logo
ISSN 2734-9020

Giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Thứ tư, 03/12/2025 - 14:22

Trong xã hội hiện đại, giáo dục không chỉ là quyền cơ bản của mỗi con người mà còn là chìa khóa để phát triển toàn diện, xây dựng một công đồng văn minh và nhân văn. Trong đó, trẻ tự kỷ (một dạng rối loạn phát triển thần kinh phức tạp) cần được quan tâm nhiều hơn để có thể hòa nhập, khẳng định giá trị bản thân và đóng góp cho xã hội. Giáo dục hòa nhập chính là con đường tối ưu giúp trẻ tự kỷ không bị bỏ lại phía sau. Ở Việt Nam, mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong xây dựng chính sách và triển khai thực tiện, nhưng giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ vẫn còn đối diện với không ít thách thức.

Giáo dục hòa nhập là mô hình giáo dục mà ở đó trẻ khuyết tật được học chung với trẻ bình thường trong một môi trường học đường thống nhất, có sự hỗ trợ cần thiết để phát huy tối đa năng lực. Đối với trẻ tự kỷ, đây là phương thức giáo dục giúp các em rèn luyện kỹ năng giao tiếp, thích ứng xã hội, đồng thời giảm bớt sự kỳ thị, phân biệt. Ý nghĩa của giáo dục hòa nhập không chỉ dừng lại ở quyền được học tập, mà còn thể hiện tinh thần nhân văn, dân chủ, công bằng xã hội. Một xã hội văn minh không thể chấp nhận việc để một nhóm trẻ em nào đó bị tách biệt, cô lập khỏi môi trường giáo dục chung.

Trong thời gian qua, Việt Nam đã đạt được những bước tiến quan trọng trong việc xây dựng khung pháp lý và triển khai thực tiễn giáo dục hòa nhập cho trẻ em có nhu cầu đặc biệt, trong đó có trẻ tự kỷ. Luật Người khuyết tật (2010), Luật Giáo dục (2019) và Hiến pháp (2013) đều khẳng định rõ nguyên tắc không phân biệt đối xử trong giáo dục, mọi trẻ em dù hoàn cảnh, tình trạng sức khỏe hay khuyết tật ra sao đều có quyền được học tập và phát triển trong môi trường bình đẳng. Theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo năm học 2023 - 2024, các địa phương đã mở rộng quy mô giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ ở các cấp tiểu học và trung học phổ thông. Nhiều địa phương đã chủ động xây dựng các chương trình thí điểm nhằm cụ thể hóa chính sách, trong đó có các mô hình lớp hòa nhập tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và một số tỉnh, thành khác. Những mô hình này bước đầu đã tạo điều kiện để trẻ tự kỷ được học cùng bạn bè, tham gia các hoạt động tập thể, đồng thời nâng cao nhận thức xã hội về quyền học tập của trẻ em khuyết tật, góp phần lan tỏa tinh thần nhân văn và công bằng trong giáo dục. Theo Báo cáo Điều tra người khuyết tật năm 2023, tỷ lệ người khuyết tật từ 15 tuổi trở lên biết chữ đạt 79%, tăng 4,6% so với năm 2016.

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy chặng đường để thực hiện đầy đủ quyền học tập cho trẻ tự kỷ vẫn còn nhiều trở ngại. Như tỉnh Sơn La năm 2024 có khoảng 4.970 trẻ khuyết tật dưới 18 tuổi, trong đó có gần 50% không được đến trường hoặc không được can thiệp, hòa nhập công đồng. Nguyên nhân chủ yếu là do nhiều cơ sở giáo dục phổ thông chưa đủ điều kiện cơ sở vật chật và nhân lực để tiếp nhận, hỗ trợ trẻ tự kỷ. Thực tế, không ít trường học đã từ chối tiếp nhận học sinh tự kỷ vì lo ngại ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy chung hoặc vì thiếu đội ngũ giáo viên được đào tạo chuyên sâu. Theo số liệu của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam năm 2021 cho thấy, mới chỉ khoảng 35% giáo viên tiểu học từng được tập huấn về phương pháp giáo dục hòa nhập, con số này phản ánh tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng nguồn nhân lực sư phạm chuyên biệt. Ngoài những hạn chế về thể chế và nhân lực, định kiến xã hội vẫn là rào cản lớn đối với giáo dục hòa nhập. Một bộ phận phụ huynh có con học trong các lớp phổ thông tỏ ra e ngại khi con mình học chung với trẻ tự kỷ, cho rằng điều đó có thể "ảnh hưởng đến tiến độ học tập" hoặc gây xáo trộn lớp học. Sự thiếu hiểu biết này không chỉ làm tăng áp lực lên gia đình có trẻ tự kỷ mà còn vô tình duy trì tâm lý phân biệt và cô lập, khiến việc thực hiện quyền học tập bình đẳng cho trẻ tự kỷ gặp nhiều khó khăn. Chính sự kết hợp của những yếu tố này đã làm cho mục tiêu phổ cập giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ ở Việt Nam còn cách xa so với kỳ vọng và chuẩn mực quốc tế.

Một trong những rào cản lớn đối với việc triển khai giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ ở Việt Nam hiện nay chính là sự thiếu đồng bộ về chính sách, nhân lực, cơ sở vật chất và nhận thức xã hội. Trước hết, chính sách về giáo dục hòa nhập tuy đã được thể chế hóa trong Luật giáo dục (2019) và Luật Người khuyết tật (2010), nhưng vẫn còn thiếu tính chuyên biệt. Việt Nam hiện chưa có bộ hướng dẫn thống nhất về việc xây dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục cá nhân dành riêng cho trẻ tự kỷ, trong khi đây được xem là công cụ then chốt để thiết kế chương trình học phù hợp với nhu cầu, khả năng và mức độ phát triển của từng trẻ. Sự thiếu hụt này dẫn đến tình trạng giáo viên phổ thông lúng túng trong việc hỗ trợ học sinh tự kỷ, nhiều trường chỉ áp dụng giải pháp chung chung, không hiệu quả và thiếu bền vững.

Bên cạnh đó, nguồn nhân lực phục vụ cho giáo dục hòa nhập còn rất hạn chế. Việt Nam hiện nay thiếu nghiêm trọng chuyên gia can thiệp sớm, trợ giảng chuyên biệt và nhà tâm lý học đường. Theo báo cáo của Bộ Giáo dục và đào tạo năm 2021, tỷ lệ chuyên gia hỗ trợ trong trường phổ thông còn dưới 1/5 so với nhu cầu thực tế, dẫn đến gánh nặng phần lớn đổ dồn lên giáo viên chủ nhiệm và giáo việ bộ môn. Trong khi đó, phần lớn giáo viên phổ thông chưa từng được đào tạo bài bản về giáo dục đặc biệt, chỉ khoảng 35% giáo viên tiểu học từng tham gia tập huấn ngắn hạn về hòa nhập. Điều này khiến học gặp khó khăn trong việc xử lý hành vi, thiết kế hoạt động phù hợp và đánh giá sự tiến bộ của trẻ tự kỷ.

Không chỉ thiếu nhân lực, nhiều trường học còn gặp khó khăn về cơ sở vật chất và học liệu đặc thù. Nhiều trường chưa có phòng hỗ trợ chuyên biệt cho học sinh có nhu cầu đặc biệt, cũng như thiếu trang thiết bị công nghệ như phần mềm giao tiếp hỗ trợ (AAC), đồ chơi trị liệu hay tài liệu trực quan giúp trẻ tự kỷ dễ tiếp cận nội dung bài học. Thậm chí, nhiều phụ huynh phải tự xoay sở chuẩn bị đồ dung học tập phù hợp cho con, trong khi bản thân họ cũng thiếu kiến thức và nguồn lực tài chính. Sự thiếu hụt này không chỉ làm giảm hiệu quả giáo dục hòa nhập mà còn tạo nên sự bất bình đẳng trong việc tiếp cận giữa trẻ tự kỷ và các học sinh khác.

Cuối cùng, nhận thức xã hội vẫn là một rào cản quan trọng. Mặc dù, những năm gần đây truyền thông đã góp phần nâng cao sự hiểu biết của cộng đồng về tự kỷ, song tình trạng kỳ thị, phân biệt vẫn còn tồn tại ở nhiều nơi. Không ít phụ huynh của trẻ bình thường lo ngại việc con mình học chung lớp với trẻ tự kỷ sẽ bị ảnh hưởng hoặc cho rằng trẻ tự kỷ gây mất trật tự trong lớp. Một số cộng đông vẫn vẫn coi tự kỷ là bệnh" có thể chữa khỏi hoặc gắn với quan niệm tiêu cực, dẫn đến sự cô lập và áp lực tâm lý nặng nề cho gia đình có trẻ tự kỷ. Đây là rào cản vô hình nhưng lại có sức ảnh hưởng rất lớn, khiến việc triển khai giáo dục hòa nhập gặp nhiều trở ngại từ ngay chính môi trường xã hội xung quanh trẻ.

Để khắc phục những hạn chế nêu trên và thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ ở Việt Nam, cần triển khai đồng bộ, toàn diện nhiều biện pháp. Trước hết, Nhà nước cần sớm ban hành các quy định riêng về giáo dục trẻ tự kỷ, trong đó đưa kế hoạch giáo dục cá nhân (Individualized Education Program - IEP) trở thành yêu cầu bắt buộc trong tất cả các cơ sở giáo dục có trẻ tự kỷ theo học. Việc áp dụng IEP sẽ giúp mỗi học sinh được tiếp cận chương trình học tập phù hợp với đặc điểm, năng lực và nhu cầu của mình, đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho giáo viên và nhà trường triển khai hỗ trợ một cách hiệu quả, tránh tình trạng học chung chung. Cùng với đó, cần mở rộng tuyển dụng đội ngũ trợ giảng chuyên biệt, chuyên gia can thiệp sớm và nhà tâm lý học đượng. Đây là lực lượng nòng cốt trong việc hỗ trợ cá nhân hóa hoạt động học tập, giúp giáo viên chủ nhiệm và phụ huynh có sự đồng hành chuyên môn khi chăm sóc, giáo dục trẻ tự kỷ. Bên cạnh đó, cần đầu tư xây dựng các phòng hỗ trợ hòa nhập trong trường phổ thông, trang bị học liệu đặc thù, đồ dùng trực quan, công cụ giao tiếp bổ trợ (AAC) và các phần mềm giáo dục chuyên dụng. Việc ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo vào dạy học cho trẻ tự kỷ cần được khuyến khích, bởi đây là xu hướng hiện đại giúp trẻ tăng khả năng tương tác, ghi nhớ và phát triển kỹ năng xã hội. Đồng thời, cần huy động sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và các tổ chức xã hội. Gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì thói quen, rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ, trong khi nhà trường giữ vai trò trung tâm giáo dục, còn các tổ chức xã hội cung cấp nguồn lực, chương trình tập huấn và hỗ trợ cộng đồng. Cuối cùng, cần nâng cao nhận thức xã hội thông qua các chiến dịch truyền thông, hội thảo, các hoạt động giáo dục công chúng nhằm giảm kỳ thị và tạo môi trường thân thiện cho trẻ tự kỷ. Việc tôn vinh những tấm gương trẻ tự kỷ hòa nhập thành công trong học tập, lao động và cuộc sống cũng là cách thiết thực để lan tỏa tinh thần lạc quan, khuyến khích xã hội nhìn nhận công bằng hơn về khả năng của trẻ tự kỷ.

Giáo dục hòa nhập không chỉ mang lại cơ hội cho trẻ tự kỷ, mà còn giúp xây dựng một xã hội khoan dung, tôn trọng sự khác biệt. Khi một đứa trẻ tự kỷ được đến trường, đó không chỉ là thành công của gia đình mà còn là thành công của cả hệ thống giáo dục và xã hội. Tương lai, Việt Nam cần phát triển giáo dục hòa nhập theo hướng cá nhân hóa, gắn kết với xu thế quốc tế và bảo đảm mọi trẻ em đều có có hội phát triển công bằng. Giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ là một nhiệm vụ vừa mang tính nhân văn, vừa mang ý nghĩa phát triển bền vững. Dù Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu bước đầu, nhưng vẫn cần sự nỗ lực đồng bộ của Nhà nước, nhà trường, gia đình và cộng đồng để thực sự biến giáo dục hòa nhập thành hiện thực cho mọi trẻ em. Chỉ khi đó, chúng ta mới có thể khẳng định một cách tự hào rằng: không một trẻ em nào bị bỏ lại phía sau.

Tào Thị Thoa - Trường chính trị tỉnh Đồng Nai