TNV - Sáng 29/7 Hội Địa chất kinh tế Việt Nam, Liên minh Khoáng sản, Trung tâm Thiên nhiên và Con người cùng phối hợp tổ chức hội thảo “Quản lý đầu tư trong khai thác khoáng sản: Các bất cập và khuyến nghị”
Việt Nam là quốc gia có tiềm năng khoáng sản với hơn 5000 điểm mỏ và 60 loại khoáng sản khác nhau. Cả nước có khoảng trên 170 doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực khoáng sản. Tuy nhiên, tính hiệu quả của đầu tư nhà nước trong các dự án phát triển nói chung và khai thác khoáng sản nói riêng cần được đánh giá môt cách tổng thể và nghiêm túc. Tính đến hết năm tài chính 2014, theo báo cáo của chính phủ, tổng số nợ phải trả của cá tập đoàn, tổng công ty đã lên tới 1.567.000 tỉ đồng, tăng 8% so với năm 2013. Đặc biệt vay nước ngoài được chính phủ bảo lãnh cho doanh nghiệp nhà nước là 124.104 tỷ đồng, tăng khoảng 2000 tỉ. nợ doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng số vốn cả toàn bộ hệ thống các tổ chức tín dụng. Mặc dù nhà nước đã dành nhiều nỗ lực để tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước nhưng quá trình này vẫn diễn ra phức tạp.
“Khoáng sản tại Việt Nam đang được khai thác chưa hiệu quả, nhiều khoáng sản phụ có hàm lượng thấp hơn chưa được chú trọng khai thác dẫn đến lãng phí. Nhiều nguyên tố phụ trong khoáng sản của Việt Nam được nước ngoài thu mua lại với giá rất rẻ nhưng về khai thác lại có rất nhiều nguyên tố quý hiếm. Trong nhiều trường hợp chúng ta mới chỉ khai thác được khoảng 30-40% giá trị của khoáng sản như vậy gây lãng phí lớn. Đồng thời tình trạng xuất khẩu khoáng sản thô kéo dài đem lại hiệu quả kinh tế thấp. Hiện trạng xuất khẩu lậu sang Trung Quốc diễn ra nghiêm trọng; các vấn đề công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình chưa được thực hiện nghiêm túc.” - ông Lê Đăng Doanh, Nguyên viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương cho biết.
Bên cạnh đó thì Doanh nghiệp nhà nước được các tổ chức tín dụng ưu đãi rất nhiều trong việc huy động nguồn vốn cho các dự án khai thác khoáng sản. Tín dụng ưu tiên cho các doanh nghiệp nhà nước ¼ tổn tài sản của Ngân hàng Phát triển Việt Nam năm 2009. Các tổ chức ngân hàng có thể gián tiếp gây ra các hệ luỵ về môi trường và xã hội thông qua việc cho vay vốn các dự án phát triển đồng thời cũng gặp nhiều rủi ro lớn như dự án bị đình trệ và chủ dự án không có khả năng hoàn trả khoản vay, uy tín của ngân hàng và nhà tài trợ giảm sút trong lòng người dân.
Tại hội thảo, Ts. Lê Ái cũng nêu ý kiến: “Không có đủ cơ sở đánh giá hiệu quả đầu tư trong lĩnh vực khai khoáng vì phải đánh giá dựa trên hiệu qủa sử dụng tài nguyên và hiệu quả với kinh tế- xã hội. Khi quyết định đầu tư nếu trên thế giới các nước thường tính đến quy mô khoáng sản thì Việt Nam lại tính theo trữ lượng khoáng sản. Chúng ta đang bị nhầm lẫn giữa những con số dẫn đến hậu quả đầu tư theo đó cũng bị nhầm lẫn. Cần xem xét ngân sách đầu tư khai thác khoáng sản mà không phân biệt doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân là một điều cần thiết để giúp ngành khai khoáng phát triển hơn trong tương lai.”
Ông Nguyễn Thành Sơn cho rằng: “Bất cập lớn nhất trong lĩnh vực đầu tư khai thác khoáng sản là do chính sách còn hạn chế, việc ban hành không minh bạch, công khai các nghị quyết. Tiếp đến là việc quy hoạch khoáng sản do bộ xây dựng thực hiện rất nhiều nhưng chất lượng lại thấp. Việc tái đầu tư sản xuất mở rộng sản xuất không được chú ý và bị coi nhẹ, trách nhiệm của doanh nghiệp nhà nước với các ngành khai thác khoáng sản như than… xuống dốc.”
Rõ ràng trước những bất cập còn tồn đọng trên thì chính phủ, các ban ngành liên quan cần có hướng đi lâu dài, bền vững để ngành khai thác khoáng sản có thể đạt được hiệu quả cao, tránh tình trạng sử dụng lãng phí và gây ô nhiễm môi trường.
Hà Nhung