logo
ISSN 2734-9020

Cơ chế chuyển hóa nhân tố chính trị - tinh thần thành chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Bộ đội thông tin liên lạc trong tình hình mới

Thứ sáu, 28/08/2026 - 00:12

Nhân tố chính trị - tinh thần là nền tảng tạo nên chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên, nhân tố đó không tự động trở thành sức mạnh vật chất, mà phải được chuyển hóa thông qua hoạt động có mục đích, có tổ chức của các chủ thể và sự tự giác của mỗi quân nhân. Trên cơ sở tiếp cận hệ thống - hoạt động, bài viết làm rõ quan niệm, cấu trúc và quá trình vận hành của cơ chế chuyển hóa nhân tố chính trị - tinh thần thành chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Bộ đội Thông tin liên lạc; chỉ ra những điều kiện bảo đảm để quá trình chuyển hóa diễn ra đúng hướng, liên tục và hiệu quả.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung căn cứ lý luận cho việc xác định tiêu chí đánh giá, tổ chức hoạt động thực tiễn và đề xuất giải pháp phát huy nhân tố chính trị - tinh thần của Bộ đội Thông tin liên lạc trong tình hình mới.

Từ khóa: nhân tố chính trị - tinh thần; cơ chế chuyển hóa; sức mạnh chiến đấu; Bộ đội Thông tin liên lạc.

1. Đặt vấn đề

Trong mọi cuộc chiến tranh, sức mạnh quân sự luôn là sự thống nhất giữa yếu tố vật chất và yếu tố chính trị - tinh thần. V.I. Lênin khẳng định: "Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường" [1, tr.147]. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhất quán quan điểm "Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc" [3, tr.217]. Thực tiễn xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam chứng minh rằng đường lối chính trị đúng đắn, sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, mục tiêu chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, cùng ý chí quyết chiến, quyết thắng của cán bộ, chiến sĩ là nguồn gốc sâu xa tạo nên sức mạnh chiến đấu.

Đối với Bộ đội Thông tin liên lạc, nhân tố chính trị - tinh thần có ý nghĩa đặc biệt. Bộ đội Thông tin liên lạc trực tiếp bảo đảm "mạch máu" thông tin phục vụ lãnh đạo, chỉ huy; tổ chức, lực lượng phân bố rộng, nhiều bộ phận hoạt động độc lập, phân tán, thường xuyên tiếp xúc với thông tin cơ mật; nhiệm vụ đòi hỏi cường độ cao, tính chính xác, bí mật và an toàn nghiêm ngặt. Sự phát triển của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, tác chiến điện tử và tác chiến không gian mạng vừa tạo điều kiện hiện đại hóa hệ thống, vừa làm tăng áp lực tâm lý, trí tuệ và trách nhiệm đối với người quân nhân thông tin trong quá trình xây dựng Quân đội hiện đại và phát triển hệ thống thông tin liên lạc quân sự [4; 5]. Trong điều kiện đó, một sai sót nhỏ về nhận thức, ý chí, kỷ luật hoặc thao tác có thể ảnh hưởng đến cả hệ thống chỉ huy.

Các công trình nghiên cứu hiện nay đã khẳng định khá rõ vị trí, vai trò và những thành tố cơ bản của nhân tố chính trị - tinh thần; đồng thời đề xuất nhiều giải pháp về lãnh đạo, giáo dục, xây dựng môi trường và chính sách [6; 7; 8; 9]. Tuy nhiên, một vấn đề cần tiếp tục làm sâu sắc là: bằng cơ chế nào những yếu tố thuộc đời sống tinh thần như tri thức, tư tưởng, tình cảm, niềm tin, ý chí và trách nhiệm được chuyển thành hành động quân sự có kỷ luật, năng lực làm chủ trang bị, sức mạnh phối hợp và kết quả hoàn thành nhiệm vụ? Làm rõ vấn đề này giúp khắc phục cách tiếp cận dừng ở khẳng định vai trò hoặc coi kết quả giáo dục nhận thức đồng nhất với kết quả phát huy nhân tố chính trị - tinh thần.

2. Quan niệm và cấu trúc của cơ chế chuyển hóa

2.1. Quan niệm về chuyển hóa nhân tố chính trị - tinh thần

Nhân tố chính trị - tinh thần của Bộ đội Thông tin liên lạc là tổng hợp những yếu tố thuộc ý thức chính trị và trạng thái tinh thần của cán bộ, chiến sĩ, được biểu hiện tập trung ở tri thức, tư tưởng, bản lĩnh, tình cảm, niềm tin, ý chí chính trị và ý thức trách nhiệm; phản ánh sự giác ngộ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, sự gắn bó với Quân đội, đơn vị, ngành nghề và quyết tâm thực hiện chức trách, nhiệm vụ. Đây là nguồn lực nội sinh đặc biệt, nhưng về trạng thái ban đầu mới là khả năng, động lực tinh thần tiềm tàng trong mỗi cá nhân và tập thể.

Chuyển hóa nhân tố chính trị - tinh thần là quá trình biến khả năng tinh thần đó thành động cơ, quyết tâm, hành vi có tổ chức và kết quả hoạt động thực tiễn. Vì vậy, không thể đồng nhất việc quân nhân "biết" nội dung chính trị với việc họ đã có bản lĩnh và năng lực hành động tương ứng; cũng không thể chỉ căn cứ vào thái độ thể hiện trong điều kiện bình thường để kết luận về ý chí, trách nhiệm khi thực hiện nhiệm vụ khó khăn, nguy hiểm. Sự chuyển hóa chỉ được xác nhận khi những giá trị chính trị - tinh thần chi phối ổn định việc lựa chọn mục tiêu, cách ứng xử, khả năng khắc phục khó khăn và kết quả hoàn thành nhiệm vụ.

Từ đó, có thể quan niệm: Cơ chế chuyển hóa nhân tố chính trị - tinh thần thành chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Bộ đội Thông tin liên lạc là tổng thể các mối quan hệ, phương thức và điều kiện tác động làm cho tri thức, tư tưởng, bản lĩnh, tình cảm, niềm tin, ý chí chính trị và ý thức trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ được hiện thực hóa thành động cơ đúng đắn, hành vi có kỷ luật, năng lực làm chủ trang bị, khả năng hiệp đồng và kết quả bảo đảm thông tin liên lạc kịp thời, chính xác, bí mật, an toàn trong mọi tình huống.

Quan niệm trên nhấn mạnh ba điểm. Thứ nhất, chuyển hóa là một quá trình, không phải sự biến đổi tức thời. Thứ hai, quá trình đó diễn ra thông qua hoạt động thực tiễn và các quan hệ tổ chức, không chỉ thông qua tác động nhận thức. Thứ ba, kết quả chuyển hóa phải được đánh giá bằng cả sự phát triển phẩm chất bên trong và hiệu quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ.

2.2. Các bộ phận cấu thành cơ chế

Cơ chế chuyển hóa gồm các bộ phận có quan hệ chặt chẽ với nhau.

Một là, chủ thể định hướng và tổ chức chuyển hóa, bao gồm cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, chính ủy, chính trị viên, cơ quan chính trị, cơ quan tham mưu, hậu cần, kỹ thuật và các tổ chức quần chúng. Cấp ủy, tổ chức đảng xác định định hướng chính trị, mục tiêu và chủ trương; người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên cụ thể hóa thành nhiệm vụ, kế hoạch, chế độ; cơ quan chức năng hướng dẫn, phối hợp và kiểm tra; các tổ chức quần chúng tạo môi trường hành động. Nếu hoạt động của các chủ thể thiếu thống nhất, những tác động giáo dục và tổ chức dễ bị phân tán, thậm chí triệt tiêu lẫn nhau.

Hai là, cán bộ, chiến sĩ thông tin vừa là đối tượng vừa là chủ thể tự chuyển hóa. Tác động bên ngoài chỉ đạt kết quả bền vững khi được quân nhân tiếp nhận, tự giác chuyển thành nhu cầu, mục tiêu và hành động của chính mình. Vai trò tự giáo dục, tự rèn luyện đặc biệt quan trọng đối với các lực lượng làm việc độc lập tại tổ, đài, trạm, tuyến; nơi sự giám sát trực tiếp có giới hạn nhưng yêu cầu trách nhiệm, bí mật và an toàn rất cao.

Ba là, nội dung cần chuyển hóa, gồm tri thức và tư tưởng chính trị; tình cảm đối với Tổ quốc, nhân dân, Quân đội, đơn vị và ngành nghề; niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào vũ khí, trang bị và khả năng hoàn thành nhiệm vụ; bản lĩnh, ý chí vượt khó; ý thức trách nhiệm và kỷ luật. Các nội dung đó không tồn tại biệt lập. Tri thức đúng là cơ sở hình thành niềm tin khoa học; niềm tin bền vững củng cố ý chí; ý chí và trách nhiệm thúc đẩy hành động; kết quả hành động tiếp tục kiểm nghiệm và củng cố niềm tin.

Bốn là, phương thức và môi trường chuyển hóa, bao gồm giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự và chuyên môn kỹ thuật, công tác tư tưởng, tổ chức, chính sách, thi đua - khen thưởng, xây dựng chính quy, quản lý kỷ luật, diễn tập, sẵn sàng chiến đấu và thực hiện nhiệm vụ thường xuyên, đột xuất. Môi trường đơn vị là không gian trực tiếp để các giá trị chính trị được thực hành, kiểm nghiệm và trở thành phẩm chất ổn định.

Năm là, đầu ra và cơ chế phản hồi. Đầu ra không chỉ là kết quả kiểm tra nhận thức chính trị, mà còn là trạng thái tư tưởng ổn định, động cơ nghề nghiệp đúng, kỷ luật nghiêm, năng lực chuyên môn, khả năng hiệp đồng, ứng phó tình huống và chất lượng bảo đảm thông tin. Thông qua kiểm tra, sơ kết, tổng kết và phản hồi sau nhiệm vụ, chủ thể lãnh đạo nhận diện đúng ưu điểm, hạn chế để điều chỉnh nội dung, phương pháp tác động.

3. Quá trình vận hành của cơ chế chuyển hóa

3.1. Từ tri thức chính trị đến nhận thức nhiệm vụ và động cơ đúng đắn

Khâu đầu tiên là làm cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; đường lối quốc phòng, quân sự của Đảng; yêu cầu xây dựng Quân đội và lực lượng thông tin quân sự hiện đại; vị trí của thông tin liên lạc đối với sự thống nhất lãnh đạo, chỉ huy. Tri thức chính trị chỉ thực sự tham gia vào cơ chế chuyển hóa khi được liên hệ trực tiếp với chức trách của từng người và từng bộ phận. Đối với nhân viên trực đài, đó là nhận thức đầy đủ rằng sự tập trung, tỉ mỉ và chấp hành quy trình của mình liên quan trực tiếp đến dòng mệnh lệnh chỉ huy. Đối với cán bộ kỹ thuật, đó là trách nhiệm duy trì độ ổn định, an toàn và khả năng khôi phục hệ thống. Đối với lực lượng cơ động, đó là ý thức sẵn sàng nhận nhiệm vụ trong điều kiện địa hình, thời tiết và cường độ phức tạp.

Khi tri thức chính trị gắn với ý nghĩa xã hội và quân sự của công việc, nó hình thành động cơ nghề nghiệp đúng đắn: làm việc không chỉ để hoàn thành phần việc cá nhân mà để giữ vững hệ thống chỉ huy; không né tránh việc khó mà chủ động nhận trách nhiệm; không thỏa mãn với kinh nghiệm cũ mà tích cực học tập, làm chủ công nghệ. Đây là điểm khởi đầu để yêu cầu chính trị trở thành nhu cầu hành động bên trong.

3.2. Từ tình cảm, niềm tin đến bản lĩnh, ý chí và trách nhiệm

Tình cảm đối với Tổ quốc, nhân dân, Quân đội, đồng chí, đồng đội và truyền thống Bộ đội Thông tin liên lạc tạo nên chiều sâu nhân văn của động cơ. Niềm tin chính trị làm cho quân nhân có điểm tựa tinh thần vững chắc trước thông tin phức tạp, luận điệu xuyên tạc và những khó khăn của đời sống. Niềm tin vào tổ chức, đồng đội, vũ khí, trang bị và phương án bảo đảm thông tin giúp giảm tâm lý hoài nghi, dao động, nhất là khi hoạt động trong môi trường căng thẳng hoặc bị chia cắt.

Tuy nhiên, niềm tin chỉ trở thành sức mạnh khi chuyển thành bản lĩnh và ý chí. Bản lĩnh thể hiện ở khả năng kiên định mục tiêu, làm chủ cảm xúc, đánh giá đúng tình huống và lựa chọn hành động phù hợp. Ý chí thể hiện ở khả năng duy trì nỗ lực, khắc phục mệt mỏi, gian khổ, chấp nhận khó khăn và nguy hiểm để hoàn thành nhiệm vụ. Ý thức trách nhiệm gắn bản lĩnh, ý chí với bổn phận cụ thể, ngăn ngừa thái độ chủ quan, đơn giản, đùn đẩy hoặc bằng lòng với kết quả trung bình.

3.3. Từ ý chí, trách nhiệm đến hành vi có kỷ luật và năng lực làm chủ trang bị

Khâu quyết định của chuyển hóa là biến trạng thái tinh thần thành hành vi thực tiễn. Trong Bộ đội Thông tin liên lạc, hành vi đó trước hết biểu hiện ở việc chấp hành mệnh lệnh, quy trình khai thác, quy định bảo mật và chế độ canh trực; ở sự cẩn trọng trong từng thao tác; ở tinh thần chủ động kiểm tra, phát hiện, dự báo và xử lý nguy cơ. Chính trị - tinh thần cao không biểu hiện bằng lời nói mạnh, mà bằng hành động chính xác, bình tĩnh, có trách nhiệm, đặc biệt khi xảy ra sự cố hoặc nhiệm vụ đột xuất.

Ý chí và trách nhiệm còn phải chuyển thành nỗ lực học tập, nghiên cứu và làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại. Công nghệ mới thường tạo ra độ khó về tri thức, thay đổi thói quen nghề nghiệp và có thể làm nảy sinh tâm lý e ngại. Động cơ đúng, niềm tin và tinh thần tự lực giúp quân nhân kiên trì học tập; huấn luyện sát thực tế giúp họ tích lũy năng lực; kết quả làm chủ trang bị tiếp tục củng cố niềm tin và lòng tự hào nghề nghiệp. Đây là vòng chuyển hóa hai chiều giữa sức mạnh tinh thần và năng lực vật chất.

3.4. Từ hành động cá nhân đến sức mạnh hiệp đồng của tập thể

Nhiệm vụ bảo đảm thông tin liên lạc không phải tổng số cơ học các thao tác cá nhân, mà là kết quả của hệ thống tổ chức và hiệp đồng. Một cá nhân giỏi nhưng thiếu phối hợp vẫn có thể làm gián đoạn quy trình. Vì vậy, nhân tố chính trị - tinh thần phải chuyển hóa thành sự thống nhất ý chí và hành động của tổ, kíp, đài, trạm, tuyến và các cơ quan, lực lượng liên quan. Tình đồng chí, đồng đội, sự tin cậy lẫn nhau, ý thức đặt nhiệm vụ chung lên trên lợi ích riêng tạo điều kiện để trao đổi thông tin kịp thời, hỗ trợ nhau xử lý sự cố và duy trì hệ thống ổn định.

Vai trò của người cán bộ đặc biệt quan trọng trong khâu này. Cán bộ phải nêu gương, phân công đúng người, đúng việc; tạo bầu không khí dân chủ nhưng giữ nghiêm kỷ luật; kịp thời động viên, điều chỉnh trạng thái tâm lý và chịu trách nhiệm trước kết quả chung. Sự lãnh đạo, chỉ huy đúng đắn biến quyết tâm của từng người thành quyết tâm tập thể và tạo sức mạnh lớn hơn tổng năng lực của các cá nhân riêng lẻ.

3.5. Từ kết quả thực hiện nhiệm vụ đến củng cố và phát triển nhân tố chính trị - tinh thần

Kết quả hoàn thành nhiệm vụ là đầu ra, đồng thời là nguồn phản hồi của cơ chế. Một nhiệm vụ được hoàn thành tốt giúp quân nhân kiểm nghiệm tính đúng đắn của nhận thức, củng cố niềm tin vào tổ chức, đồng đội và trang bị; hình thành kinh nghiệm, lòng tự tin, niềm tự hào và khát vọng cống hiến. Ngược lại, hạn chế, sai sót nếu được phân tích khách quan sẽ trở thành bài học, thúc đẩy điều chỉnh thái độ và phương pháp. Nếu che giấu khuyết điểm, quy trách nhiệm thiếu công bằng hoặc đánh giá chỉ dựa vào thành tích bề nổi, cơ chế phản hồi bị méo mó, làm giảm niềm tin và động lực.

Đầu ra của quá trình chuyển hóa cần được nhận diện trên ba cấp độ: cá nhân có bản lĩnh, kỷ luật, trách nhiệm và năng lực; tập thể đoàn kết, thống nhất, hiệp đồng hiệu quả; đơn vị hoàn thành nhiệm vụ bảo đảm thông tin kịp thời, chính xác, bí mật, an toàn. Thực tiễn công khai tại Lữ đoàn 596 cho thấy sự kết hợp giữa giáo dục chính trị, quản lý tư tưởng, huấn luyện chuyên sâu, luyện tập phương án và làm chủ trang bị đã góp phần trực tiếp nâng cao chất lượng bảo đảm thông tin [10]. Điều đó minh chứng rằng chính trị - tinh thần chỉ phát huy đầy đủ khi được gắn với năng lực và sản phẩm nhiệm vụ cụ thể.

4. Điều kiện bảo đảm cơ chế chuyển hóa vận hành hiệu quả

Thứ nhất, bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của cấp ủy, tổ chức đảng và hiệu lực tổ chức thực hiện của người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên. Nghị quyết lãnh đạo phải chỉ rõ nội dung chính trị - tinh thần cần tạo chuyển biến, đối tượng trọng tâm, khâu yếu và chỉ báo kết quả; tránh xác định chung chung. Người chỉ huy và cơ quan chức năng phải cụ thể hóa yêu cầu chính trị thành nhiệm vụ, tiêu chuẩn huấn luyện, quy trình công tác và chế độ kiểm tra.

Thứ hai, gắn giáo dục chính trị, công tác tư tưởng với huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và bảo đảm thông tin thường xuyên. Mỗi nội dung giáo dục cần được liên hệ với chức trách và tình huống nghề nghiệp. Mỗi khoa mục huấn luyện cần đồng thời rèn bản lĩnh, ý chí, kỷ luật, trách nhiệm. Diễn tập phải tạo áp lực hợp lý để kiểm nghiệm trạng thái tâm lý và khả năng hành động, nhưng được kiểm soát chặt chẽ về an toàn, bảo mật.

Thứ ba, xây dựng môi trường chính trị, văn hóa và tâm lý tích cực. Dân chủ, công bằng, đoàn kết và kỷ luật là điều kiện để quân nhân tin tưởng tổ chức, yên tâm công tác và dám chịu trách nhiệm. Cần quan tâm điều kiện làm việc, nghỉ ngơi, sức khỏe, đời sống gia đình, nhất là đối với lực lượng làm nhiệm vụ phân tán, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Chính sách đúng không thay thế giáo dục nhưng tạo nền tảng lợi ích chính đáng để củng cố niềm tin và động lực.

Thứ tư, phát huy vai trò tự giáo dục, tự rèn luyện và trách nhiệm nêu gương. Mỗi quân nhân cần có mục tiêu phấn đấu gắn với chức trách; tự đánh giá khả năng xử lý nhiệm vụ; chủ động học tập công nghệ mới; tự kiểm soát việc sử dụng mạng xã hội và bảo vệ bí mật. Cán bộ, đảng viên phải làm mẫu trong nhận việc khó, chấp hành quy trình và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.

Thứ năm, đổi mới kiểm tra, đánh giá theo hướng kết hợp chỉ báo chính trị - tinh thần với kết quả hoạt động. Không lấy một lần kiểm tra nhận thức thay cho đánh giá bản lĩnh; không lấy thành tích kỹ thuật đơn thuần thay cho đánh giá động cơ, kỷ luật và trách nhiệm. Cần kết hợp tự đánh giá, đánh giá của tập thể, cán bộ trực tiếp và cơ quan chức năng; sử dụng dữ liệu từ huấn luyện, canh trực, diễn tập, xử lý sự cố nhưng phải tuân thủ quy định bảo mật. Kết quả đánh giá phải được phản hồi để điều chỉnh giáo dục, huấn luyện và chính sách.

5. Kết luận

Cơ chế chuyển hóa là khâu nối giữa nguồn lực tinh thần và sức mạnh thực tiễn. Đối với Bộ đội Thông tin liên lạc, quá trình đó vận động từ tri thức chính trị đến động cơ; từ tình cảm, niềm tin đến bản lĩnh, ý chí; từ ý chí, trách nhiệm đến hành vi có kỷ luật, năng lực làm chủ trang bị; từ hành động cá nhân đến sức mạnh hiệp đồng; và từ kết quả nhiệm vụ trở lại củng cố niềm tin, ý chí, trách nhiệm. Nhận thức đúng cơ chế này giúp đánh giá nhân tố chính trị - tinh thần thực chất hơn, tổ chức tác động trúng hơn và khắc phục biểu hiện tách rời giữa xây dựng chính trị với nâng cao chất lượng chuyên môn. Đó là cơ sở quan trọng để phát huy sức mạnh con người, góp phần xây dựng lực lượng thông tin quân sự hiện đại, bảo đảm thông tin liên lạc "kịp thời, chính xác, bí mật, an toàn" vững chắc trong mọi tình huống.

Tài liệu tham khảo

[1] V.I. Lênin (2005), Toàn tập, tập 41, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

[2] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[3] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[5] Bộ Tư lệnh Thông tin liên lạc (2021), Chiến lược phát triển hệ thống thông tin liên lạc quân sự giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045, Hà Nội.

[6] Viện Khoa học xã hội và nhân văn quân sự (2009), Xây dựng và động viên sức mạnh chính trị - tinh thần trong công cuộc giữ nước của dân tộc Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

[7] Nguyễn Mạnh Hưởng (2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò nhân tố chính trị - tinh thần trong chiến tranh, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.

[8] Bùi Xuân Quỳnh (2021), Tăng cường tiềm lực chính trị - tinh thần trong sức mạnh quân sự Việt Nam hiện nay, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.

[9] Vũ Duy Hải (2026), "Bàn về giải pháp phát huy nhân tố chính trị - tinh thần của Bộ đội Thông tin liên lạc trong tình hình mới", Tạp chí Quốc phòng toàn dân điện tử, ngày 15-01-2026.

[10] Nguyễn Hồng Văn (2026), "Lữ đoàn 596 nâng cao năng lực bảo đảm thông tin liên lạc quân sự", Tạp chí Quốc phòng toàn dân điện tử, ngày 19-02-2026.

TS Nguyễn Hữu Hồi

Trường Đại học Thông tin Liên lạc