Thông tin trên được ông Lê Ngọc Lâm, Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) chia sẻ tại Hội nghị “Doanh nghiệp góp phần vào tăng trưởng hai con số và Thủ tướng Chính phủ tri ân doanh nghiệp” diễn ra sáng nay 27/3.
Kiến nghị cho phép bán nợ xấu theo giá thị trường
Theo ông Lâm, đến cuối năm 2025, tổng tài sản của nhóm 4 ngân hàng quốc doanh đạt khoảng 11 triệu tỷ đồng, chiếm 46,5% giá trị tổng tài sản toàn ngành ngân hàng. Trong đó, BIDV là ngân hàng có tổng tài sản lớn nhất, đạt 3,27 triệu tỷ đồng (chiếm 13,9% tổng tài sản toàn ngành).
Về dư nợ tín dụng, tổng dư nợ của 4 ngân hàng này đạt khoảng 8 triệu tỷ đồng, chiếm 42,3% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Riêng thị phần tín dụng của BIDV đạt 12,5%.

Ông Lê Ngọc Lâm, Tổng Giám đốc BIDV phát biểu tại Hội nghị. Ảnh VGP
Trong năm 2026, với tốc độ tăng trưởng bình quân do Ngân hàng Nhà nước giao khoảng 11 - 12%, các ngân hàng thương mại nhà nước dự kiến gia tăng giải ngân khoảng 1 triệu tỷ đồng, để phục vụ các nhu cầu vốn của nền kinh tế.
Nguồn vốn tín dụng của các ngân hàng sẽ tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên như: nông nghiệp, xuất khẩu, công nghiệp chế biến chế tạo, năng lượng và chuyển đổi số. Đây là các động lực tăng trưởng kinh tế quan trọng.
Để hệ thống ngân hàng phát huy hơn nữa vai trò dẫn dắt và hỗ trợ các động lực tăng trưởng, thay mặt các ngân hàng thương mại nhà nước, Lãnh đạo BIDV kiến nghị tiếp tục nâng cao năng lực tài chính cho các ngân hàng thương mại nhà nước theo hướng bền vững, linh hoạt và chủ động. Trong đó, cho phép giữ lại toàn bộ lợi nhuận để chi trả cổ tức bằng cổ phiếu nhằm nâng cao năng lực vốn.
Bên cạnh đó, BIDV đề xuất Chính phủ cho phép bán nợ xấu theo giá thị trường (có thể thấp hơn giá gốc của khoản nợ) nhưng vẫn thực hiện đảm bảo đúng quy trình, thủ tục công khai, minh bạch để giải phóng nguồn lực hiện nay đang bị ách tắc do nợ xấu.
Cần kiểm soát chặt 3 yếu tố để ổn định lãi suất
Về phía các ngân hàng thương mại tư nhân, ông Lưu Trung Thái, Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội (MB) cho biết, về mặt ngắn hạn, việc đạt được tốc độ tăng trưởng hai con số là một thách thức, nhưng để duy trì sự tăng trưởng đó trong dài hạn lại là một bài toán khó hơn rất nhiều.
Do đó, việc ổn định kinh tế vĩ mô bền vững là yêu cầu bắt buộc, trong đó cốt lõi là ổn định lãi suất. Nếu không duy trì được mặt bằng chi phí tài chính thấp, doanh nghiệp sẽ không có động lực để mở rộng đầu tư. Trong hệ sinh thái này, ngành ngân hàng đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh thường xuyên của khối doanh nghiệp tư nhân.

Ông Lưu Trung Thái, Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội (MB) phát biểu tại Hội nghị. Ảnh VGP.
Để hiện thực hóa mục tiêu giảm lãi suất cho vay và giảm gánh nặng chi phí tài chính cho doanh nghiệp, lãnh đạo MB cho rằng cần kiểm soát chặt chẽ 3 yếu tố chính.
Thứ nhất là chi phí quản lý của các ngân hàng. Hiện nay, tỷ lệ chi phí quản lý trên tổng doanh thu (CIR) của những ngân hàng quản trị tốt chỉ ở mức khoảng 25%, trong khi có những đơn vị lên tới 50%. Đây chính là dư địa để tối ưu hóa hoạt động.
Thứ hai là chi phí vốn đầu vào, cụ thể là lãi suất huy động tiền gửi tiết kiệm. Yếu tố này phụ thuộc trực tiếp vào tính thanh khoản và khả năng luân chuyển vốn thông thoáng trong nền kinh tế. Khi dòng vốn được lưu thông thuận lợi, chi phí đầu vào của ngân hàng sẽ giảm xuống.
Thứ ba là kiểm soát chi phí rủi ro nợ xấu. Chi phí dự phòng rủi ro nợ xấu hiện chiếm khoảng 18% đến 20% trong cơ cấu chi phí của ngành ngân hàng.
Tại các quốc gia quản trị tốt vấn đề này, họ tập trung vào hai khía cạnh: nâng cao năng lực quản trị rủi ro của ngân hàng và tăng cường ý thức tuân thủ kỷ luật tài chính của người đi vay. Nếu đảm bảo được sự cân bằng quyền lợi và trách nhiệm giữa bên vay và bên cho vay trong việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ, chi phí rủi ro sẽ giảm, từ đó có điều kiện kéo lãi suất cho vay xuống mức thấp hơn.
Về mô hình tăng trưởng dài hạn, lãnh đạo MB đề xuất xác định rõ những ngành kinh tế mũi nhọn mà Việt Nam có lợi thế cạnh tranh thực sự trên trường quốc tế. Năng lực cạnh tranh quốc gia phải bắt đầu từ việc lựa chọn đúng ngành để phát triển.
Trước hết, cần khai thác hiệu quả các nguồn tài nguyên sẵn có như một lợi thế khởi đầu, tiếp theo là chú trọng vào khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhưng cần xác định cụ thể đâu là công nghệ lõi và ngành công nghiệp lõi mà Việt Nam cần ưu tiên.
Từ đó, Chính phủ cần ban hành các cơ chế đặc thù để khuyến khích các doanh nghiệp dũng cảm đầu tư dài hạn, hình thành nên năng lực cốt lõi riêng biệt cho từng doanh nghiệp, qua đó nâng tầm sức mạnh kinh tế quốc gia.
Phương Vy