Kỳ 1: Văn hóa đứng ở đâu trong mô hình phát triển mới?
Không phải "đi cùng" phát triển, văn hóa phải đi trước và thấm vào từng quyết sách
Điểm đáng chú ý của Nghị quyết số 80-NQ/TW không chỉ ở việc tiếp tục khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và động lực phát triển. Quan trọng hơn, Nghị quyết đặt văn hóa vào bên trong quá trình hình thành chủ trương phát triển khi yêu cầu: "Văn hoá phải đi trước soi đường, thấm vào từng quyết sách phát triển", đồng thời xác định văn hóa phải trở thành nền tảng vững chắc, sức mạnh nội sinh của dân tộc và hệ điều tiết cho phát triển nhanh, bền vững đất nước[1].
Cách đặt vấn đề này làm rõ hơn vị trí của văn hóa trong mô hình phát triển mới. Văn hóa không phải phần "mềm" được bổ sung sau khi bài toán tăng trưởng kinh tế đã cơ bản hoàn tất mà phải hiện diện từ lúc lựa chọn mô hình phát triển, từ khâu xây dựng, ban hành đến tổ chức thực hiện các quyết sách. Như vậy, khi thiết kế, phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, vấn đề cần lưu tâm không chỉ là mật độ xây dựng mà còn phải tính đến không gian cộng đồng, giá trị văn hóa bản địa. Hay khi triển khai chiến lược chuyển đổi số, ngoài yếu tố công nghệ mà còn phải quan tâm chuẩn mực ứng xử, đạo đức và môi trường văn hóa số.
Chính vì thế, Nghị quyết 80-NQ/TW tiếp tục yêu cầu "coi trọng yếu tố văn hoá trong hoạch định chính sách phát triển" và để văn hóa "thấm sâu vào mọi quy hoạch, kế hoạch, đề án, dự án với tầm nhìn dài hạn và tiêu chuẩn cao"[2]. Đây là câu trả lời đầu tiên cho câu hỏi văn hóa đứng ở đâu?. Văn hóa phải được đặt để ở vị trí đầu tiên trong hành trình phát triển của quốc gia, của địa phương. Tuyệt đối không đi sau để sửa chữa, khắc phục hệ quả của phát triển.
Văn hóa phải là "hệ điều tiết" của phát triển
Nghị quyết số 80-NQ/TW là đặt văn hóa vào vị trí "hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước"[3]. Nếu "nền tảng" nói đến hệ giá trị mà phát triển phải dựa vào, "nguồn lực" và "động lực" nói đến khả năng tạo ra sức mạnh mới, thì "hệ điều tiết" đặt văn hóa vào vị trí trụ cột, định hướng cho mô hình phát triển mới.
Hệ điều tiết không phải chiếc phanh của phát triển, mà là chiếc la bàn giúp phát triển không đi chệch hướng. Bởi vậy, giá trị văn hóa không lượng hóa bằng "đóng góp bao nhiêu phần trăm GDP?", mà còn phải xem xét bằng cái giá phải trả nếu tăng trưởng mà không lưu tâm đến phát triển văn hóa. Khi cộng đồng mất niềm tin, địa phương mất bản sắc, di sản bị thương mại hóa đến mức biến dạng hay chuẩn mực xã hội bị xói mòn, chi phí cuối cùng không chỉ là chi phí văn hóa mà còn trở thành chi phí kinh tế và chi phí phát triển.
Văn hóa được xác định là động lực và phải được đối xử như một động lực
Trong mô hình phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết số 19-NQ/TW, phát triển văn hóa được xác định là nền tảng, nguồn lực, động lực nội sinh, sức mạnh mềm của quốc gia[4]. để thực sự trở thành động lực, văn hóa phải bước ra từ văn kiện và được đối xử như một động lực. Cụ thể, văn hóa phải chuyển hóa thành chính sách, nguồn lực và công cụ phát triển. Một lĩnh vực chỉ thật sự là động lực khi nó có vị trí trong quy hoạch, được phân bổ nguồn lực tương xứng.
Nghị quyết số 80-NQ/TW đã đưa ra yêu cầu: đến năm 2030 bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa; xây dựng Bộ chỉ số văn hóa quốc gia; nghiên cứu tổng giá trị kinh tế (TEV) và mô hình "di sản dẫn dắt phát triển kinh tế"[5]. Điểm đáng chú ý không chỉ nằm ở con số 2%, mà ở sự thay đổi cách nhìn về đồng tiền dành cho văn hóa. Nếu văn hóa chỉ được coi là lĩnh vực thụ hưởng, nguồn lực dành cho văn hóa rất dễ bị xem là khoản chi có thể lùi lại khi ngân sách khó khăn. Nhưng nếu văn hóa được xác định là nền tảng, nguồn lực và động lực, thì đầu tư cho văn hóa phải được nhìn như đầu tư cho chất lượng con người, sức sáng tạo, bản sắc, sức hấp dẫn của địa phương và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Đây chính là bước chuyển từ khẳng định vai trò sang đo được giá trị, bố trí được nguồn lực và tạo được năng lực phát triển. Khoảng cách cần vượt qua hiện nay vì thế không còn chủ yếu nằm ở nhận thức, mà nằm ở chỗ làm thế nào để văn hóa được đối xử trong thực tế đúng với vị trí đã được xác lập trong văn kiện.
Văn hóa là mục tiêu: phát triển cuối cùng phải trở về với con người
Nếu chỉ xem văn hóa như một công cụ hỗ trợ tăng trưởng thì mới nhìn thấy một nửa vị trí của nó. Phát triển kinh tế, hạ tầng hay công nghệ cuối cùng đều phải trả lời một câu hỏi: con người được gì từ sự phát triển ấy? Nếu GDP tăng nhưng đời sống tinh thần nghèo đi, cộng đồng phân rã, niềm tin suy giảm, môi trường sống thiếu nhân văn thì chưa thể gọi là một mô hình phát triển đầy đủ.
Đại hội XIV xác định phát triển bền vững phải là phát triển "cho con người, vì con người, vì hạnh phúc con người"[6]. Nghị quyết số 80-NQ/TW cũng đặt việc xây dựng, hoàn thiện nhân cách con người vào trung tâm, nhấn mạnh phát huy truyền thống yêu nước, bản lĩnh, trí tuệ, tinh thần tự chủ, tự cường và khát vọng cống hiến vì sự phát triển mạnh mẽ của dân tộc trong kỷ nguyên mới[7].
Ở góc độ này, đầu tư cho văn hóa cũng chính là đầu tư cho con người. Theo đó, các bảo tàng, thư viện, các địa chỉ đỏ, di tích lịch sử không chỉ lưu giữ ký ức mà còn góp phần hình thành nhân cách, nuôi dưỡng lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm và khát vọng cống hiến. Những giá trị ấy khó đo lường bằng doanh thu, nhưng lại là nguồn lực tinh thần cho quốc gia bứt tốc trong hành trình vươn khơi cập bến phồn vinh.
Văn hóa là nguồn lực: từ cái "phải giữ" đến cái "có thể tạo ra giá trị"
Trong giai đoạn hiện nay, văn hóa không đơn thuần là cái phải gìn giữ, bảo tồn mà phải được nhìn nhận như nguồn lực có khả năng tạo ra giá trị mới. Các di sản phải đặt trong tổng thể chuỗi hoạt động giáo dục, du lịch, thiết kế, ẩm thực, thủ công và nội dung số. Lịch sử bước vào trang sách, phim ảnh, trò chơi, sản phẩm du lịch hoặc sản phẩm sáng tạo; lễ hội, văn hóa bản địa cần trở thành tài sản, đóng góp vào mức tăng trưởng chung của nền kinh tế. Đây cũng là định hướng lớn được đề ra tại Đại hội XIV : "nguồn lực nội sinh quan trọng để phát triển bền vững đất nước", đồng thời là "sức mạnh mềm" trong đối ngoại và hội nhập quốc tế[8]. Và Nghị quyết số 80-NQ/TW tiếp tục yêu cầu "nhận diện đầy đủ và khai thác hiệu quả tài nguyên văn hoá", gắn bảo tồn với sinh kế cộng đồng, phát triển kinh tế di sản và hệ sinh thái văn hóa[9]. Quan điểm này tiếp tục được ghi nhận trong Nghị quyết số 19-NQ/TW với chủ trương: "đẩy mạnh xuất khẩu văn hóa, tài sản hóa các giá trị văn hóa và xây dựng thị trường tài sản giá trị văn hóa"[10].
Như vậy, điểm cốt lõi là phải làm cho văn hóa trường tồn trong lòng dân tộc, tiếp tục lan tỏa và tiếp tục sinh ra giá trị mới. Có di sản không đồng nghĩa đã có kinh tế di sản; có làng nghề không đồng nghĩa đã có công nghiệp sáng tạo; có địa chỉ lịch sử không có nghĩa có được một điểm giáo dục hấp dẫn đối với thế hệ trẻ. Tài nguyên văn hóa chỉ thực sự trở thành nguồn lực khi được kết nối với con người, công nghệ, doanh nghiệp, giáo dục và thị trường. Ở nghĩa đó, văn hóa không chỉ là cái "phải giữ", mà còn là cái có thể đánh thức để tạo động lực phát triển.
ThS. Trương Thị Điệp
Phó Trưởng Khoa Nhà nước và Pháp luật, Trường Chính trị TP Đà Nẵng
[1] Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, tr.2.
[2] Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, tr.5.
[3] Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, tr.2.
[4] Ban Chấp hành Trung ương (2026), Nghị quyết số 19-NQ/TW đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, tr.2.
[5] Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, tr.4, 6, 11.
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập II, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H.2026, tr. 62.
[7] Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, tr.2.
[8] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H.2026, tr. 53.
[9] Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, tr.10.
[10] Ban Chấp hành Trung ương (2026), Nghị quyết số 19-NQ/TW đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, tr.11.