logo
ISSN 2734-9020

Đánh giá hiệu quả công tác tập huấn và thực trạng cân bằng học tập - phong trào của cán bộ Đoàn: Góc nhìn từ người trong cuộc và giải pháp cải tiến

Thứ hai, 28/09/2026 - 15:43

Nghiên cứu này đánh giá thực trạng năng lực công tác và mức độ cân bằng giữa học tập - phong trào của đội ngũ Cán bộ Đoàn (CBĐ) kiêm nhiệm tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp thống kê mô tả dữ liệu định lượng (n=144) và phân tích nội dung dữ liệu định tính. Kết quả cho thấy tỷ lệ CBĐ chủ động tham gia các chương trình tập huấn ở mức thấp (13.2%), nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc nội dung tập huấn chưa đáp ứng nhu cầu ứng dụng thực tiễn (63.9%). Về phân bổ thời gian, 52.1% CBĐ dành hơn 10 giờ/tuần cho công tác Đoàn, dẫn đến 86.1% ghi nhận tình trạng quá tải tâm lý.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Đáng chú ý, nghiên cứu phát hiện nghịch lý trong việc duy trì thành tích: dù tỷ lệ sa sút học tập nghiêm trọng là 0%, sức khỏe tinh thần của đội ngũ này đang chịu tác động tiêu cực nhằm duy trì điểm số, đi kèm với nhu cầu hình thành cơ chế hỗ trợ học tập chuyên biệt. Từ những phát hiện trên, nghiên cứu đề xuất các giải pháp tái cấu trúc mô hình tập huấn theo hướng chú trọng kỹ năng ứng dụng, đa dạng hóa chuyên gia đào tạo và áp dụng quy trình quản trị số hóa nhằm nâng cao hiệu quả công tác và bảo đảm sức khỏe tinh thần cho CBĐ.

Từ khóa: Cán bộ Đoàn, tập huấn nghiệp vụ, cân bằng học tập, phong trào thanh niên, xung đột vai trò.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong hệ thống giáo dục đại học tại Việt Nam, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đóng vai trò nòng cốt trong việc định hướng và thúc đẩy phong trào thanh niên. Lực lượng Cán bộ Đoàn (CBĐ) cấp cơ sở (Đoàn khoa, Liên Chi đoàn, Chi đoàn) là bộ phận trực tiếp hiện thực hóa các chủ trương, chương trình hành động. Sự phát triển của công tác Đoàn phụ thuộc đáng kể vào năng lực của đội ngũ này.

Tuy nhiên, thực tiễn vận hành hiện nay đang bộc lộ những hạn chế nhất định, tác động trực tiếp đến chất lượng cán bộ và phong trào. Tổng quan các nghiên cứu trước đây cho thấy vẫn tồn tại hai khoảng trống nghiên cứu trọng yếu:

Một là, sự thiếu hụt các chương trình tập huấn mang tính ứng dụng cao dẫn đến suy giảm động lực tham gia của CBĐ. Các nghiên cứu hiện tại chủ yếu tập trung vào đặc thù kiêm nhiệm nhưng chưa đo lường trực tiếp mối liên hệ giữa tính thiết thực của nội dung tập huấn với trạng thái tâm lý và quyết định tham gia của CBĐ cơ sở.

Hai là, xung đột giữa nhiệm vụ phong trào và việc học tập. Các công trình trước đây đa phần tiếp cận dưới góc độ quản trị nhân sự (cải thiện chất lượng CBĐ cho tổ chức) mà chưa đánh giá đầy đủ hệ lụy của sự mất cân bằng này đối với cá nhân sinh viên, đặc biệt là trạng thái căng thẳng tâm lý và kết quả học tập.

Xuất phát từ những khoảng trống trên, nghiên cứu tiến hành đề tài nhằm đánh giá toàn diện hiệu quả công tác tập huấn và thực trạng cân bằng học tập - phong trào tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM. Kết quả nghiên cứu kỳ vọng đóng góp cơ sở dữ liệu thực tiễn để Ban Chấp hành Đoàn trường tối ưu hóa công tác quản lý, đồng thời bảo đảm quyền lợi bồi dưỡng và học tập của sinh viên.

2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Khung lý thuyết về xung đột vai trò và cạn kiệt nguồn lực

Thực trạng quá tải của CBĐ hiện nay có thể được lý giải thông qua Thuyết Xung đột vai trò (Conflict Theory) và Thuyết Cạn kiệt nguồn lực (Resource Drain Theory).

Xung đột vai trò xảy ra khi áp lực từ hai lĩnh vực (công tác Đoàn và học tập) không tương thích, khiến việc tham gia vào vai trò này làm cản trở vai trò khác. Xung đột này biểu hiện qua hai dạng chính: Xung đột dựa trên thời gian (time-based conflict) do quỹ thời gian hạn hẹp và xung đột dựa trên căng thẳng (strain-based conflict) phát sinh từ các đòi hỏi tâm lý của công việc. Khi yêu cầu thời gian cho phong trào gia tăng, CBĐ buộc phải thu hẹp quỹ thời gian học tập, đồng thời các triệu chứng tâm lý như mệt mỏi, lo âu từ công tác Đoàn có thể xâm nhập, làm giảm hiệu suất học tập.

Dưới góc độ của Thuyết Cạn kiệt nguồn lực, các nguồn lực cá nhân (thời gian, năng lượng) vận hành theo nguyên tắc khan hiếm. Việc tiêu hao quá mức tài nguyên cho một lĩnh vực tất yếu làm suy giảm nguồn lực cho lĩnh vực còn lại. Khi sự phân bổ này vượt ngưỡng chịu đựng, cá nhân sẽ rơi vào trạng thái kiệt sức nghề nghiệp (burnout) và suy giảm năng lực học tập.

2.2. Đặc điểm và vai trò của Cán bộ Đoàn kiêm nhiệm

CBĐ tại các trường đại học phần lớn là nhân sự kiêm nhiệm, đồng thời đóng vai trò là sinh viên và cán bộ quản lý phong trào. Đặc thù này đặt ra thách thức lớn về phân bổ thời gian. Bên cạnh đó, áp lực từ các chương trình học thuật (tiểu luận, thi cử) thường xuyên giao thoa với các nhiệm vụ phong trào đột xuất, gây ra tình trạng xung đột lợi ích nội tại đối với cá nhân CBĐ.

2.3. Thực trạng bồi dưỡng nghiệp vụ

Công tác bồi dưỡng nghiệp vụ là yêu cầu bắt buộc để nâng cao chất lượng phong trào. Tuy nhiên, nhiều chương trình tập huấn hiện nay được ghi nhận là thiếu cơ sở thực tiễn, mang tính hình thức và chưa bám sát nhu cầu của đối tượng tham gia. Việc định hướng chỉ đạo không đồng bộ với năng lực thực tế tại cơ sở dễ dẫn đến tình trạng CBĐ thực hiện nhiệm vụ mang tính đối phó, làm suy giảm động lực phát triển bản thân.

3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mẫu nghiên cứu: Nghiên cứu tiến hành khảo sát CBĐ từ cấp Chi đoàn trở lên tại Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQG-HCM. Dữ liệu thu về bao gồm 144 phiếu khảo sát hợp lệ (n=144).

Công cụ và phương pháp thu thập: Sử dụng bảng hỏi trực tuyến được thiết kế theo thang đo Likert và câu hỏi mở.

Phương pháp phân tích:

Định lượng: Thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm) đối với dữ liệu trắc nghiệm nhằm đo lường mức độ đánh giá của CBĐ.

Định tính: Phân tích chuyên đề (Thematic analysis) đối với câu hỏi mở nhằm trích xuất và mã hóa các nhóm ý kiến về sự kỳ vọng, nguyên nhân và giải pháp từ góc nhìn của CBĐ.

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Đặc điểm nhân khẩu học: Thâm niên công tác Đoàn của người tham gia khảo sát

Để có cơ sở khoa học và số liệu thực tiễn phục vụ cho việc đánh giá một cách toàn diện về chất lượng của CBĐ tại trường Đại học KHXH&NV, ĐHQG-HCM, nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát nhóm đối tượng thông qua biểu mẫu câu hỏi. Dữ liệu cho thấy 50.7% (73/144) CBĐ tham gia khảo sát đã có thâm niên công tác trên 2 năm. Đây là nhóm đối tượng có trải nghiệm sâu sắc về các áp lực tâm lý và chất lượng các chương trình bồi dưỡng, đảm bảo độ tin cậy cho các đánh giá thực tiễn.

4.2. Thực trạng chất lượng và trải nghiệm tập huấn

Mức độ tham gia chủ động của CBĐ tại các chương trình tập huấn hiện đang ở tỷ lệ thấp (13.2%), trong khi nhóm tham gia với tâm lý "đối phó" chiếm 11.8%. Về nội dung, 63.9% CBĐ đánh giá các chuyên đề tập huấn hiện tại thiếu tính ứng dụng (thực chiến) và cần cải tiến. Dữ liệu này phản ánh tình trạng các chương trình bồi dưỡng đang nghiêng về lý thuyết, chưa cung cấp bộ công cụ giải quyết tình huống thực tế tại cơ sở.

Sự thiếu hụt tính ứng dụng kéo theo những hệ lụy về mặt động lực. Có 63.9% CBĐ thể hiện sự trì trệ trong động lực tham gia các hoạt động tiếp theo; 9.7% ghi nhận trạng thái nhàm chán, thiếu gắn kết và hơn 9.0% xuất hiện tâm lý e ngại, né tránh. Chỉ 17.4% duy trì được sự tích cực.

Đánh giá hiệu quả công tác tập huấn và thực trạng cân bằng học tập - phong trào của cán bộ Đoàn: Góc nhìn từ người trong cuộc và giải pháp cải tiến  - Ảnh 1.

Sơ đồ 1: Phân tích đánh giá tính "thiết thực" của nội dung tập huấn

Số liệu này là một lời cảnh báo cho Đoàn cấp trên. Một khi CBĐ - vốn phải là người phải luôn tiên phong, lãnh đạo các phong trào lại mang tâm lý uể oải, né tránh khi tham gia các buổi tập huấn bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ, nâng cao năng lực công tác thì thực tiễn công tác Đoàn và phong trào thanh niên tại Trường nói chung và tại cơ sở nói riêng sẽ trở nên trì trệ, kém phát triển.

4.3. Thực trạng mất cân bằng giữa công tác Đoàn và học tập

Về phân bổ thời gian, 52.1% CBĐ cho biết họ phải dành trên 10 giờ/tuần cho công tác phong trào. Khối lượng thời gian này tạo ra áp lực lớn đối với nhân sự kiêm nhiệm. Về trạng thái tâm lý, 86.1% CBĐ báo cáo tình trạng "tạm ổn nhưng đôi khi quá tải", và 8.3% thường xuyên mất kiểm soát quỹ thời gian học tập.

Về tác động đến kết quả học thuật, 65.3% CBĐ duy trì được điểm số ổn định, 16.0% thừa nhận có sự sụt giảm nhẹ. Điểm đáng lưu ý là tỷ lệ tác động tiêu cực nghiêm trọng (đổ vỡ học tập) ở mức 0%.

Các nguyên nhân chính dẫn đến sự mất cân bằng bao gồm:

1. Bản thân chưa có kỹ năng quản lý thời gian hiệu quả chiếm 59.7%. Đây là nguyên nhân có tỷ lệ cao nhất. Người CBĐ dù nhiệt huyết nhưng thiếu bộ công cụ và kỹ năng sắp xếp, phân bổ thời gian cho công tác và học tập một cách khoa học thì vẫn dẫn đến việc mất cân bằng.

2. Áp lực từ chỉ tiêu thi đua, phong trào cấp trên giao xuống chiếm 59.0%. Chỉ thấp hơn nguyên nhân thứ nhất một chút, con số này phản ánh "bệnh thành tích" hoặc việc áp chỉ tiêu quá nặng từ Đoàn cấp trên đang vô tình đè nặng lên vai cán bộ tại cơ sở, khiến họ phải chạy theo số lượng hoạt động thay vì tập trung tổ chức các chương trình theo đúng nhu cầu của đoàn viên, sinh viên.

3. Lịch hoạt động Đoàn quá dày đặc, phát sinh đột xuất chiếm 52.1%. Hơn một nửa số cán bộ gặp khó khăn vì tính chất "đột xuất" của công tác Đoàn. Các kế hoạch thiếu tính dài hạn, thường xuyên thay đổi khiến cán bộ không thể chủ động sắp xếp lịch học tập cá nhân để tham gia.

4. Khối lượng bài vở, áp lực thi cử quá nặng chiếm 44.4%. Chương trình học tập chính quy dành cho sinh viên vốn dĩ đã nặng nề, khi cộng hưởng với lịch công tác dày đặc đã tạo thành gánh nặng kép cho CBĐ.

4.4. Kết quả phân tích định tính

Phân tích dữ liệu từ câu hỏi mở chỉ ra hai nhóm vấn đề cốt lõi:

Về tính thiết thực của nội dung tập huấn: CBĐ phản ánh sự chênh lệch giữa nội dung đào tạo và yêu cầu công việc. Các ý kiến tập trung vào việc đề xuất bổ sung bài tập tình huống (case study), thay đổi cấu trúc báo cáo viên (mời chuyên gia chuyên ngành thay vì chỉ sử dụng nhân sự nội bộ), và rút ngắn thời lượng theo hướng trọng tâm.

Về phương thức quản trị và áp lực chỉ tiêu: CBĐ chỉ ra rằng sự thiếu hụt các kế hoạch dài hạn và việc huy động nhân sự gấp rút (trong 1-3 ngày) là nguyên nhân gây nhiễu loạn lịch trình cá nhân. Các đề xuất nhấn mạnh nhu cầu chuyển dịch trọng tâm tập huấn sang các bộ công cụ quản trị (quản lý thời gian, ứng dụng công nghệ) và thiết lập các cơ chế hỗ trợ học tập (ưu tiên đăng ký học phần, hỗ trợ thủ tục khi lịch thi trùng với chiến dịch).

Đánh giá hiệu quả công tác tập huấn và thực trạng cân bằng học tập - phong trào của cán bộ Đoàn: Góc nhìn từ người trong cuộc và giải pháp cải tiến  - Ảnh 2.

Phân tích đánh giá tác động đến điểm số và học tập


5. THẢO LUẬN

Đối chiếu kết quả khảo sát với thực tiễn chỉ đạo, nghiên cứu bóc tách các vấn đề sau:

Thứ nhất, sự thiếu đồng bộ giữa tư duy tổ chức và nhu cầu cơ sở. Tỷ lệ 63.9% CBĐ đánh giá nội dung tập huấn thiếu thực tiễn xuất phát từ việc duy trì mô thức đào tạo truyền thống (tập trung vào điều lệ, kỹ năng bề nổi). Cơ sở đang thiếu hụt "công cụ quản trị" thực thụ (quản trị rủi ro, tài chính, truyền thông). Việc thiếu vắng chuyên gia độc lập làm báo cáo viên dẫn đến sự thiếu chiều sâu chuyên môn trong các chương trình bồi dưỡng, làm suy giảm động lực của cán bộ.

Thứ hai, tác động của áp lực chỉ tiêu định lượng. Việc 59.0% CBĐ chịu áp lực thi đua và 52.1% gặp khó khăn vì lịch trình đột xuất cho thấy phương thức lập kế hoạch hiện tại còn mang tính bị động. Điều này vô hình trung tạo ra xung đột vai trò gay gắt đối với CBĐ kiêm nhiệm.

Thứ ba, "nghịch lý duy trì thành tích" và nhu cầu cơ chế hỗ trợ. Dữ liệu 0% tỷ lệ đổ vỡ học tập không phản ánh sự thuận lợi trong học tập, mà minh chứng cho "Thuyết Cạn kiệt nguồn lực". CBĐ đang tiêu hao tối đa sức khỏe tinh thần (86.1% cảm thấy quá tải) để duy trì sự an toàn cho cả hai vai trò. Đồng thời, nghiên cứu ghi nhận sự chuyển dịch tư duy của CBĐ sang việc yêu cầu các "cơ chế hỗ trợ học tập" chính đáng nhằm đảm bảo quyền lợi cá nhân, thay cho trạng thái cống hiến thụ động.

6. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

Nhằm tối ưu hóa hiệu năng tổ chức và bảo vệ quyền lợi của CBĐ, nghiên cứu đề xuất các nhóm giải pháp:

6.1. Đổi mới công tác tập huấn và bồi dưỡng:

Chuyển đổi phương thức tập huấn từ truyền đạt lý thuyết sang mô hình hội thảo thực hành (workshop) tập trung vào giải quyết tình huống và quản trị rủi ro.

Đa dạng hóa đội ngũ báo cáo viên bằng cách phối hợp với đội ngũ giảng viên chuyên ngành (Tâm lý học, Báo chí - Truyền thông, Quản trị văn phòng) để nâng cao tính hàm lượng khoa học và chuyên môn cho nội dung đào tạo.

6.2. Hỗ trợ học tập và chuẩn hóa quy trình quản trị:

Lồng ghép các chuyên đề nâng cao năng lực học thuật (phương pháp nghiên cứu khoa học, kỹ năng viết học thuật) vào khung chương trình bồi dưỡng cán bộ thường niên.

Ứng dụng các nền tảng quản trị dự án số hóa trong khâu phân công và theo dõi tiến độ nhằm giảm thiểu thời gian họp hành hành chính, tăng tính chủ động cho cơ sở và hạn chế các tình huống huy động nhân sự bị động.

7. KẾT LUẬN

Nghiên cứu đã phác họa bức tranh toàn diện về thực trạng năng lực và áp lực của CBĐ kiêm nhiệm tại Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQG-HCM. Dữ liệu khẳng định công tác bồi dưỡng đang bộc lộ hạn chế lớn khi nội dung xa rời thực tiễn, dẫn đến sự suy giảm động lực tham gia. Đồng thời, áp lực từ khối lượng phong trào và chỉ tiêu thi đua đã đẩy phần lớn CBĐ vào trạng thái xung đột vai trò và cạn kiệt nguồn lực tâm lý nhằm duy trì kết quả học tập.

Để giải quyết vấn đề, công tác quản lý phong trào cần có sự dịch chuyển về mặt tư duy chiến lược: từ việc vận hành dựa trên áp lực chỉ tiêu sang mô hình quản trị khoa học, tối ưu hóa năng lực thực tiễn và thiết lập cơ chế hỗ trợ học tập minh bạch. Đây là điều kiện tiên quyết để xây dựng môi trường hoạt động Đoàn bền vững, cân bằng giữa lợi ích tổ chức và sự phát triển cá nhân của thế hệ cán bộ kế cận.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Fatima R. Khateeb (2021). Work life balance- A review of theories, definitions and policies. Cross-Cultural Management Journal, 23(1), 27-45.
  2. Gayatri Pradhan (2016). Conceptualising Work-life Balance. Working Paper 368, Institute for Social and Economic Change, 1-15.
  3. S. Ramaswamy, Sruthi Mohan, V. Kaveri (2023). An enquiry into the work-life balance theories. Journal of Emerging Technologies and Innovative Research, 10(11), a310-a316.
  4. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, (2004), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.240.
  5. Lê Công Nghĩa, (2021), Xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay, Tạp chí Khoa học Giáo dục Việt Nam, số 38, tr. 50-55.
  6. Lâm Văn Tân, Trương Nguyễn Thúy Tiên, Võ Thị Phượng, (2024), Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong các trường đại học tại thành phố Cần Thơ, Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, tập 13, số đặc biệt 01, tr. 29-39.
  7. Ban Thường vụ Thành đoàn Hà Nội, (2026), Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác thanh niên, Tạp chí Thanh niên Nghiên cứu Khoa học, số 11, tr.7-16.
  8. Võ Minh Thành, Trần Văn Toản, (2026), Kỹ năng lãnh đạo nhóm của cán bộ Đoàn - Hội Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.

Trần Ngọc Quỳnh - Nguyễn Huỳnh Lâm

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-TP.HCM