Khi đối ngoại nhân dân trở thành năng lực cạnh tranh quốc gia: Kỳ 2: Khi mỗi người dân trở thành nhịp cầu đưa hình ảnh Việt Nam vươn ra thế giới
Khi mỗi người dân là một sứ giả…
Nếu đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước đại diện cho ý chí của quốc gia, thì đối ngoại nhân dân lại phản ánh diện mạo của đất nước qua từng con người, từng tổ chức, từng doanh nghiệp và từng cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Trong kỷ nguyên số, khi khoảng cách giữa đối nội và đối ngoại ngày càng bị xóa nhòa, mỗi người Việt Nam đều có thể trở thành một "điểm chạm" để thế giới cảm nhận về Việt Nam.
Đây là sự thay đổi căn bản trong cách tiếp cận đối ngoại. Nếu trước đây, hình ảnh quốc gia chủ yếu được xây dựng thông qua các kênh truyền thông chính thức hoặc hoạt động ngoại giao, thì ngày nay, hình ảnh ấy được hình thành từ vô số trải nghiệm thực tế. Một nhà đầu tư đánh giá Việt Nam không chỉ qua các báo cáo kinh tế mà còn qua cách chính quyền địa phương giải quyết thủ tục hành chính. Một học giả quốc tế không chỉ nhìn vào các bài phát biểu của lãnh đạo mà còn qua chất lượng hợp tác với đồng nghiệp Việt Nam. Một du khách không chỉ ghi nhớ cảnh quan thiên nhiên mà còn ghi nhớ thái độ của người bán hàng, người lái xe, nhân viên khách sạn hay những người dân bình thường mà họ gặp trên đường. Những trải nghiệm ấy cộng lại tạo nên hình ảnh quốc gia trong nhận thức của thế giới.
Đại hội XIV của Đảng đặt con người vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển khi khẳng định: "Phát huy cao nhất nhân tố con người, lấy con người là trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của sự phát triển"[1]. Nội dung này không chỉ có ý nghĩa đối với phát triển kinh tế - xã hội mà còn mở ra một cách nhìn mới về đối ngoại nhân dân. Khi con người được xác định là chủ thể của phát triển thì cũng đồng thời trở thành chủ thể của đối ngoại. Không có hình ảnh quốc gia nào tồn tại tách rời hình ảnh của những con người đang đại diện cho quốc gia đó mỗi ngày.
Chính vì vậy, đối ngoại nhân dân không thể chỉ là công việc của Liên hiệp các tổ chức hữu nghị, Mặt trận Tổ quốc hay các tổ chức đoàn thể. Đó phải trở thành năng lực chung của cả xã hội. Một doanh nghiệp kinh doanh có trách nhiệm đang góp phần nâng cao uy tín Việt Nam. Một trường đại học đào tạo sinh viên quốc tế bằng chất lượng thực sự đang làm đối ngoại. Một bác sĩ tận tâm với bệnh nhân nước ngoài, một kỹ sư tham gia dự án quốc tế với tác phong chuyên nghiệp, một vận động viên thi đấu trung thực, một nghệ sĩ lan tỏa giá trị văn hóa Việt Nam hay một tình nguyện viên hỗ trợ bạn bè quốc tế trong thiên tai, dịch bệnh... tất cả đều đang góp phần xây dựng thương hiệu Việt Nam bằng những hành động cụ thể.
Đó là điểm khác biệt giữa đối ngoại nhân dân của thời kỳ hội nhập sâu rộng với giai đoạn trước. Nếu trước đây, nhiệm vụ chủ yếu là mở rộng giao lưu thì hôm nay, yêu cầu cao hơn nhiều: mỗi cuộc tiếp xúc phải tạo thêm một đối tác; mỗi hoạt động phải mở ra một cơ hội hợp tác; mỗi công dân phải góp phần làm dày thêm vốn uy tín của quốc gia.
Hiện nay, chỉ với một chiếc điện thoại thông minh, một bài viết, một bức ảnh hay một đoạn video, bất kỳ ai cũng có thể đưa hình ảnh về đất nước mình đến hàng triệu người trên thế giới. Điều đó đồng nghĩa với việc quyền lực truyền thông không còn nằm độc quyền trong tay các cơ quan báo chí hay các tổ chức ngoại giao, mà vươn dài tới từng công dân. Sự thay đổi này vừa mở ra cơ hội lớn, vừa đặt ra yêu cầu mới đối với đối ngoại nhân dân. Một doanh nhân Việt Nam thành công ở nước ngoài không chỉ đại diện cho doanh nghiệp của mình mà còn góp phần định hình nhận thức của đối tác về môi trường kinh doanh Việt Nam. Một nghiên cứu sinh công bố công trình trên tạp chí quốc tế không chỉ khẳng định năng lực cá nhân mà còn góp phần nâng cao vị thế học thuật của đất nước. Một đầu bếp quảng bá ẩm thực Việt Nam, một nghệ sĩ giới thiệu âm nhạc dân tộc, một YouTuber, Tiktoker… kể những câu chuyện đẹp về quê hương hay một lưu học sinh tích cực tham gia các hoạt động cộng đồng đều đang thực hiện đối ngoại nhân dân theo cách của mình.
Ngược lại, những hành vi thiếu chuẩn mực của một cá nhân cũng có thể nhanh chóng ảnh hưởng đến hình ảnh quốc gia. Trong môi trường truyền thông số, một đoạn video về cách ứng xử thiếu văn minh, một vụ việc gian lận thương mại hay một phát ngôn cực đoan có thể lan truyền với tốc độ rất nhanh và để lại những ấn tượng tiêu cực kéo dài. Điều đó cho thấy, hình ảnh quốc gia không còn được xây dựng bằng những chiến dịch truyền thông ngắn hạn mà bằng chất lượng hành vi của hàng triệu công dân trong đời sống hằng ngày.
Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có bản lĩnh, tri thức, đạo đức, trách nhiệm xã hội và năng lực hội nhập quốc tế. Đây chính là nền tảng quan trọng để hình thành văn hóa đối ngoại của công dân Việt Nam trong giai đoạn mới. Bởi lẽ, đối ngoại nhân dân trước hết không phải là kỹ năng giao tiếp với người nước ngoài, mà là năng lực thể hiện những giá trị tốt đẹp của dân tộc thông qua hành vi ứng xử, tinh thần hợp tác và ý thức trách nhiệm.
Trong bối cảnh đó, khái niệm "đại sứ" cũng cần được hiểu rộng hơn. Đại sứ không chỉ là người được Nhà nước cử đi công tác ở nước ngoài. Mỗi người Việt Nam khi tiếp xúc với bạn bè quốc tế đều đang mang theo hình ảnh của đất nước. Một lời hứa được thực hiện đúng cam kết, một hợp đồng được hoàn thành bằng sự chuyên nghiệp, một thái độ cởi mở trong trao đổi học thuật hay một cử chỉ nhân văn trong đời sống thường nhật đều có thể tạo nên những ấn tượng tích cực mạnh mẽ hơn nhiều thông điệp tuyên truyền.
Chính vì vậy, xây dựng năng lực cạnh tranh quốc gia thông qua đối ngoại nhân dân phải bắt đầu từ việc hình thành văn hóa hội nhập của mỗi công dân. Đó là văn hóa tôn trọng sự khác biệt, ứng xử văn minh, giữ chữ tín, làm việc chuyên nghiệp, chủ động hợp tác và luôn ý thức rằng mình đang đại diện cho hình ảnh Việt Nam trước thế giới. Khi hàng triệu công dân cùng tạo nên hàng triệu "điểm chạm" tích cực như vậy, đối ngoại nhân dân sẽ không còn là những hoạt động diễn ra trong các sự kiện, mà trở thành một dòng chảy tự nhiên, bền bỉ, hiện diện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Từ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đến hệ sinh thái đối ngoại nhân dân của quốc gia
Cộng đồng hơn 6 triệu người Việt Nam ở nước ngoài chính là mạng lưới đối ngoại nhân dân rộng lớn nhất mà đất nước đang sở hữu. Không một quốc gia nào có thể xây dựng năng lực cạnh tranh quốc gia trong thời đại toàn cầu hóa nếu bỏ quên nguồn lực đặc biệt này.
Điểm đáng chú ý là vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đã thay đổi rất nhanh trong những năm gần đây. Trước đây, kiều bào ta được nhìn nhận như một bộ phận của khối đại đoàn kết dân tộc, là cầu nối tình cảm giữa quê hương với bạn bè quốc tế. Ngày nay, họ còn là một phần của mạng lưới tri thức, đổi mới sáng tạo, đầu tư, thương mại và chuyển giao công nghệ toàn cầu. Chính sự thay đổi đó đòi hỏi tư duy về đối ngoại nhân dân cũng phải thay đổi theo, từ cách tiếp cận thiên về vận động, kết nối sang tư duy đồng hành, hợp tác và cùng kiến tạo giá trị.
Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định chủ trương quan tâm, chăm lo, hỗ trợ đồng bào Việt Nam ở nước ngoài ổn định cuộc sống, phát triển, hội nhập xã hội sở tại; củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; khuyến khích đồng bào hướng về quê hương, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc[2]. Quan điểm này không chỉ thể hiện trách nhiệm của Đảng và Nhà nước đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài mà còn phản ánh một tư duy mới: coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận cấu thành nguồn lực phát triển quốc gia.
Ý nghĩa của chủ trương này không chỉ nằm ở việc củng cố khối đại đoàn kết dân tộc. Điều quan trọng hơn là hình thành một hệ sinh thái kết nối giữa trong nước với mạng lưới người Việt Nam trên toàn cầu. Một nhà khoa học Việt Nam đang làm việc tại Hoa Kỳ có thể kết nối các nhóm nghiên cứu trong nước với những trung tâm khoa học hàng đầu thế giới. Một doanh nhân kiều bào tại châu Âu có thể mở cánh cửa đưa doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng mới. Một chuyên gia công nghệ đang làm việc tại Singapore có thể chia sẻ kinh nghiệm về trí tuệ nhân tạo, bán dẫn hay kinh tế số. Một nghệ sĩ Việt Nam thành công ở nước ngoài có thể lan tỏa sức hấp dẫn của văn hóa Việt Nam đến công chúng quốc tế.
Điều đáng nói là giá trị của mạng lưới ấy không nằm ở từng cá nhân riêng lẻ mà ở khả năng kết nối giữa họ với nhau và với trong nước. Khi các nhà khoa học kết nối với doanh nghiệp, doanh nghiệp kết nối với địa phương, địa phương kết nối với trường đại học, trường đại học kết nối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, một hệ sinh thái đối ngoại nhân dân mới bắt đầu hình thành. Hệ sinh thái ấy tạo ra những chuỗi giá trị bền vững hơn rất nhiều so với các hoạt động giao lưu đơn lẻ.
Đây cũng là hướng tiếp cận được Nghị quyết số 59-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới nhấn mạnh khi đặt yêu cầu huy động hiệu quả mọi nguồn lực bên ngoài, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để phục vụ phát triển đất nước. Trong cấu trúc nguồn lực ấy, đối ngoại nhân dân không chỉ góp phần mở rộng quan hệ mà còn tạo điều kiện để tri thức, công nghệ, đầu tư, kinh nghiệm quản trị và các sáng kiến phát triển được kết nối với Việt Nam một cách nhanh chóng và bền vững.
Từ góc độ này, có thể nói lợi thế của đối ngoại nhân dân không còn nằm ở số lượng các hoạt động hữu nghị, mà ở khả năng hình thành những mạng lưới hợp tác xuyên biên giới. Quốc gia nào xây dựng được mạng lưới càng rộng, càng đa dạng và càng có chất lượng thì khả năng tiếp cận các nguồn lực phát triển càng lớn. Đây chính là một trong những lợi thế cạnh tranh mới của các quốc gia trong thời đại kinh tế tri thức.
Đối ngoại nhân dân phải chuyển từ "quảng bá hình ảnh" sang "đồng kiến tạo giá trị"
Trong nhiều năm, khi nói đến đối ngoại nhân dân, chúng ta thường nhấn mạnh nhiệm vụ giới thiệu đất nước, quảng bá văn hóa và tăng cường tình hữu nghị. Những nhiệm vụ đó vẫn rất quan trọng, nhưng nếu chỉ dừng lại ở quảng bá, đối ngoại nhân dân sẽ khó theo kịp yêu cầu của giai đoạn phát triển mới.
Một quốc gia không thể nâng cao năng lực cạnh tranh chỉ bằng việc kể những câu chuyện hay về mình. Điều thế giới cần nhiều hơn là những cơ hội để cùng hợp tác, cùng sáng tạo và cùng tạo ra giá trị mới. Chính vì vậy, đối ngoại nhân dân của thế kỷ XXI không chỉ làm nhiệm vụ truyền tải hình ảnh Việt Nam mà phải trở thành không gian để Việt Nam và bạn bè quốc tế cùng giải quyết những vấn đề chung.
Đại hội XIV xác định yêu cầu "chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, hiệu quả; phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong giữ vững môi trường hòa bình, huy động nguồn lực bên ngoài và nâng cao vị thế, uy tín của đất nước"[3] Điểm mới trong quan điểm này là đối ngoại không chỉ bảo vệ môi trường phát triển mà còn trực tiếp tạo ra nguồn lực cho phát triển. Đối ngoại nhân dân vì thế cũng phải chuyển mình. Giá trị của đối ngoại nhân dân không được quyết định bởi những sự kiện được tổ chức thành công, mà bởi những dự án được khởi động sau đó. Một diễn đàn thanh niên cần để lại các sáng kiến chung về chuyển đổi số, khởi nghiệp hay phát triển xanh. Hợp tác đại học phải mở đường cho các phòng thí nghiệm chung, mạng lưới nghiên cứu quốc tế và những công trình khoa học có khả năng đi vào cuộc sống. Còn giao lưu văn hóa chỉ thực sự trọn vẹn khi vẻ đẹp của văn hóa Việt Nam được chuyển hóa thành sức hút của du lịch, sức cạnh tranh của công nghiệp văn hóa và giá trị gia tăng của nền kinh tế sáng tạo. Đó là lúc đối ngoại nhân dân không còn tạo ra những giá trị mang tính biểu tượng, mà tạo ra giá trị phát triển cụ thể. Thành công của một hoạt động đối ngoại không chỉ được đo bằng số lượng đại biểu tham dự hay số bản ghi nhớ được ký kết, mà bằng những dự án tiếp tục được triển khai, những doanh nghiệp tiếp tục hợp tác, những nhóm nghiên cứu tiếp tục làm việc cùng nhau và những sáng kiến tiếp tục được hiện thực hóa.
Đây cũng là sự khác biệt căn bản giữa tư duy đối ngoại nhân dân của giai đoạn mới với cách tiếp cận truyền thống. Nếu trước đây, mục tiêu chủ yếu là tạo thiện cảm, thì hôm nay mục tiêu cao hơn là tạo năng lực hợp tác. Nếu trước đây, chúng ta chú trọng mở rộng quan hệ, thì hiện nay cần chú trọng nâng cao chất lượng và hiệu quả của từng mối quan hệ. Mỗi kết nối phải có khả năng tạo ra tri thức mới, thị trường mới, công nghệ mới hoặc cơ hội phát triển mới.
Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt, quốc gia nào biết biến mạng lưới quan hệ xã hội thành mạng lưới hợp tác phát triển sẽ có lợi thế lớn hơn trong cuộc cạnh tranh toàn cầu. Đó cũng là con đường để Việt Nam chuyển hóa sức mạnh mềm thành nguồn lực cứng, chuyển hóa uy tín thành cơ hội và chuyển hóa tình hữu nghị thành động lực phát triển.
Đối ngoại nhân dân vì thế không chỉ là "cầu nối" giữa Việt Nam với thế giới. Quan trọng hơn, nó đang trở thành không gian đồng kiến tạo giá trị, nơi Nhà nước, doanh nghiệp, trí thức, địa phương, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và bạn bè quốc tế cùng tham gia giải quyết những bài toán phát triển của đất nước.
ThS. Trương Thị Điệp
Phó Trưởng khoa Nhà nước và Pháp luật, Trường Chính trị thành phố Đà Nẵng
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập II, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H.2026, tr. 56.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập II, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H.2026, tr. 18.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H.2026, tr. 101.