hạ lễ, mà còn giúp họ có cơ hội tìm hiểu sâu hơn về nguồn gốc của Thánh Tản và di tích đền Và.

Thứ ba, ngoài việc đẩy mạnh truyền thông, Ban quản lý cùng với các nhà trường nên vận động thế hệ trẻ Sơn Tây tích cực tham gia vào việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của đền bằng cách tổ chức những cuộc thi sáng tạo với nội dung gắn liền với ý nghĩa của đền như thiết kế Inforgraphic, xây dựng tiểu phẩm, viết blog về Hội Đả Ngư, hoặc tái hiện lại cảnh năm xưa Thánh Tản giúp nhân dân kéo vó đánh cá trên sông Tích. Đối với những sản phẩm tốt sẽ được đưa vào sử dụng nhằm quảng bá ý nghĩa của việc thờ phụng Thánh Tản đối với du khách thập phương.

Thứ tư, đối với tình trạng xả rác bừa bãi tại khu vực rừng Lim, nhà đền nên bố trí thêm thùng rác ở một số khu vực đường mòn có tỉ lệ du khách qua lại nhiều, đồng thời dựng bảng tuyên truyền giá trị của rừng Lim đền Và – nơi được vinh danh là cây di sản Việt Nam. Bên cạnh đó, tác giả đề xuất nên chuyển hai dãy nhà bán đồ lễ hai bên đường vào đền ra phía ngoài của cổng đền, tức là phía trước tấm bia Hạ Mã, một phần để du khách có thể chỉnh trang, sắm lễ đầy đủ trước khi vào lễ bái Thánh Tản, một phần đảm bảo không gian thiêng liêng của đền.

Trên đây chỉ là một số đề xuất của tác giả nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của không gian thờ phụng Thánh Tản tại đền Và. Việc thực hiện nhiệm vụ này không chỉ là trách nhiệm đơn lẻ của các bậc cao niên hay một cơ quan chức trách cụ thể nào mà cần sự chung tay, góp sức của toàn thể nhân dân Sơn Tây mà nòng cốt là thế hệ trẻ. Chỉ khi nào di sản được tiếp nhận và truyền tải bằng sự nhiệt huyết và khả năng sáng tạo của lớp trẻ kế cận, thì khi đó các giá trị truyền thống mới thực sự phát huy được những giá trị truyền thống lâu đời của dân tộc và tiếp tục lan tỏa, trường tồn cùng với không gian và thời gian.

Kết luận

Có thể nói, không gian văn hóa thờ phụng Thánh Tản tại Đền Và là một tổng thể di sản sống động, kết tinh các giá trị lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật và triết lý sâu sắc của người Việt vùng Xứ Đoài. Để bảo tồn và phát huy hiệu quả di sản này trước các thách thức của thời đại, cần một chiến lược tổng thể và chủ động. Chiến lược đó phải dựa trên sự kết hợp hài hòa giữa việc bảo vệ nguyên trạng di tích, duy trì các thực hành lễ hội truyền thống, ứng dụng sáng tạo các giải pháp công nghệ - giáo dục. Trong đó, vai trò của cộng đồng địa phương, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần được xác định là chủ thể then chốt. Chỉ khi không gian văn hóa được hiểu đúng, giữ gìn toàn vẹn và sống trong đời sống đương đại, giá trị cốt lõi của di sản mới thực sự trường tồn, góp phần nuôi dưỡng bản sắc và phát triển bền vững.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Đảng Cộng Sản Việt Nam (2019), Văn Kiện Đại Hội Đảng thời kỳ đổi mới, phần I – Đại hội VI, VII, VIII, IX, NXB Chính Trị Quốc Gia sự thật, Hà Nội. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2026), Nghị Quyết của Bộ Chính Trị về phát triển văn hóa Việt Nam, ngày 07/01/2026. Nguyễn Đổng Chi (1956), Lược khảo về thần thoại Việt Nam, NXB Văn Sử Địa. Nguyễn Xuân Diện (2017), Tản Viên Sơn Thánh – Di tích và lễ hội đền Và, NXB Thế Giới, Hà Nội. Cao Huy Đỉnh (1974), Tìm hiểu tiến trình văn hóa dân gian Việt Nam, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội. Nguyễn Thị Việt Hương (2015), Tục thờ nước của người Việt qua lễ hội ở Hà Nội và phụ cận, NXB Lao Động, Hà Nội. Đinh Gia Khánh (dịch) (1960), Việt điện u linh, NXB Văn Hóa Dân Tộc, Hà Nội. Đinh Gia Khánh – Nguyễn Ngọc San phiên dịch (2019), Lĩnh Nam Chích Quái, NXB Kim Đồng, Hà Nội. Vũ Ngọc Khánh – Ngô Đức Thịnh (1990), Tứ Bất Tử, NXB Văn Hóa Dân Tộc, Hà Nội. Trần Ngọc Thêm (1996), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.   

Nguyễn Tuấn Nam[1]

[1] Khoa Triết Học, Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội