logo
ISSN 2734-9020

Hiệu quả truyền thông thiên tai tới đồng bào dân tộc thiểu số: Kết quả nghiên cứu tại 6 xã có rủi ro cao về thiên tai ở Việt Nam

Thứ sáu, 06/11/2026 - 12:50

Tóm tắt: Nghiên cứu định tính tại 6 xã thuộc Cao Bằng, Lào Cai và Gia Lai phân tích cách người dân tiếp nhận thông tin thiên tai và chuyển thông tin thành hành động ứng phó. Kết quả cho thấy truyền hình, truyền thanh, điện thoại, nền tảng số và tuyên truyền trực tiếp cùng tham gia truyền tin.

Tuy nhiên, khoảng cách giữa việc "biết có nguy hiểm" và hành động bảo vệ vẫn tồn tại. Mức độ cụ thể của cảnh báo, khả năng tiếp cận, niềm tin, kinh nghiệm và cân nhắc về tài sản, sinh kế đều ảnh hưởng đến quá trình này. Nghiên cứu đề xuất chuyển từ truyền thông để người dân biết sang truyền thông giúp họ hiểu, tin và biết cần làm gì.

Đặt vấn đề

Thiên tai là thách thức đối với phát triển bền vững, đặc biệt ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, nơi địa hình phức tạp, hạ tầng hạn chế và sinh kế phụ thuộc nhiều vào tự nhiên. Trong bối cảnh thời tiết cực đoan diễn biến phức tạp, giảm thiểu thiệt hại không chỉ phụ thuộc vào dự báo, hạ tầng hay cứu hộ, mà còn vào khả năng chuyển thông tin nguy cơ thành thông tin người dân có thể tiếp cận, hiểu và sử dụng. Theo cách tiếp cận cảnh báo sớm lấy con người làm trung tâm, giá trị cảnh báo không chỉ nằm ở độ chính xác và kịp thời, mà còn ở khả năng hỗ trợ cộng đồng chuẩn bị và hành động (Basher, 2006).

Tại các khu vực có đông đồng bào dân tộc thiểu số, tiếp cận thông tin và năng lực ứng phó khác nhau theo địa hình cư trú, hạ tầng truyền thông, khả năng sử dụng công nghệ, ngôn ngữ, văn hóa và kinh nghiệm. Vì vậy, cùng một thông điệp không có nghĩa là các cộng đồng sẽ hiểu và phản ứng giống nhau. Hiệu quả cảnh báo dựa vào cộng đồng còn phụ thuộc vào sự tham gia của người dân, mạng lưới xã hội, thiết chế địa phương và tri thức bản địa (Macherera & Chimbari, 2016; Hadlos et al., 2022).

Nghiên cứu về truyền thông thiên tai đề cập đến cảnh báo sớm, nhận thức rủi ro, niềm tin, quyết định ứng phó và truyền thông cộng đồng. Tuy nhiên, cần xem xét xuyên suốt quá trình từ tiếp cận, diễn giải cảnh báo đến quyết định và hành động, nhất là trong bối cảnh khác biệt về không gian, văn hóa và điều kiện xã hội. Theo Mô hình Quyết định Hành động Bảo vệ, tiếp nhận cảnh báo không tất yếu dẫn đến ứng phó; phản ứng còn phụ thuộc vào đánh giá nguy hiểm, hiệu quả của biện pháp bảo vệ, khả năng thực hiện và điều kiện thực tế (Lindell & Perry, 2012).

Nghiên cứu được triển khai tại Cần Yên, Xuân Trường (Cao Bằng), Phúc Khánh, Tả Van (Lào Cai), Ia Pnôn và Ia O (Gia Lai). Sáu xã đại diện cho ba không gian Đông Bắc, Tây Bắc và Tây Nguyên, có khác biệt về điều kiện tự nhiên, dân cư, văn hóa – xã hội, hạ tầng và môi trường truyền thông. Cách lựa chọn này giúp nhận diện điểm tương đồng, khác biệt và vai trò của bối cảnh đối với việc người dân tiếp cận, hiểu, đánh giá và sử dụng thông tin.

Nghiên cứu tập trung trả lời: thông tin thiên tai đến cộng đồng qua những kênh nào, được tiếp nhận và diễn giải ra sao, và điều kiện nào quyết định việc chuyển thông tin thành hành động? Trọng tâm vì thế không chỉ là truyền đạt cảnh báo, mà còn là quá trình ra quyết định và ứng phó của cộng đồng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu định tính được thực hiện tại 6 xã nêu trên, lựa chọn nhằm phản ánh khác biệt về điều kiện tự nhiên, xã hội, hạ tầng thông tin và đặc điểm văn hóa của các cộng đồng dân tộc thiểu số.

Dữ liệu được thu thập qua phỏng vấn sâu bán cấu trúc, nghiên cứu tài liệu, phân tích nội dung và quan sát thực địa. Nghiên cứu thực hiện gần 60 cuộc phỏng vấn với người dân, lực lượng biên phòng, già làng, trưởng thôn, người có uy tín, công an, cán bộ cơ sở, cán bộ truyền thông, cán bộ khí tượng thủy văn và những người liên quan đến hoạt động truyền thông thiên tai tại Đài Truyền hình Việt Nam. Đối tượng được chọn có chủ đích theo vai trò, kinh nghiệm và mức độ liên quan.

Nghiên cứu tài liệu hệ thống hóa cơ sở lý luận, chính sách và các công trình về truyền thông thiên tai, cảnh báo sớm, truyền thông cộng đồng. Phân tích nội dung các chương trình, chuyên mục và bản tin thiên tai trên Đài Truyền hình Việt Nam tập trung vào chủ đề, thông điệp, hình thức thể hiện, ngôn ngữ, cảnh báo và hướng dẫn hành động. Quan sát thực địa ghi nhận hệ thống truyền thanh, hạ tầng thông tin, tuyên truyền trực tiếp và điều kiện tiếp nhận của người dân.

Dữ liệu phỏng vấn và tài liệu được mã hóa bằng MaxQDA 26, phân tích theo chủ đề, đối chiếu nhóm chủ thể và so sánh giữa 6 địa bàn. Độ tin cậy mã hóa được kiểm tra trên một phần dữ liệu bằng hệ số Kappa của Cohen. Bộ dữ liệu gồm 17 tài liệu, tổng cộng 485 trang; 15% mẫu được chọn để kiểm tra độ tin cậy (McHugh, 2012).

Khung phân tích xem xét quá trình tiếp cận – hiểu – nhận thức – thái độ – hành động, đồng thời chú ý các yếu tố văn hóa, chính trị, kỹ thuật và địa hình. Nghiên cứu của Le (2026) giúp làm rõ vai trò của nền tảng văn hóa trong cách con người nhận biết, lý giải và đánh giá thiên tai.

Do nghiên cứu được thực hiện theo hướng định tính tại 6 xã, kết quả chủ yếu nhằm nhận diện các đặc điểm và yếu tố ảnh hưởng trong những địa bàn khảo sát, không nhằm khái quát thống kê cho toàn bộ cộng đồng dân tộc thiểu số ở Việt Nam.

Kết quả nghiên cứu

Truyền thông thiên tai đã đến được với người dân như thế nào?

Khảo sát cho thấy thông tin thiên tai được truyền qua nhiều kênh và chủ thể. Cơ quan chuyên môn cung cấp dự báo, cảnh báo; chính quyền tổ chức truyền tin; truyền hình, trong đó có VTV/VTV5, cung cấp thông tin diện rộng; loa truyền thanh, điện thoại, họp thôn và tuyên truyền trực tiếp đưa thông tin đến cộng đồng.

Trưởng thôn, già làng, người có uy tín, Bộ đội Biên phòng, công an, đoàn thể, nhà trường và gia đình cũng tham gia truyền tin. Cảnh báo từ chính quyền có thể được phát qua loa, điện thoại, sau đó được giải thích thêm bởi người có uy tín; với hộ khó tiếp cận, cán bộ hoặc người trong cộng đồng đến tận nhà thông báo.

Chuyển đổi số tạo thêm kênh truyền tin nhanh nhưng chưa thay thế phương thức truyền thống. Với người cao tuổi, hộ ở xa trung tâm hoặc nơi mạng không ổn định, loa và tuyên truyền trực tiếp vẫn quan trọng. Tại Ia O, cồng chiêng, trống, kẻng có thể được sử dụng bên cạnh loa và nền tảng số.

Khả năng tiếp cận thông tin khác nhau ngay trong cùng gia đình: có người dùng điện thoại, mạng xã hội, trong khi người khác chủ yếu nghe loa hoặc nhận tin từ người thân. Một số người cao tuổi phụ thuộc vào tuyên truyền trực tiếp; có trường hợp phụ nữ ít xem truyền hình và chủ yếu nhận thông tin qua chồng. Vì vậy, cần đánh giá thông tin đã đến được từng nhóm người hay chưa, không chỉ dựa vào độ phủ của phương tiện.

Niềm tin có vai trò quan trọng: người dân dễ tiếp nhận hơn khi thông tin được giải thích bởi người quen thuộc, hiểu địa bàn và được cộng đồng tin tưởng. Tuy nhiên, người có uy tín không thay thế nguồn chuyên môn mà giúp giải thích, nhắc nhở và hỗ trợ thực hiện hành động dựa trên thông tin chính thức.

Từ tiếp nhận thông tin đến hành động: hiệu quả và những khoảng cách

Tại Ia Pnôn, một số người biết có nguy hiểm nhưng khó hình dung mức độ nghiêm trọng; tại Ia O, có người nghe cảnh báo nhưng chưa hình dung đầy đủ tình huống có thể xảy ra. Như vậy, thông tin đã đến nhưng chưa chắc đủ để thúc đẩy quyết định. Vấn đề không chỉ nằm ở việc người dân có nghe cảnh báo hay không. Một thông tin về mưa lớn, lũ quét hoặc sạt lở cần giúp người dân trả lời những câu hỏi cụ thể: nguy cơ xảy ra ở đâu, khu vực nào bị ảnh hưởng, mức độ đến đâu, khi nào cần di chuyển và phải làm gì để an toàn.

Tại Xuân Trường, người dân mong muốn cảnh báo cụ thể hơn về khu vực chịu ảnh hưởng. Nghiên cứu cũng ghi nhận trường hợp người dân vẫn đi qua ngầm tràn hoặc suối nước chảy xiết dù đã có cảnh báo. Độ phủ thông tin chưa đủ để bảo đảm hành động phù hợp.

Kinh nghiệm sống giúp người dân nhận biết dấu hiệu thời tiết bất thường, nhưng cũng có thể khiến một số người chờ đến khi thấy nguy hiểm rõ ràng mới hành động. Khi nguy cơ được dự báo nhưng chưa xảy ra ngay, quyết định di chuyển hoặc sơ tán có thể bị trì hoãn.

Người dân cần tin vào cả nội dung cảnh báo và người truyền tin. Tại Cần Yên, người dân cho biết họ tin tưởng Bộ đội Biên phòng và làm theo thông tin khi có lụt bão. Ở Ia Pnôn, tuyên truyền trực tiếp kết hợp với già làng, trưởng thôn và người có uy tín được đánh giá hiệu quả nhờ sự gần gũi với cộng đồng.

Tuy nhiên, niềm tin cũng phụ thuộc vào tính nhất quán của thông tin. Nếu thông tin chính thức và thông tin được truyền lại trong cộng đồng khác nhau mà không được giải thích rõ, người dân có thể hoài nghi giữa các nguồn. Vì vậy, người có uy tín cần làm tốt vai trò giải thích và hỗ trợ hành động, trong khi thông tin chuyên môn vẫn phải là nền tảng. Người dân có thể biết cần sơ tán nhưng vẫn cân nhắc nhà cửa, tài sản, vật nuôi, sản xuất và sinh kế. Nếu cảnh báo chỉ yêu cầu sơ tán mà không nói rõ đi đâu, ai hỗ trợ, tài sản và vật nuôi xử lý thế nào, việc thực hiện sẽ khó khăn hơn.

Điện thoại và nền tảng số truyền tin nhanh nhưng phụ thuộc thiết bị, kỹ năng, điện và mạng. Loa truyền thanh, tuyên truyền trực tiếp tiếp cận được những người ít sử dụng công nghệ, dù khó truyền tải nội dung dài và chi tiết.

Ngôn ngữ và cách diễn đạt cũng ảnh hưởng đến khả năng hiểu. Cảnh báo chính xác nhưng nhiều thuật ngữ chuyên môn có thể khó tiếp nhận; do đó cần dùng ngôn ngữ quen thuộc, câu ngắn, cách nói gần đời sống và có người trực tiếp giải thích.

Hiệu quả truyền thông không thể chỉ đo bằng số người nghe hay số kênh sử dụng. Lượt xem truyền hình, thông báo được phát rộng hoặc cảnh báo đăng trên mạng xã hội phản ánh độ phủ; hiệu quả thực chất còn nằm ở việc người dân hiểu nguy cơ, tin thông tin và thực hiện hành động phù hợp.

Để thông tin thực sự trở thành hành động

Thay vì chỉ thông báo "mưa lớn", "nguy cơ lũ quét" hay "nguy cơ sạt lở", cảnh báo cần nêu rõ khu vực nguy hiểm, thời gian cần lưu ý, tuyến đường nên tránh và việc người dân cần chuẩn bị. Với mỗi loại thiên tai, nên xây dựng thông điệp hành động ngắn, dễ nhớ và thống nhất giữa các kênh.

Nội dung cũng cần được truyền tải trước khi thiên tai xảy ra. Người dân cần được hướng dẫn về cách chuẩn bị lương thực, nước uống, thuốc men, gia cố nhà cửa, di chuyển vật nuôi, xác định nơi sơ tán và cách liên hệ với lực lượng hỗ trợ. Khi có cảnh báo, những kiến thức này sẽ được chuyển thành hành động nhanh hơn.

Cần tăng cường tập huấn và diễn tập tại cộng đồng. Truyền thông bằng lời nói giúp người dân biết, còn thực hành giúp hình thành kỹ năng. Nhà trường, đoàn thể và lực lượng tại chỗ có thể tham gia; tại Tả Van, học sinh còn là cầu nối đưa thông tin từ nhà trường về gia đình.

Các kênh cần phát huy thế mạnh và hỗ trợ lẫn nhau: truyền hình cung cấp thông tin rộng, hình ảnh và giải thích; loa truyền thanh nhắc lại thông tin tại cộng đồng; điện thoại truyền tin nhanh; trưởng thôn, già làng, người có uy tín và lực lượng tại chỗ có lợi thế về sự gần gũi và khả năng hỗ trợ hành động.

Báo chí và truyền hình, trong đó có VTV/VTV5, cần tăng nội dung hướng dẫn kỹ năng, giải thích nguy cơ và mô tả tình huống cụ thể. Tuy nhiên, truyền hình không thay thế được hệ thống thông tin cơ sở: truyền hình góp phần cung cấp thông tin, tạo nhận thức; hệ thống cơ sở giúp chuyển thông tin thành hành động. Hai hệ thống cần được kết nối.

Với các hộ khó tiếp cận công nghệ, cần duy trì loa truyền thanh và tuyên truyền trực tiếp. Địa phương nên xác định trước hộ có người cao tuổi, người không dùng điện thoại thông minh hoặc sống trong vùng nguy cơ cao để chủ động tiếp cận khi có cảnh báo.

Cần bảo đảm tính thống nhất của cảnh báo. Khi thông tin chuyên môn được chuyển qua chính quyền, trưởng thôn và người có uy tín, nội dung cốt lõi phải được giữ nguyên. Người truyền tin ở cơ sở có nhiệm vụ giải thích cho dễ hiểu, không thay thế nguồn chuyên môn.

Cần thiết lập cơ chế phản hồi. Sau mỗi đợt thiên tai hoặc diễn tập, cần xác định người dân nhận cảnh báo từ đâu, nội dung nào khó hiểu, nhóm nào chưa tiếp cận được và nguyên nhân, từ đó điều chỉnh cách truyền thông theo từng địa bàn.

Từ kết quả khảo sát, truyền thông thiên tai ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số nên được tổ chức thành mạng lưới nhiều tầng: thông tin chuyên môn làm nền tảng; báo chí và truyền hình cung cấp thông tin rộng, dễ hiểu; chính quyền cụ thể hóa theo địa bàn; loa, điện thoại và nền tảng số bảo đảm tốc độ, độ phủ; người có uy tín và lực lượng tại chỗ hỗ trợ người dân hiểu, hành động; gia đình và cộng đồng tiếp nhận, thực hiện và phản hồi.

Kết luận

Nghiên cứu tại 6 xã thuộc Cao Bằng, Lào Cai và Gia Lai cho thấy truyền thông thiên tai có mạng lưới đa dạng, với truyền hình, truyền thanh, nền tảng số, tuyên truyền trực tiếp và mạng lưới cộng đồng cùng tham gia. Hiệu quả truyền thông cần được nhìn từ khả năng đưa người dân đi qua các bước tiếp cận – hiểu – tin – quyết định – hành động, thay vì chỉ đếm số thông tin phát đi hoặc số kênh được sử dụng. Do đó, cần chuyển từ truyền thông để người dân "biết" sang truyền thông để người dân "hiểu, tin và hành động". Cảnh báo phải cụ thể về địa điểm, mức độ nguy cơ và hành động cần thực hiện; nội dung dễ hiểu, phù hợp từng nhóm; các kênh kết nối, bổ trợ; đồng thời duy trì truyền thông cơ sở, tập huấn, diễn tập và cơ chế phản hồi cộng đồng.

Trương Thị Hiền -Trường ĐH Victoria Hòa Bình

TS. Lê Ngọc Sơn - Trường Đại học Intracom


TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1.Basher, R. (2006). Global early warning systems for natural hazards: Systematic and people-centred. Philosophical Transactions of the Royal Society A: Mathematical, Physical and Engineering Sciences, 364(1845), 2167–2182.

2. Hadlos, A., Opdyke, A., & Hadigheh, S. (2022). Where does local and indigenous knowledge in disaster risk reduction go from here? A systematic literature review. International Journal of Disaster Risk Reduction.

3.Le, N.-S. (2026). "Disaster Communication and Disaster Epistemology: Cultural Foundations of Knowing and Normalizing Crisis." Journal of Contingencies and Crisis Management 34: e70177. Wiley. https://doi.org/10.1111/1468-5973.70177.

4.Lindell, M. K., & Perry, R. W. (2012). The Protective Action Decision Model: Theoretical Modifications and Additional Evidence. Risk Analysis, 32(4), 616–632.

5.Macherera, M., & Chimbari, M. J. (2016). A review of studies on community based early warning systems. Jàmbá: Journal of Disaster Risk Studies, 8(1), Article 206.

6.McHugh, M. L. (2012). Interrater reliability: The kappa statistic. Biochemia Medica, 22(3), 276–282. https://doi.org/10.11613/BM.2012.031.

7.Nguyen, T., & Hamid, M. (2018). Bilingualism as a resource: Language attitudes of Vietnamese ethnic minority students. Current Issues in Language Planning, 19, 343–362.