Từ 1/10: Thành phố được áp dụng phí giảm ùn tắc và hạn chế phương tiện cá nhân vào khu vực trung tâm
Từ 01/10/2026, Luật Phát triển đô thị 2026 chính thức có hiệu lực, tháo gỡ điểm nghẽn quy hoạch và tạo hành lang pháp lý mới để huy động nguồn lực phát triển kinh tế đô thị. Theo đó, tại điểm g khoản 1 Điều 14 Luật Phát triển đô thị 2026, HĐND Thành phố quy định chính sách, biện pháp về:
g) Hạn chế phương tiện giao thông cá nhân vào khu vực trung tâm Thành phố để giảm ùn tắc giao thông, giảm phát thải; áp dụng phí giảm ùn tắc giao thông;
Như vậy, HĐND Thành phố có thẩm quyền quy định chính sách, biện pháp hạn chế phương tiện giao thông cá nhân vào khu vực trung tâm Thành phố để giảm ùn tắc giao thông, giảm phát thải; đồng thời được áp dụng phí giảm ùn tắc giao thông.
Tuy nhiên, Luật chưa quy định ngay mức phí, đối tượng phải nộp, thời gian thu hoặc khu vực cụ thể áp dụng. Những nội dung này thuộc thẩm quyền quy định của HĐND Thành phố và phải phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương.
Bên cạnh phí giảm ùn tắc, điểm i khoản 1 Điều 14 còn giao HĐND Thành phố quy định lộ trình chuyển đổi, phát triển giao thông xanh; phạm vi vùng phát thải thấp để hạn chế phương tiện giao thông nhằm cải thiện chất lượng không khí và các biện pháp được áp dụng trong vùng phát thải thấp.
Theo điểm d khoản 1 Điều 14, Thành phố cũng được ban hành chính sách hỗ trợ chuyển đổi phương tiện giao thông từ sử dụng nhiên liệu hóa thạch sang sử dụng năng lượng sạch; hạn chế sử dụng phương tiện phát thải gây ô nhiễm môi trường.
Khoản 2 Điều này tiếp tục giao UBND Thành phố quyền kiểm soát hoạt động của phương tiện dựa trên mức độ gây ùn tắc, khả năng đáp ứng của hạ tầng giao thông hiện hữu, yêu cầu quản lý trật tự đô thị và chuyển đổi xanh.
.jpg)
Từ 05/10/2026, người dân có thể phản ánh, tố giác tin giả qua VNeID
Theo khoản 2 Điều 13 Nghị định 328/2026 của Chính phủ quy định việc báo tin, tố giác, phản ánh thông tin có dấu hiệu giả, sai sự thật được thực hiện thông qua một trong các hình thức sau:
Hình thức liên hệ trực tiếp;
Qua đường dây nóng;
Qua cổng thông tin điện tử của các cơ quan, bộ, ban, ngành;
Qua ứng dụng VNeID;
Gửi văn bản đến các cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật.
Như vậy, từ 05/10/2026, VNeID chính thức trở thành một trong các kênh để cá nhân báo tin, tố giác, phản ánh thông tin có dấu hiệu giả, sai sự thật.
Bên cạnh đó, việc xử lý tin báo, tố giác, phản ánh tin giả, tin sai sự thật được thực hiện như sau:
- Đối với tin báo, tố giác, phản ánh tin giả, tin sai sự thật có dấu hiệu tội phạm thì xử lý theo quy định của pháp luật hình sự và các quy định liên quan;
- Đối với tin báo, tố giác, phản ánh tin giả, tin sai sự thật khác không thuộc trường hợp “tin giả, tin sai sự thật đang được các cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật khác” thì được xử lý theo quy trình xử lý tin giả, tin sai sự thật.
Ngoài ra, các cá nhân, cơ quan, tổ chức khi phát hiện tin giả, tin sai sự thật có trách nhiệm thông báo với các cơ quan chức năng có thẩm quyền để giải quyết, xử lý theo quy trình xử lý tin giả, tin sai sự thật.
Đồng thời, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm tiếp nhận và xử lý nguồn tin theo quy định pháp luật.
Từ 5/10, tăng mức chuẩn trợ giúp xã hội lên 540.000 đồng/tháng
Chính phủ đã ban hành Nghị định 335/2026/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội, có hiệu lực từ ngày 05/10/2026.
Theo Điều 4 Nghị định 335 năm 2026, mức chuẩn trợ giúp xã hội chính thức tăng từ 500.000 đồng/tháng lên 540.000 đồng/tháng.
Trong đó, mức chuẩn trợ giúp xã hội là căn cứ để xác định mức trợ cấp xã hội, mức hỗ trợ kinh phí nhận chăm sóc, nuôi dưỡng; mức chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở chăm sóc người cao tuổi, cơ sở chăm sóc người khuyết tật, cơ sở chăm sóc trẻ em và cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng khác (sau đây gọi chung là cơ sở trợ giúp xã hội) và các mức trợ giúp xã hội khác.
Mức trợ cấp xã hội hằng tháng: Bằng mức chuẩn trợ giúp xã hội là 540.000 đồng/tháng nhân với hệ số tương ứng từ 1,0 đến 3,0 tùy từng đối tượng cụ thể.

Từ 18/10: Doanh nghiệp FDI ngừng kinh doanh quá 12 tháng không báo cáo có thể bị thu hồi giấy phép
Chính phủ đã ban hành Nghị định 342/2026/NĐ-CP, về hoạt động mua bán hàng hóa của nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Trong đó, theo điểm d khoản 1 Điều 42 Nghị định 342/2026/NĐ-CP, Giấy phép kinh doanh của tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài bị thu hồi trong trường hợp ngừng kinh doanh hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa quá 12 tháng mà không báo cáo Cơ quan cấp Giấy phép.
Đồng thời, đối với hoạt động bán lẻ, điểm đ khoản 2 Điều 42 Nghị định 342/2026/NĐ-CP quy định Giấy phép lập cơ sở bán lẻ bị thu hồi nếu cơ sở bán lẻ ngừng hoạt động quá 12 tháng mà không báo cáo Cơ quan cấp Giấy phép.
Từ 18/10: Điều kiện cấp giấy phép kinh doanh cho tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Nghị định số 342/2026/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại và Luật Quản lý ngoại thương về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Nghị định quy định tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã có quyền xuất khẩu, được xuất khẩu ra nước ngoài và khu vực hải quan riêng các hàng hóa: Hàng hóa mua tại Việt Nam; hàng hóa do tổ chức kinh tế đó đặt gia công tại Việt Nam và hàng hóa nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam, theo các điều kiện sau:
- Hàng hóa xuất khẩu không thuộc danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, danh mục hàng hóa tạm ngừng xuất khẩu, danh mục hàng hóa không được quyền xuất khẩu trong các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên;
- Đối với hàng hóa xuất khẩu thuộc danh mục hàng hóa xuất khẩu theo giấy phép, theo điều kiện, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải có giấy phép hoặc đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.
Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã có quyền nhập khẩu, được nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài và khu vực hải quan riêng vào Việt Nam, theo các điều kiện sau:
- Hàng hóa nhập khẩu không thuộc danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu, danh mục hàng hóa tạm ngừng nhập khẩu, danh mục hàng hóa không được quyền nhập khẩu trong các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên;
- Đối với hàng hóa nhập khẩu thuộc danh mục hàng hóa nhập khẩu theo giấy phép, theo điều kiện, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải có giấy phép hoặc đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.
Từ 20/10: Nâng hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp lên tối đa 95%
Nghị định số 346/2026/NĐ-CP ngày 5/9/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2018/NĐ-CP ngày 18/4/2018 của Chính phủ về bảo hiểm nông nghiệp.
Đặc biệt, Nghị định đã sửa đổi, bổ sung quy định về mức hỗ trợ tại Điều 19 như sau:
- Cá nhân sản xuất nông nghiệp thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo: Hỗ trợ tối đa 95% phí bảo hiểm nông nghiệp (hiện nay là 90%).
- Cá nhân sản xuất nông nghiệp không thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo: Hỗ trợ tối đa 50% phí bảo hiểm nông nghiệp (hiện là 20%).
- Tổ chức sản xuất nông nghiệp: Hỗ trợ tối đa 30% phí bảo hiểm nông nghiệp (tăng 10% so với hiện nay) cho doanh nghiệp được thành lập theo Luật Doanh nghiệp hoặc tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được thành lập theo Luật Hợp tác xã khi đáp ứng điều kiện theo quy định.
Châu An