logo
ISSN 2734-9020

Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật trong quản lý nhà nước về phát triển đô thị tại phường trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Thứ bảy, 10/10/2026 - 17:48

Bài viết phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật trong quản lý nhà nước về phát triển đô thị tại các phường thuộc Thành phố Hồ Chí Minh sau khi sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp từ ngày 1/7/2025.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Trên cơ sở phân tích văn bản pháp luật, tổng hợp tài liệu nghiên cứu và đối chiếu các báo cáo, thông tin công khai, bài viết xây dựng khung phân tích gồm ba nhóm yếu tố: thể chế và phân định thẩm quyền; tổ chức bộ máy, năng lực và nguồn lực thực thi; dữ liệu, điều kiện kinh tế xã hội và sự tham gia của cộng đồng. Phân tích cho thấy, việc chuyển nhiệm vụ về cấp cơ sở mở ra khả năng rút ngắn quy trình và tăng tính chủ động, nhưng hiệu quả thực tế phụ thuộc vào mức độ rõ ràng của thẩm quyền, năng lực chuyên môn, tính liên thông của dữ liệu và cơ chế phối hợp. Bài viết đề xuất hoàn thiện hướng dẫn phân quyền, tổ chức nhân lực theo khối lượng công việc, thống nhất dữ liệu không gian đô thị và tăng cường công khai, giải trình, giám sát cộng đồng.

Từ khóa: thực hiện pháp luật; quản lý nhà nước; phát triển đô thị; chính quyền phường; Thành phố Hồ Chí Minh.

Abstract: This article examines factors affecting law implementation in state management of urban development at ward level in Ho Chi Minh City following the provincial-level administrative reorganization and the introduction of the two-tier local government model on 1 July 2025. Based on legal analysis, a review of published research and an examination of publicly available official information, the article develops a framework covering three groups of factors: legal institutions and allocation of authority; organizational capacity and implementation resources; and data infrastructure, socio-economic conditions and community participation. The analysis suggests that transferring responsibilities to the grassroots level may shorten administrative processes and strengthen local initiative, but actual performance depends on clear legal authority, professional capacity, interoperable data and effective inter-agency coordination. The article proposes clearer delegation rules, workload-based staffing, integrated urban spatial data and stronger transparency, accountability and community oversight.

Keywords: Law implementation; state management; urban development; ward government; Ho Chi Minh City.

1. Đặt vấn đề

Ngày 01/7/2025 đánh dấu sự thay đổi lớn trong tổ chức không gian hành chính và phương thức quản trị địa phương tại Thành phố Hồ Chí Minh. Theo Nghị quyết số 202/2025/QH15, Thành phố Hồ Chí Minh được hình thành trên cơ sở sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số của Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bình Dương và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Nghị quyết số 1685/NQ-UBTVQH15 về sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã đưa tổng số đơn vị hành chính cấp xã của thành phố mới lên 168, gồm 113 phường, 54 xã và một đặc khu. Những thay đổi này làm mở rộng đáng kể không gian quản lý, đồng thời đặt ra yêu cầu tổ chức lại nhân lực, dữ liệu, quy trình và quan hệ phối hợp giữa các cấp chính quyền (Quốc hội, 2025a; Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 2025).

Cùng thời điểm, Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 xác lập mô hình chính quyền địa phương hai cấp, gồm cấp tỉnh và cấp xã, chấm dứt tổ chức chính quyền địa phương cấp huyện. Đối với các phường, thay đổi không chỉ nằm ở việc chuyển đổi cơ cấu tổ chức. Một phần nhiệm vụ trước đây được thực hiện hoặc điều phối qua cấp quận, huyện nay phải được tổ chức lại trong quan hệ trực tiếp giữa cấp thành phố và cấp phường. Điều đó có thể tạo điều kiện giảm tầng nấc trung gian, rút ngắn quá trình xử lý công việc và tăng trách nhiệm của chính quyền gần dân; song cũng có thể làm gia tăng áp lực đối với cấp cơ sở nếu thẩm quyền, nhân lực, dữ liệu và quy trình chưa được điều chỉnh đồng bộ (Quốc hội, 2025b; Nguyễn Mạnh Cường & Nguyễn Hoàng Kim Tuyền, 2026).

Quản lý nhà nước về phát triển đô thị là lĩnh vực có tính liên ngành và gắn chặt với không gian địa lý. Quy hoạch, trật tự xây dựng, sử dụng đất, hạ tầng, môi trường và không gian công cộng thường liên quan đến nhiều cơ quan, nhiều loại hồ sơ và những lợi ích khác nhau. Một quyết định xử lý vi phạm chỉ có thể bảo đảm tính hợp pháp, khả thi nếu người thực thi xác định đúng thẩm quyền, căn cứ quy hoạch, tình trạng pháp lý của đất và công trình, đồng thời phối hợp được với cơ quan có dữ liệu chuyên ngành. Vì vậy, việc tổ chức lại chính quyền địa phương tác động đến thực hiện pháp luật không chỉ thông qua quy định về cơ cấu bộ máy mà còn thông qua điều kiện vận hành hằng ngày.

Bài viết tập trung trả lời câu hỏi: những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật trong quản lý nhà nước về phát triển đô thị tại các phường thuộc Thành phố Hồ Chí Minh, các yếu tố đó tác động qua cơ chế nào và cần có giải pháp gì để bảo đảm thẩm quyền được giao chuyển hóa thành kết quả thực thi? Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích pháp luật, tổng quan tài liệu thứ cấp và đối chiếu thông tin công khai. Bài viết không tiến hành khảo sát mới; do đó, các nhận định được giới hạn trong phạm vi nguồn đã công bố, không coi các dữ liệu báo chí đơn lẻ là đại diện thống kê cho toàn bộ các phường.

2. Cơ sở lý luận và khung phân tích

Theo lý luận chung về nhà nước và pháp luật, thực hiện pháp luật là quá trình đưa quy định pháp luật vào đời sống thông qua các hình thức tuân thủ, thi hành, sử dụng và áp dụng pháp luật. Trong quản lý nhà nước về phát triển đô thị, chính quyền phường chủ yếu tổ chức thi hành nhiệm vụ theo thẩm quyền được giao; đồng thời, trong những trường hợp luật định, cơ quan hoặc người có thẩm quyền tiến hành áp dụng pháp luật thông qua kiểm tra, lập hồ sơ, ban hành quyết định xử lý và yêu cầu khắc phục hậu quả. Người dân, doanh nghiệp và chủ đầu tư lại thực hiện pháp luật thông qua việc tuân thủ quy hoạch, quy định về đất đai, xây dựng, môi trường và các nghĩa vụ có liên quan. Việc phân biệt các hình thức này giúp tránh cách đánh giá giản đơn, trong đó mọi vi phạm đều được quy cho năng lực chính quyền hoặc chỉ được giải thích bằng ý thức chấp hành của người dân (Trường Đại học Luật Hà Nội, 2010).

Các nghiên cứu về thực thi chính sách cho thấy khoảng cách giữa mục tiêu pháp lý và kết quả thực tế thường hình thành trong quá trình phối hợp nhiều chủ thể. Pressman và Wildavsky (1973) nhấn mạnh tính phức tạp của hành động phối hợp; Sabatier và Mazmanian (1980) cho rằng hiệu quả thực thi phụ thuộc vào đặc điểm vấn đề, khả năng của văn bản trong việc cấu trúc quá trình thực hiện và các biến số ngoài pháp luật. Matland (1995) chỉ ra vai trò của mức độ mơ hồ và xung đột trong việc định hình phương thức thực thi. Hill và Hupe (2014) tiếp cận thực thi như quá trình quản trị qua nhiều tầng, còn Klijn, Koppenjan và Termeer (1995) nhấn mạnh năng lực điều phối mạng lưới. Lipsky (1980) lưu ý rằng công chức trực tiếp cung cấp dịch vụ thường phải xử lý nhu cầu vượt quá nguồn lực; trong điều kiện đó, cách ưu tiên công việc ở cấp thực thi có thể ảnh hưởng đáng kể đến kết quả chính sách.

Từ các gợi ý này, việc thực hiện pháp luật về phát triển đô thị tại phường có thể được phân tích theo ba nhóm yếu tố có liên hệ với nhau:

Thứ nhất là thể chế pháp lý và phân định thẩm quyền: Nhóm này bao gồm tính rõ ràng, thống nhất và khả thi của quy định; sự phân định nhiệm vụ giữa cấp thành phố và cấp phường; quy trình chuyển hồ sơ; trách nhiệm chủ trì, phối hợp và cơ chế kiểm tra, giám sát. Khi thẩm quyền chưa rõ hoặc các quy định chuyên ngành chưa tương thích với mô hình tổ chức mới, công chức có thể gặp khó khăn trong xác định căn cứ, kéo dài thời gian xử lý hoặc chuyển hồ sơ qua nhiều đầu mối. Ngược lại, phân quyền rõ ràng gắn với hướng dẫn nghiệp vụ và trách nhiệm giải trình có thể giảm sự phụ thuộc vào tầng nấc trung gian.

Thứ hai là tổ chức bộ máy, năng lực và nguồn lực thực thi: Việc chuyển nhiệm vụ về phường không tự động tạo ra năng lực để thực hiện nhiệm vụ đó. Năng lực phụ thuộc vào số lượng và cơ cấu công chức, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm địa bàn, khả năng sử dụng dữ liệu, điều kiện làm việc và cơ chế hỗ trợ từ cơ quan chuyên môn cấp thành phố. Nguồn lực cần được đánh giá theo khối lượng công việc thực tế, không chỉ theo số dân thường trú hoặc chỉ tiêu biên chế bình quân. Các phường trung tâm, khu công nghiệp, khu vực ven đô và địa bàn có biến động đất đai nhanh có thể có nhu cầu nhân lực khác nhau. Nghiên cứu về chính quyền cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng đặt ra vấn đề phân bổ nhân lực, áp lực thủ tục và mức độ sẵn sàng của bộ máy sau sắp xếp (Nguyễn Mạnh Cường & Nguyễn Hoàng Kim Tuyền, 2026; Nguyễn Bích Thủy, 2026).

Thứ ba là dữ liệu, điều kiện kinh tế xã hội và sự tham gia của cộng đồng: Quản lý đô thị phụ thuộc vào thông tin cập nhật về quy hoạch, địa chính, cấp phép xây dựng, hiện trạng công trình và phản ánh của người dân. Dữ liệu không đồng bộ làm tăng thời gian xác minh, gây khó khăn khi xác định ranh giới hoặc căn cứ xử lý. Bên cạnh đó, đặc điểm sinh kế, nhu cầu nhà ở, hoạt động kinh doanh và mức độ hiểu biết pháp luật ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ và khả năng phối hợp với chính quyền. Công khai thông tin, cơ chế tiếp nhận phản ánh và sự tham gia của cộng đồng có thể hỗ trợ phát hiện vi phạm sớm, nhưng chỉ phát huy hiệu quả khi phản ánh được xử lý minh bạch và có phản hồi.

Ba nhóm yếu tố không vận hành độc lập. Thẩm quyền rõ nhưng thiếu dữ liệu vẫn có thể khiến việc xử lý chậm; dữ liệu tốt nhưng nhân lực không đủ thì khó chuyển thông tin thành hành động; nguồn lực tương đối đầy đủ nhưng trách nhiệm phối hợp không rõ cũng có thể dẫn đến hồ sơ kéo dài. Vì thế, hiệu quả thực hiện pháp luật cần được xem xét như kết quả tương tác giữa thể chế, năng lực tổ chức và điều kiện xã hội, thay vì chỉ dựa vào một chỉ tiêu riêng lẻ.

3. Thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng

3.1. Thay đổi thể chế và phân định thẩm quyền

Việc vận hành chính quyền địa phương hai cấp từ ngày 01/7/2025 làm thay đổi tuyến tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý đô thị. Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 đặt cơ sở pháp lý cho mô hình mới; đồng thời, các quy định về quy hoạch đô thị và nông thôn, đất đai, nhà ở, xây dựng và xử lý vi phạm hành chính tiếp tục xác định các căn cứ chuyên ngành mà chính quyền phường phải áp dụng (Quốc hội, 2023; Quốc hội, 2024a, 2024b, 2025b). Vấn đề thực tiễn không chỉ là có quy định trao nhiệm vụ hay không, mà là các quy định chuyên ngành đã được rà soát, điều chỉnh và hướng dẫn đủ rõ để phù hợp với sự thay đổi về cấp chính quyền hay chưa.

Trong quản lý trật tự xây dựng, thành phố đã ban hành các chỉ đạo và kế hoạch nhằm xác định trách nhiệm của cơ quan, địa phương, trong đó có Chỉ thị số 23-CT/TU năm 2019 của Ban Thường vụ Thành ủy và Kế hoạch số 3333/KH-UBND năm 2019 của Ủy ban nhân dân Thành phố. Theo thông tin được công bố năm 2024, sau 5 năm thực hiện Chỉ thị số 23-CT/TU, thành phố ghi nhận 3.085 công trình vi phạm, bình quân khoảng 1,7 vụ mỗi ngày, giảm so với mức được báo cáo trước khi triển khai chỉ thị (Báo Sài Gòn Giải Phóng, 2024). Dữ liệu này cho thấy chỉ đạo thống nhất và xác định trách nhiệm có thể hỗ trợ kiểm soát vi phạm, nhưng không nên được hiểu là vi phạm đã được loại bỏ hoặc kết quả đó chỉ do một biện pháp đơn lẻ tạo ra.

Thời điểm tháng 01/2025 cho biết qua 6.191 lượt kiểm tra, cơ quan thanh tra xây dựng phát hiện 36 trường hợp vi phạm trật tự xây dựng, trong đó có các trường hợp xây dựng sai phép, không phép và vi phạm khác (Báo Sài Gòn Giải Phóng, 2025c). Đây là số liệu theo thời điểm và phạm vi kiểm tra được bài báo phản ánh, không phải tỷ lệ vi phạm của toàn thành phố. Giá trị phân tích của dữ liệu nằm ở chỗ nó cho thấy hoạt động kiểm tra vẫn cần được duy trì ngay cả khi có những kết quả giảm vi phạm trong giai đoạn trước.

Sau khi cấp huyện kết thúc hoạt động, thành phố phải xác định lại cơ chế theo dõi, kiểm tra và xử lý vi phạm tại cấp xã. Quyết định số 25/2025/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về phân cấp quản lý trật tự xây dựng được báo chí phản ánh là giao cho UBND cấp xã nhiều trách nhiệm trực tiếp hơn, bao gồm theo dõi, kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi phạm thuộc phạm vi được phân cấp (Báo Tuổi Trẻ, 2025; Báo Xây dựng, 2025). Khi nhiệm vụ mới được chuyển về phường, chính quyền cơ sở phải giải quyết cả vi phạm phát sinh sau thời điểm chuyển đổi lẫn hồ sơ tồn đọng từ giai đoạn trước. Đây là một yêu cầu chuyển tiếp có thể tạo áp lực đáng kể nếu không có quy trình bàn giao hồ sơ, dữ liệu và trách nhiệm rõ ràng.

Cần nhìn nhận thẩm quyền xử phạt trong tương quan với năng lực thực hiện. Các sửa đổi pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 189/2025/NĐ-CP đã điều chỉnh thẩm quyền xử phạt của người có thẩm quyền ở cấp xã. Tuy nhiên, không nên diễn giải rằng quyền xử phạt được mở rộng đồng nghĩa với mọi vụ việc đều có thể được giải quyết tại phường. Thẩm quyền cụ thể còn phụ thuộc vào loại hành vi, mức phạt, biện pháp khắc phục hậu quả và các điều kiện luật định. Với vụ việc vượt thẩm quyền hoặc cần phối hợp chuyên môn, cơ chế chuyển hồ sơ và theo dõi kết quả vẫn giữ vai trò quan trọng (Chính phủ, 2025; Quốc hội, 2025c).

Một vấn đề khác là sự chuyển tiếp giữa các hệ thống quy hoạch. Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn số 47/2024/QH15 có hiệu lực từ ngày 1/7/2025, trong khi không gian thành phố mới được hình thành từ ba địa phương có lịch sử lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch khác nhau (Quốc hội, 2024b). Báo chí chuyên ngành đã phản ánh yêu cầu rà soát, điều chỉnh các đồ án và tổ chức triển khai quy hoạch sau sắp xếp (Báo Đại biểu Nhân dân, 2026). Trong giai đoạn chuyển tiếp, cán bộ phường cần xác định đúng đồ án đang có hiệu lực tại địa bàn cụ thể, thay vì giả định rằng việc hợp nhất địa giới đã làm cho các hệ thống quy hoạch tự động thống nhất. Vì vậy, công bố danh mục quy hoạch áp dụng theo từng địa bàn và bảo đảm khả năng tra cứu thống nhất là yêu cầu thiết thực.

3.2. Năng lực tổ chức, nhân lực và điều kiện bảo đảm

Sắp xếp bộ máy tạo cơ hội tổ chức lại nguồn lực theo hướng tinh gọn, nhưng cũng làm phát sinh yêu cầu bố trí công chức phù hợp với nhiệm vụ mới. Tại một đô thị có sự khác biệt lớn giữa khu vực lõi đô thị, khu công nghiệp, vùng ven và địa bàn ven biển, chỉ tiêu nhân lực bình quân khó phản ánh đầy đủ khối lượng công việc. Số hồ sơ đất đai, mật độ công trình xây dựng, tốc độ biến động dân cư, diện tích địa bàn và tính phức tạp của tranh chấp là những yếu tố cần được xem xét khi xác định nhu cầu nhân lực.

Các nghiên cứu đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành về tổ chức và vận hành chính quyền địa phương hai cấp tại Thành phố Hồ Chí Minh ghi nhận cả những kết quả bước đầu lẫn thách thức về phân bổ nhân lực, khối lượng công việc, cơ chế phân cấp và khả năng điều hành ở cấp cơ sở (Nguyễn Mạnh Cường & Nguyễn Hoàng Kim Tuyền, 2026; Nguyễn Bích Thủy, 2026; Nguyễn Trương Tấn Lộc, 2026). Những nghiên cứu này cung cấp căn cứ để đặt vấn đề về sự phù hợp giữa nhiệm vụ và điều kiện thực thi, nhưng không thay thế dữ liệu chuyên biệt về từng phường. Do đó, khi đánh giá một địa bàn cụ thể, cần có số liệu về biên chế thực tế, vị trí việc làm, hồ sơ phát sinh, thời gian giải quyết và phạm vi nhiệm vụ được giao.

Một số thông tin báo chí năm 2026 phản ánh việc thành phố tăng cường công chức chuyên môn hỗ trợ địa bàn và thành lập các tổ công tác nhằm xử lý những khó khăn về trật tự xây dựng, đất đai. Những biện pháp này có thể giúp bổ sung năng lực trong giai đoạn đầu, nhưng nếu chỉ dựa vào biệt phái hoặc tổ công tác ngắn hạn thì khó thay thế cho cơ chế nhân lực ổn định. Để đánh giá chính xác hiệu quả của các biện pháp, cần phân biệt số người được điều động, thời gian hỗ trợ, nhiệm vụ cụ thể và kết quả xử lý thực tế; không nên chỉ căn cứ vào số lượng nhân sự được bố trí mà kết luận chất lượng thực thi đã được cải thiện.

Năng lực thực thi còn phụ thuộc vào tính chuyên môn hóa. Quản lý trật tự xây dựng đòi hỏi khả năng đọc bản vẽ, xác định hiện trạng, kiểm tra giấy phép, đối chiếu quy hoạch và lập hồ sơ theo đúng trình tự. Quản lý đất đai đòi hỏi tiếp cận hồ sơ địa chính, xác minh nguồn gốc và ranh giới thửa đất. Khi công chức phải xử lý nhiều nhóm nhiệm vụ cùng lúc, thiếu hỗ trợ nghiệp vụ hoặc thiếu quy trình chuẩn, nguy cơ sai sót có thể tăng lên. Đây là vấn đề về tổ chức công việc và chất lượng nguồn lực, không thể giải quyết chỉ bằng việc tăng số lượng công chức mà không tính đến cơ cấu vị trí việc làm.

3.3. Dữ liệu số, phối hợp liên cơ quan và điều kiện kinh tế - xã hội

Dữ liệu là điều kiện quan trọng để chuyển thẩm quyền pháp lý thành hành động cụ thể. Trong quản lý đô thị, hồ sơ địa chính, dữ liệu quy hoạch, thông tin cấp phép xây dựng và hiện trạng công trình cần có khả năng đối chiếu với nhau. Nếu mỗi địa phương trước sắp xếp sử dụng cấu trúc dữ liệu, mã hóa hoặc quy trình lưu trữ khác nhau, việc tích hợp không thể chỉ được thực hiện bằng cách chuyển tệp dữ liệu từ hệ thống này sang hệ thống khác. Cần kiểm tra tính đầy đủ, chất lượng, khả năng định vị, lịch sử chỉnh lý và cơ sở pháp lý của từng lớp dữ liệu.

Các thông tin được báo chí kinh tế phản ánh về công tác thống kê đất đai sau sắp xếp cho thấy việc chuẩn hóa hồ sơ, dữ liệu và phương thức quản lý giữa các địa bàn cũ là vấn đề cần được tiếp tục rà soát (VnEconomy, 2026). Tuy nhiên, khi chưa có báo cáo kỹ thuật đầy đủ, không nên khẳng định toàn bộ dữ liệu đất đai của thành phố đều không đồng bộ. Nhận định phù hợp hơn là mức độ liên thông cần được đánh giá theo từng hệ thống và địa bàn, trên cơ sở các tiêu chí như khả năng tra cứu, cập nhật, đối chiếu và chia sẻ dữ liệu.

Thiếu dữ liệu thống nhất có thể làm tăng chi phí thực thi theo nhiều cách. Công chức phải tìm kiếm hồ sơ từ nhiều nguồn; thời gian xác minh căn cứ quy hoạch kéo dài; việc xác định ranh giới công trình hoặc thửa đất có thể cần thêm xác nhận; và việc phối hợp giữa phường với cơ quan chuyên môn cấp thành phố có thể phụ thuộc nhiều vào văn bản trao đổi thủ công. Các tình huống này không tự động chứng minh đã xảy ra sai phạm trong xử lý, nhưng cho thấy vì sao hạ tầng dữ liệu và quy trình phối hợp là một phần của năng lực thực thi pháp luật.

Ở khía cạnh phối hợp, mô hình hai cấp làm tăng vai trò của quan hệ trực tiếp giữa cấp thành phố và cấp phường. Nếu thiếu đầu mối chịu trách nhiệm hoặc thời hạn xử lý hồ sơ liên cơ quan, việc bỏ cấp huyện có thể làm giảm một tầng trung gian nhưng không nhất thiết làm giảm tổng thời gian giải quyết công việc. Kinh nghiệm nghiên cứu về quản trị mạng lưới cho thấy hiệu quả phối hợp phụ thuộc vào khả năng xác định vai trò, chia sẻ thông tin và giải quyết bất đồng giữa các tổ chức (Klijn et al., 1995). Vì vậy, cơ chế phối hợp cần được thiết kế theo từng loại việc, xác định cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, thời hạn phản hồi, trách nhiệm cập nhật tiến độ và cơ chế xử lý trường hợp quá hạn.

Điều kiện kinh tế - xã hội cũng ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật. Thành phố có sự đa dạng về chức năng không gian, từ khu vực trung tâm có mật độ xây dựng cao đến khu công nghiệp, vùng ven và khu vực ven biển. Ở những địa bàn có áp lực chuyển đổi đất đai, chênh lệch giá trị sử dụng đất có thể tạo động cơ xây dựng hoặc chuyển mục đích trái phép. Ở những khu vực tập trung đông lao động nhập cư, nhu cầu nhà ở giá phù hợp và hoạt động cho thuê phòng trọ có thể làm phát sinh các yêu cầu đồng thời về an toàn, trật tự xây dựng và bảo đảm điều kiện sinh sống. Những yếu tố này cần được phân tích theo địa bàn, không nên quy mọi hành vi vi phạm cho khó khăn sinh kế hoặc mặc nhiên coi mọi trường hợp vi phạm đều có cùng động cơ.

Sự tham gia của người dân là nguồn thông tin quan trọng trong phát hiện thay đổi hiện trạng đô thị. Việc công khai quy hoạch, hướng dẫn thủ tục, công bố đầu mối tiếp nhận phản ánh và thông báo kết quả xử lý có thể hỗ trợ người dân giám sát việc thực hiện pháp luật. Tuy nhiên, sự tham gia chỉ có ý nghĩa khi cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận, phân loại, kiểm tra và phản hồi. Nếu phản ánh không được xử lý hoặc người phản ánh không biết kết quả, niềm tin vào cơ chế giám sát có thể suy giảm. Do đó, chính quyền phường cần coi phản ánh của cộng đồng là một phần của quy trình quản lý, đồng thời bảo đảm thông tin cá nhân và quyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên quan.

Từ các nhóm vấn đề trên, có thể rút ra ba nhận định: Một là, sau khi nhiệm vụ được chuyển giao và thẩm quyền ở cấp cơ sở được điều chỉnh, trọng tâm không còn chỉ là câu hỏi phường có quyền xử lý hay không, mà là phường có đủ thông tin, nhân lực, hướng dẫn và cơ chế phối hợp để sử dụng thẩm quyền đúng pháp luật hay không. Hai là, năng lực thực thi cần được hiểu theo nghĩa tổng hợp, bao gồm tổ chức nhân sự, chuyên môn, dữ liệu, quy trình và trách nhiệm giải trình. Ba là, điều kiện xã hội và sự tham gia của người dân có thể làm thay đổi chi phí, tốc độ và tính bền vững của việc thực hiện pháp luật.

Các nhận định này phù hợp với cách tiếp cận thực thi chính sách của Sabatier và Mazmanian (1980), theo đó quy định pháp luật là điều kiện quan trọng nhưng không phải điều kiện duy nhất quyết định kết quả. Đồng thời, luận điểm của Lipsky (1980) gợi ý rằng áp lực công việc và nguồn lực hạn chế có thể ảnh hưởng đến cách công chức ưu tiên xử lý vụ việc.

4. Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật

Một là, tiếp tục hoàn thiện phân định thẩm quyền và cơ chế phối hợp

Thành phố cần rà soát các quy định, quyết định phân cấp trong quản lý quy hoạch, trật tự xây dựng, đất đai và hạ tầng, bảo đảm mỗi loại nhiệm vụ có chủ thể chủ trì, chủ thể phối hợp và quy trình chuyển hồ sơ rõ ràng. Đối với vụ việc vượt thẩm quyền, cần quy định đầu mối tiếp nhận, thời hạn chuyển và phản hồi, trách nhiệm theo dõi cho đến khi có kết quả cuối cùng. Việc phân quyền cần đi kèm hướng dẫn nghiệp vụ và cơ chế kiểm tra, tránh tình trạng giao thêm nhiệm vụ nhưng không xác định rõ điều kiện thực hiện.

Hai là, bố trí nhân lực theo khối lượng và tính chất công việc

Không nên sử dụng một định mức biên chế đồng nhất cho các phường có điều kiện địa lý, dân số và áp lực quản lý khác nhau. Thành phố có thể xây dựng bộ tiêu chí định kỳ gồm dân số thực tế phục vụ, số hồ sơ phát sinh, số công trình đang xây dựng, diện tích địa bàn, tốc độ biến động đất đai, số vụ việc cần kiểm tra và mức độ phức tạp chuyên môn. Trên cơ sở đó, bố trí nhân lực theo vị trí việc làm, tăng cường đào tạo thực hành và duy trì cơ chế hỗ trợ chuyên môn từ cơ quan cấp thành phố. Việc biệt phái hoặc tổ công tác nên có mục tiêu, thời hạn, sản phẩm và cơ chế bàn giao rõ ràng, tránh phụ thuộc kéo dài vào giải pháp tình thế.

Ba là, xây dựng hạ tầng dữ liệu không gian đô thị thống nhất

Thành phố cần ưu tiên chuẩn hóa mã địa bàn, mã thửa đất, cấu trúc dữ liệu quy hoạch, thông tin cấp phép và hồ sơ xử lý vi phạm. Hệ thống dữ liệu dùng chung phải cho phép công chức phường truy cập theo phân quyền, tra cứu nguồn pháp lý và xác định phiên bản dữ liệu đang có hiệu lực. Hồ sơ kiểm tra hiện trường có thể được số hóa gắn với thời gian, vị trí và tài liệu hình ảnh, nhưng mọi quyết định xử lý vẫn phải dựa trên việc xác minh của người có thẩm quyền. Công nghệ viễn thám hoặc trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ phát hiện dấu hiệu thay đổi hiện trạng, song cảnh báo tự động không được thay thế việc kiểm tra thực địa và trình tự pháp lý.

Bốn là, tăng cường công khai, minh bạch và sự tham gia của cộng đồng

Chính quyền phường cần công khai các thông tin quy hoạch và thủ tục thuộc diện phải công bố; cung cấp đầu mối phản ánh dễ tiếp cận; theo dõi tiến độ xử lý và phản hồi cho người dân. Dữ liệu phản ánh cần được phân loại theo lĩnh vực, mức độ khẩn cấp và cơ quan có thẩm quyền, đồng thời bảo vệ thông tin cá nhân. Hội đồng nhân dân phường, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức có liên quan cần có điều kiện tiếp cận thông tin phù hợp để thực hiện giám sát theo chức năng. Đối với vi phạm liên quan đến nhu cầu sinh kế hoặc nhà ở, việc xem xét hoàn cảnh có thể giúp lựa chọn phương thức tuyên truyền, hướng dẫn và hỗ trợ tuân thủ phù hợp, nhưng không được biến khó khăn kinh tế thành căn cứ hợp thức hóa hành vi trái pháp luật.

Năm là, đánh giá kết quả bằng chỉ tiêu phản ánh chất lượng thực thi thay vì chỉ đếm số vụ xử phạt

Có thể theo dõi thời gian xử lý hồ sơ, tỷ lệ hồ sơ phải bổ sung, số vụ việc chuyển cơ quan khác, thời gian phản hồi giữa các cơ quan, tỷ lệ khắc phục hậu quả đúng hạn, mức độ công khai kết quả và tỷ lệ phản ánh được trả lời. Các chỉ tiêu phải có định nghĩa, nguồn dữ liệu và phương pháp tính thống nhất. So sánh trước và sau sắp xếp chỉ có ý nghĩa khi phạm vi địa bàn, loại hồ sơ và cách tính tương thích. Nếu không đáp ứng điều kiện này, số liệu cần được dùng để mô tả chứ không làm căn cứ khẳng định quan hệ nhân quả.

Cuối cùng, cần duy trì cơ chế rà soát định kỳ giữa quy định pháp luật và thực tiễn thi hành

Các phường nên tổng hợp những vướng mắc lặp lại, phân biệt vướng mắc do quy định chưa rõ với vướng mắc do thiếu nhân lực, dữ liệu hoặc hướng dẫn. Cơ quan cấp thành phố cần sử dụng thông tin đó để điều chỉnh quy trình, ban hành hướng dẫn hoặc kiến nghị sửa đổi quy định ở cấp có thẩm quyền. Cách tiếp cận này giúp đưa phản hồi từ cấp thực thi trở lại quá trình hoàn thiện thể chế, qua đó hạn chế khoảng cách giữa quy định pháp luật và khả năng thực hiện trên thực tế.

5. Kết luận

Việc sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã làm thay đổi đáng kể điều kiện tổ chức thực hiện pháp luật trong quản lý nhà nước về phát triển đô thị tại các phường thuộc Thành phố Hồ Chí Minh. Thay đổi này mở ra khả năng rút ngắn tuyến xử lý, tăng tính chủ động và nâng cao trách nhiệm của chính quyền cơ sở, nhưng không tự động bảo đảm hiệu quả. Kết quả thực thi phụ thuộc vào sự đồng bộ giữa quy định pháp luật, phân định thẩm quyền, tổ chức nhân lực, điều kiện dữ liệu và cơ chế phối hợp.

Bài viết xác định ba nhóm yếu tố có quan hệ tương tác: thể chế và thẩm quyền; năng lực tổ chức và nguồn lực; dữ liệu, điều kiện kinh tế xã hội và sự tham gia của cộng đồng. Từ đó, bài viết đề xuất hoàn thiện quy trình phân cấp và chuyển hồ sơ, bố trí nhân lực theo khối lượng công việc, xây dựng dữ liệu không gian dùng chung, tăng cường minh bạch và thiết lập hệ thống chỉ tiêu đánh giá chất lượng thực thi.

Tài liệu tham khảo

Ban Thường vụ Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh. (2019). Chỉ thị số 23-CT/TU ngày 25 tháng 7 năm 2019 về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về trật tự xây dựng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

Báo Đại biểu Nhân dân. (2026). TP. Hồ Chí Minh triển khai thực hiện đồ án quy hoạch chung đô thị đến năm 2040 vào thực tiễn. https://daibieunhandan.vn/tp-ho-chi-minh-trien-khai-thuc-hien-do-an-quy-hoach-chung-do-thi-den-nam-2040-vao-thuc-tien-10411363.html, truy cập ngày 10/10/2026.

Báo Sài Gòn Giải Phóng. (2024). Chủ tịch HĐND TPHCM Nguyễn Thị Lệ: Làm rõ trách nhiệm để xảy ra vi phạm trật tự xây dựng. https://www.sggp.org.vn/chu-tich-hdnd-tphcm-nguyen-thi-le-lam-ro-trach-nhiem-de-xay-ra-vi-pham-trat-tu-xay-dung-post763254.html, truy cập ngày 10/10/2026.

Báo Sài Gòn Giải Phóng. (2025a). Gỡ khó nhân sự cho cơ sở. https://www.sggp.org.vn/go-kho-nhan-su-cho-co-so-post825093.html, truy cập ngày 10/10/2026.

Báo Sài Gòn Giải Phóng. (2025b). Tháng 1-2025, TPHCM có 36 công trình xây dựng vi phạm. https://www.sggp.org.vn/thang-1-2025-tphcm-co-36-cong-trinh-xay-dung-vi-pham-post779266.html, truy cập ngày 10/10/2026.

Báo Tuổi Trẻ. (2025). TP.HCM phân cấp cho các đơn vị, UBND cấp xã xử lý xây dựng không phép, sai phép. https://tuoitre.vn/tp-hcm-phan-cap-cho-cac-don-vi-ubnd-cap-xa-xu-ly-xay-dung-khong-phep-sai-phep-20251110115657616.htm, truy cập ngày 10/10/2026.

Báo Xây dựng. (2025). TP.HCM phân cấp quản lý trật tự xây dựng: Nâng cao hiệu quả giám sát, giảm thiểu vi phạm. https://baoxaydung.vn/tphcm-phan-cap-quan-ly-trat-tu-xay-dung-nang-cao-hieu-qua-giam-sat-giam-thieu-vi-pham-19225121415065352.htm, truy cập ngày 10/10/2026.

Chính phủ. (2025). Nghị định số 189/2025/NĐ-CP ngày 1 tháng 7 năm 2025 quy định chi tiết Luật Xử lý vi phạm hành chính về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.

Hill, M., & Hupe, P. (2014). Implementing public policy: An introduction to the study of operational governance (3rd ed.). SAGE.

Klijn, E. H., Koppenjan, J., & Termeer, K. (1995). Managing networks in the public sector: A theoretical study of management strategies in policy networks. Public Administration, 73(3), 437–454. https://doi.org/10.1111/j.1467-9299.1995.tb00837.x

Lipsky, M. (1980). Street-level bureaucracy: Dilemmas of the individual in public services. Russell Sage Foundation.

Matland, R. E. (1995). Synthesizing the implementation literature: The ambiguity-conflict model of policy implementation. Journal of Public Administration Research and Theory, 5(2), 145–174.

Nguyễn, B. T. (2026). Tổ chức chính quyền đô thị trong điều kiện đẩy mạnh phân cấp gắn với thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp tại TP. Hồ Chí Minh. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/06/09/to-chuc-chinh-quyen-do-thi-trong-dieu-kien-day-manh-phan-cap-gan-voi-thuc-hien-mo-hinh-chinh-quyen-dia-phuong-hai-cap-tai-tp-ho-chi-minh/, truy cập ngày 10/10/2026.

Nguyễn, M. C., & Nguyễn, H. K. T. (2026). Đổi mới hoạt động điều hành của chính quyền cơ sở ở TP. Hồ Chí Minh khi triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/02/05/doi-moi-hoat-dong-dieu-hanh-cua-chinh-quyen-co-so-o-tp-ho-chi-minh-khi-trien-khai-mo-hinh-chinh-quyen-dia-phuong-hai-cap/, truy cập ngày 10/10/2026.

Nguyễn, T. T. L. (2026). Phát triển nguồn nhân lực khu vực công trong mô hình chính quyền hai cấp tại TP. Hồ Chí Minh. Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/06/24/phat-trien-nguon-nhan-luc-khu-vuc-cong-trong-mo-hinh-chinh-quyen-hai-cap-tai-tp-ho-chi-minh/, truy cập ngày 10/10/2026.

Pressman, J. L., & Wildavsky, A. (1973). Implementation: How great expectations in Washington are dashed in Oakland. University of California Press.

Quốc hội. (2023). Luật Nhà ở số 27/2023/QH15.

Quốc hội. (2024a). Luật Đất đai số 31/2024/QH15.

Quốc hội. (2024b). Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn số 47/2024/QH15.

Quốc hội. (2025a). Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12 tháng 6 năm 2025 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh.

Quốc hội. (2025b). Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15.

Quốc hội. (2025c). Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Sabatier, P. A., & Mazmanian, D. A. (1980). The implementation of public policy: A framework of analysis. Policy Studies Journal, 8(4), 538–560.

Trường Đại học Luật Hà Nội. (2010). Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật. NXB Công an nhân dân.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội. (2025). Nghị quyết số 1685/NQ-UBTVQH15 về sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của Thành phố Hồ Chí Minh năm 2025.

Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. (2019). Kế hoạch số 3333/KH-UBND ngày 12 tháng 8 năm 2019 triển khai Chỉ thị số 23-CT/TU.

ThS. Nguyễn Ngọc Bảo Duy

Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị, UBND phường An Hội Đông, TP. Hồ Chí Minh