logo
ISSN 2734-9020

Đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số - Nhân tố nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tại các trường đại học, cao đẳng hiện nay

Thứ hai, 25/05/2026 - 20:27

1. Đặt vấn đề: Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0, thế giới đang chứng kiến sự biến đổi sâu rộng trên mọi lĩnh vực đời sống kinh tế - chính trị xã hội. Yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, có bản lĩnh chính trị vững vàng, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng đặt ra những đòi hỏi mới trong đào tạo cán bộ đối với hệ thống các trường cao đẳng, đại học hiện nay.

Trước yêu cầu tất yếu của xu hướng đổi mới và chuyển đổi số, việc áp dụng công nghệ số, phương thức quản lý thông minh và các mô hình học tập linh hoạt góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập, quản lý, tạo dựng môi trường học tập mở, hiện đại, gắn kết với yêu cầu của thực tiễn phát triển đất nước và hội nhập quốc tế. Để đáp ứng yêu cầu mới, cần một đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy khoa học, tầm nhìn chiến lược và kỹ năng hành động thực tiễn trong bối cảnh mới và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số chính là nhân tố nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở các trường cao đẳng, đại học.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Cơ sở lý luận để đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là nhân tố nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tại các trường cao đẳng, đại học hiện nay

Hệ thống quan điểm của Đảng về đổi mới giáo dục, phát triển khoa học - công nghệ và chuyển đổi số đã từng bước hình thành, bổ sung và phát triển qua các nghị quyết quan trọng, tạo nên cơ sở lý luận toàn diện cho việc nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong bối cảnh mới.

Trước hết, Hội nghị Trung ương 8 khoá XI ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 về "Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế" đã đặt nền tảng lý luận trực tiếp cho quá trình cải cách giáo dục ở nước ta. Nghị quyết xác định rõ những nội dung cốt lõi như đổi mới chương trình, sách giáo khoa theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, coi trọng năng lực thực hành và tư duy sáng tạo; đổi mới phương pháp giảng dạy, kiểm tra, đánh giá, chuyển từ truyền thụ kiến thức một chiều sang phát triển năng lực và phẩm chất người học; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và phương pháp dạy - học tiên tiến, phát triển hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời. Những quan điểm này không chỉ tạo cơ sở cho việc nâng cao chất lượng đào tạo mà còn mở đường cho quá trình hiện đại hóa giáo dục, trong đó chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo trở thành những yêu cầu tất yếu.

Tiếp đó, Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về "Một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư" đã phát triển nhận thức của Đảng lên một bước mới, gắn đổi mới giáo dục với bối cảnh chuyển đổi mô hình phát triển trong kỷ nguyên số. Nghị quyết khẳng định Cách mạng công nghiệp 4.0 là cơ hội lịch sử để Việt Nam bứt phá, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu tận dụng các thành tựu công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật… để nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh. Đối với lĩnh vực giáo dục - đào tạo, đây là cơ sở quan trọng thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện, từ nội dung, phương pháp đến hình thức tổ chức đào tạo, như số hóa học liệu, triển khai hệ thống quản lý học tập (LMS), phát triển các mô hình đào tạo trực tuyến và ứng dụng công nghệ số trong quản lý, nghiên cứu.

Trên cơ sở kế thừa và phát triển các quan điểm trước đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đã xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là "đột phá quan trọng hàng đầu", là động lực chính để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, để hoàn thiện các quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị nhà nước, phát triển kinh tế-xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu; Là yếu tố quyết định để Việt Nam phát triển giàu mạnh, hùng cường trong "kỷ nguyên vươn mình của dân tộc". Đây là cơ sở quan trọng để các trường cao đẳng, đại học đẩy mạnh hoạt động đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học và quản lý, phù hợp với xu thế tất yếu khách quan của thời đại khi cả nước đang thực hiện cuộc cách mạng số.

Như vậy, tư duy của Đảng đã phát triển theo một tiến trình logic, từ đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo, đến chủ động thích ứng với Cách mạng công nghiệp 4.0 và tiến tới xác lập chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo là động lực đột phá của phát triển quốc gia. Đây chính là cơ sở lý luận vững chắc để các trường cao đẳng, đại học đẩy mạnh đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, qua đó nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới.

2.2. Thực trạng đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở các trường cao đẳng, đại học hiện nay

Hiện nay, các trường cao đẳng, đại học đã xác định đổi mới sáng tạo trong quản lý đào tạo là xu thế tất yếu, bảo đảm vừa giữ vững định hướng chính trị tư tưởng, vừa đáp ứng yêu cầu quản trị giáo dục hiện đại trong thời kỳ chuyển đổi số, thể hiện tư duy: dám nghĩ, dám làm, dám thay đổi cái cũ đã lạc hậu.

Các nhà trường cao đẳng, đại học đã chú trọng áp dụng phương pháp lấy người học làm trung tâm, kết hợp thảo luận nhóm, tình huống thực tiễn, ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số, ứng dụng phần mềm trình chiếu, học liệu điện tử và hệ thống quản lý học tập trong giảng dạy. Việc đổi mới này giúp sinh viên không chỉ tiếp thu kiến thức một cách chủ động, sáng tạo mà còn rèn luyện khả năng phân tích, phản biện trước các vấn đề thực tiễn. Các trường cao đẳng, đại học đã mạnh dạn ứng dụng công nghệ số, xây dựng hệ thống quản lý đào tạo trực tuyến (LMS), sổ điểm điện tử, phần mềm theo dõi tiến độ học tập, qua đó tiết kiệm thời gian, nâng cao tính minh bạch và hiệu quả quản lý. Công tác đánh giá học viên được đổi mới theo hướng kết hợp giữa đánh giá quá trình, đánh giá năng lực vận dụng thực tiễn và phản hồi trực tuyến của sinh viên. Những cải tiến này góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy, đồng thời tạo môi trường đào tạo công khai, dân chủ, hiện đại.

Việc số hoá tài liệu giảng dạy đã được triển khai ứng dụng, xây dựng thư viện điện tử, kho học liệu số và hệ thống cơ sở dữ liệu trực tuyến góp phần hiện đại hóa công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Tài liệu giảng dạy không chỉ trở nên sinh động, dễ tiếp cận mà còn bảo đảm tính kịp thời, chính xác và thống nhất trong toàn hệ thống, giúp tiết kiệm nguồn lực đồng thời góp phần nâng cao chất lượng học tập, giảng dạy, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục - đào tạo trong thời kỳ mới. Hệ thống LMS trong quản lý quá trình học tập, điểm số, phản hồi của học viên được ứng dụng rộng rãi. Nhờ hệ thống LMS toàn bộ quá trình học tập của sinh viên từ theo dõi tiến độ, nộp bài tập, đến đánh giá điểm số đều được số hóa và lưu trữ tập trung; ứng dụng LMS cũng hỗ trợ phân tích dữ liệu học tập, từ đó điều chỉnh nội dung, phương pháp giảng dạy phù hợp hơn với nhu cầu thực tế giúp nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo, đảm bảo công khai, minh bạch trong đánh giá, mà còn góp phần xây dựng môi trường học tập hiện đại, tương tác và lấy người học làm trung tâm - đúng với yêu cầu đổi mới giáo dục trong kỷ nguyên số.

Cán bộ các trường cao đẳng, đại học thực hiện Chương trình chuyển đổi số quốc gia theo Quyết định 749/QĐ-TTg xác định đến năm 2030, Việt Nam hướng tới một hệ sinh thái giáo dục số toàn diện đã ứng dụng AI, big data trong giảng dạy, quản lý coi đó là xu hướng tất yếu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, quản lý và nghiên cứu khoa học. AI có thể hỗ trợ giảng viên phân tích nhu cầu học tập, gợi ý nội dung phù hợp từng đối tượng, trong khi Big Data giúp xây dựng cơ sở dữ liệu khổng lồ về quá trình học tập, phản hồi và kết quả rèn luyện. Hiện nay, ở hầu hết các trường cao đảng, đại học đã sử dụng chatbot AI để giải đáp câu hỏi thường gặp về chương trình, thủ tục đào tạo, nội dung câu hỏi trong chương trình học... sinh viên sử dụng công cụ này và đánh giá cao tính tiện lợi. Ứng dụng AI và Big Data không chỉ giúp tối ưu hóa quản lý, giảm tải công việc hành chính mà còn mở ra khả năng xây dựng hệ thống đào tạo "cá thể hóa", phù hợp với từng sinh viên. Việc ứng dụng các công nghệ này là bước tiến quan trọng để các trường cao đẳng, đại học tiệm cận với mô hình đào tạo hiện đại, vừa giữ vững định hướng chính trị vừa đáp ứng yêu cầu của thời đại số.

Bên cạnh những kết quả đạt được trong đổi mới và chuyển đổi số, trong quá trình thực cũng còn nhưng hạn chế nhất định. Về đổi mới sáng tạo, nhận thức của một bộ phận giảng viên, viên chức chưa thật sự đầy đủ, đôi khi còn có tâm lý xem đây như là nhiệm vụ mang tính phong trào, dẫn đến cách làm hình thức, chưa tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ trong thực chất giảng dạy, quản lý. Cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ thông tin ở nhiều trường cao đẳng, đại chưa đồng bộ, nhất là hệ thống mạng, phòng học thông minh, thư viện số, làm cho việc áp dụng các phương pháp giảng dạy mới dựa trên công nghệ còn gặp khó khăn. Năng lực đổi mới sáng tạo của đội ngũ giảng viên chưa đồng đều, vẫn còn tình trạng ngại thay đổi, thiếu kỹ năng ứng dụng công nghệ, dẫn đến việc đổi mới phương pháp còn hạn chế, nặng về trình chiếu thay vì tổ chức học tập tương tác, sáng tạo. Nguồn học liệu số và tài liệu giảng dạy tuy đã được số hóa bước đầu nhưng chưa phong phú, thiếu tính cập nhật, đặc biệt trong việc gắn lý luận chính trị với các vấn đề mới như chuyển đổi số, kinh tế xanh, hội nhập quốc tế. Cơ chế khuyến khích, đánh giá các sáng kiến đổi mới sáng tạo chưa thật sự rõ ràng, chưa tạo động lực mạnh mẽ để giảng viên mạnh dạn áp dụng cái mới. Đối với việc thực hiện chuyển đổi số, hạ tầng công nghệ thông tin chưa đồng bộ, nhiều trường cao đẳng, đại học vẫn thiếu phòng học thông minh, mạng Internet chưa ổn định dẫn đến việc khai thác hệ thống quản lý đào tạo (LMS) còn gián đoạn. Trong khi đó, đối với việc triển khai được kho học liệu số, phần lớn mới dừng lại ở mức thí điểm. Đội ngũ giảng viên tuy đã bước đầu tiếp cận công nghệ nhưng năng lực ứng dụng công nghệ số chưa đồng đều; nhiều giảng viên còn lúng túng trong việc khai thác phần mềm, thiết kế bài giảng ứng dụng công nghệ hiện đại, hoặc tích hợp công cụ số vào phương pháp giảng dạy. Nguồn học liệu số còn hạn chế về số lượng và chất lượng, tài liệu số hóa nhiều khi chỉ là phiên bản điện tử của tài liệu in, thiếu tính tương tác, chưa cập nhật kịp thời các vấn vấn đề mới của thực tiễn chính trị - xã hội. Nguồn kinh phí đầu tư cho chuyển đổi số chưa tương xứng, chủ yếu dựa vào ngân sách hạn hẹp, thiếu các cơ chế huy động xã hội hóa, khiến việc nâng cấp hạ tầng và duy trì hệ thống gặp khó khăn. Cơ chế quản lý, đánh giá hiệu quả chuyển đổi số còn chưa rõ ràng dẫn đến tình trạng triển khai rời rạc, thiếu sự gắn kết giữa các khâu: quản lý, giảng dạy và học tập.

Những hạn chế trên nếu không được khắc phục sẽ làm cho đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ở các trường cao đảng, đại học chỉ dừng ở tính hình thức, chưa phát huy tối đa vai trò trong việc nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đáp ứng yêu cầu thời kỳ mới.

2.3. Giải pháp thúc đẩy đổi mới sáng tạo và đẩy mạnh chuyển đổi số nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở các trường cao đẳng, đại học hiện nay

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ là xu hướng tất yếu mà còn trở thành động lực trực tiếp nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Để các chủ trương của Đảng thực sự đi vào thực tiễn và phát huy hiệu quả trong hệ thống các trường cao đẳng, đại học, cần thực hiện một số giải pháp cơ bản sau:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức về vai trò, ý nghĩa của đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Đây là giải pháp có ý nghĩa nền tảng, quyết định đến mức độ thành công của các giải pháp tiếp theo. Các cấp ủy, tổ chức quản lý giáo dục, đội ngũ cán bộ, giảng viên cần nhận thức đầy đủ rằng đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ là công cụ hỗ trợ mà là phương thức phát triển mới của giáo dục đại học. Việc chuyển từ mô hình đào tạo truyền thống sang mô hình giáo dục mở, linh hoạt, cá thể hóa người học đòi hỏi sự thay đổi về tư duy quản lý, phương pháp giảng dạy và cách tiếp cận tri thức. Do đó, cần tăng cường công tác tuyên truyền, quán triệt các nghị quyết của Đảng; đồng thời gắn nhận thức với trách nhiệm cụ thể của từng chủ thể trong quá trình tổ chức thực hiện.

Thứ hai, xây dựng và triển khai chiến lược đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tổng thể, có lộ trình, mục tiêu, giải pháp và cơ chế giám sát cụ thể. Các cơ sở giáo dục cần xây dựng chiến lược dài hạn với lộ trình rõ ràng, mục tiêu cụ thể và hệ thống giải pháp đồng bộ, phù hợp với đặc thù của từng ngành, từng trường. Ưu tiên đầu tư đồng bộ hạ tầng số từ mạng, máy chủ, lớp học thông minh đến thư viện điện tử và kho học liệu mở bảo đảm tính liên thông và khả năng mở rộng. Nhà trường cần gắn chuyển đổi số với chiến lược phát triển dài hạn và kế hoạch cải cách hành chính nội bộ.

Thứ ba, phát triển năng lực số cho đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý. Con người là nhân tố trung tâm của quá trình chuyển đổi số. Do đó, cần chú trọng bồi dưỡng năng lực số, kỹ năng ứng dụng công nghệ và phương pháp sư phạm hiện đại cho đội ngũ giảng viên thông qua các chương trình đào tạo, tập huấn chuyên sâu, kết hợp giữa lý thuyết và thực hành. Khuyến khích giảng viên nghiên cứu, chia sẻ kinh nghiệm ứng dụng công nghệ trong giảng dạy; đồng thời xây dựng đội ngũ hỗ trợ kỹ thuật chuyên trách, giúp giảng viên yên tâm đổi mới mà không lo rào cản kỹ thuật.

Thứ tư, hoàn thiện cơ chế, chính sách và khung pháp lý thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Một trong những điều kiện bảo đảm quan trọng là xây dựng hành lang pháp lý đồng bộ, tạo môi trường thuận lợi cho triển khai các mô hình đào tạo mới. Cần ban hành quy định về chuẩn hóa học liệu điện tử, công nhận kết quả học trực tuyến, bảo hộ quyền tác giả bài giảng số. Bên cạnh đó, cần có cơ chế khuyến khích, động viên kịp thời đối với các cá nhân, tập thể có sáng kiến, mô hình hiệu quả trong đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, qua đó tạo động lực lan tỏa trong toàn hệ thống.

Thứ năm, đẩy mạnh hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm giữa các cao đẳng, đại học. Chuyển đổi số không thể thực hiện một cách đơn lẻ mà cần có sự kết nối, chia sẻ và phối hợp giữa các cơ sở giáo dục. Do đó, cần tăng cường hợp tác giữa các trường cao đẳng, đại học, giữa nhà trường với doanh nghiệp và các tổ chức nghiên cứu nhằm hình thành mạng lưới đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Thông qua đó, các bên có thể chia sẻ nguồn lực, học liệu, kinh nghiệm quản lý và mô hình đào tạo tiên tiến. Việc phát triển các nền tảng học tập liên thông, các kho học liệu dùng chung sẽ góp phần mở rộng không gian học tập, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và từng bước hình thành hệ sinh thái giáo dục số quốc gia.

3. Kết luận

Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi số quốc gia đang diễn ra mạnh mẽ, các cao đẳng, đại học cần xác định đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là xu thế tất yếu, là động lực quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Đây không chỉ là yêu cầu của thời đại, mà còn là trách nhiệm chính trị của mỗi giảng viên, mỗi cán bộ trong các nhà trường cao đảng, đại học những người trực tiếp góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và hội nhập.

Nguyễn Thanh Hải - Đào Thị Thanh Hải

Khoa Công tác Đảng, Công tác chính trị - Đại học Nguyễn Huệ


Tài liệu tham khảo:

1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2024), Nghị quyết của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024.

2. Bộ Chính trị (2019), Nghị quyết về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, số 52-NQ/TW, ngày 27/9/2019.

3. Chính phủ (2021), Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị Định số 101/2017/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 2017 của chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, số 89/2021/NĐ-CP, ngày 18/10/2021.


4. Thủ tướng chính phủ (2020), Quyết định phê duyệt "Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030", số 749/QĐ-TTg, ngày 3/6/2020.