logo
ISSN 2734-9020

Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp ở tỉnh Tây Ninh

Thứ sáu, 05/06/2026 - 07:00

Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, nguồn nhân lực luôn là yếu tố trọng tâm, then chốt trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Đặc biệt, trong lĩnh vực nông nghiệp, phát triển nguồn nhân lực giúp tăng năng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp; chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, bền vững; bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho ngành nông nghiệp tại địa phương trong cả nước nói chung và ở tỉnh Tây Ninh nói riêng trở thành một nhiệm vụ quan trọng để đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Bài viết tập trung phân tích, đánh giá thực trạng về phát triển nguồn nhân lực công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp; trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp phát triển nguồn nhân lực công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp ở tỉnh Tây Ninh.

Từ khoá: Phát triển nguồn nhân lực, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, tỉnh Tây Ninh

Phát triển nguồn nhân lực nông nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Thực trạng phát triển nguồn nhân lực công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp Tỉnh Tây Ninh Những giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp ở tỉnh Tây Ninh

Trước hết, khi nghiên cứu về con người, C.Mác luôn đặt con người trong mối quan hệ với hoạt động thực tiễn, là yếu tố hàng đầu của lực lượng sản xuất; đóng vai trò quan trọng là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội. Các ông cho rằng: "hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất trong những tư liệu để thoả mãn nhu cầu ấy, việc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất" (1). Điều đó cho thấy, sản xuất vật chất đóng vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của con người, và thông qua hoạt động sản xuất vật chất đã đánh dấu sự chuyển biến cơ bản từ con người tự nhiên sang con người xã hội. Con người chính là sản phẩm cao nhất của giới tự nhiên, là một bộ phận của giới tự nhiên nhưng đều có những tác động đến giới tự nhiên nhằm thoả mãn các nhu cầu tồn tại của mình: "con người cũng tác động trở lại tự nhiên, cải biến tự nhiên và tạo cho mình những điều kiện sinh tồn mới" (2). Điều này đã chỉ rõ vai trò của con người đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội, con người luôn được đặt trong mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội.

Trong quá trình ấy, V.I.Lênin luôn xem con người là yếu tố quan trọng hàng đầu của LLSX, ông viết: "lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động" (3). Con người giữ vai trò quyết định đến trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và trình độ chinh phục tự nhiên của con người. Thông qua hoạt động thực tiễn, con người luôn thể hiện tính năng động, sáng tạo cải tạo đời sống xã hội góp phần phát triển và hoàn thiện bản thân con người. Do đó, con người làm nên lịch sử của chính mình, lịch sử là lịch sử của con người, do con người và vì con người.

Trong quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng ta luôn quán triệt và vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về con người vừa là mục tiêu, là động lực của sự phát triển; đồng thời, vừa là sản phẩm vừa là chủ thể của xã hội; xác định rõ vai trò của con người đối với sự phát triển của xã hội. Tại Đại hội VIII, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh: "Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa" (4). Đảng đã đề ra mục tiêu, chiến lược phát triển nguồn lực con người (NNL) nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH); là yếu tố cơ bản để thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH. Tại Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục đề ra nhiệm vụ trọng tâm nhằm thực hiện các đột phá chiến lược: "Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao…" (5). Đến Đại hội XIV, Đảng ta lại tiếp tục nhấn mạnh đến mục tiêu phát triển phát triển nguồn nhân lực coi đó là nhiệm vụ trọng tâm, là một trong ba đột phá chiến lược: "Tập trung chuyển đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao; đẩy mạnh thu hút và trọng dụng nhân tài; khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung"(6).

Do đó, có thể hiểu, nguồn nhân lực chính là nguồn lực con người bao gồm các mặt, các yếu tố tâm lực, thể lực, trí lực cấu thành nên chỉnh thể con người với tư cách là chủ thể hoạt động thực tiễn; tham gia vào hoạt động sản xuất góp phần vào sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước.

Việt Nam là cái nôi của nền văn minh lúa nước hình thành từ hàng nghìn năm trong lịch sử, là hình thái văn minh nông nghiệp đặc trưng với phương thức sản xuất nông nghiệp hình thành và phát triển mạnh mẽ ở nước ta. Do đó, nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng bậc nhất của đất nước cả trong quá khứ, hiện tại; ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của đất nước, góp phần nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Có thể hiểu, nông nghiệp là một ngành sản xuất cơ bản đóng vai trò nền tảng trong sản xuất vật chất bao gồm toàn bộ hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, khai thác lâm sản, thuỷ sản nhằm tạo ra lương thực, thực phẩm đáp ứng nhu cầu tồn tại của con người và của xã hội loài người.

Thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp sẽ tạo nền tảng, tiền đề vật chất- kỹ thuật cho xã hội, cải thiện tình trạng kinh tế nông nghiệp lạc hậu, thấp kém sang nền kinh tế nông nghiệp hiện đại, máy móc, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến. CNH, HĐH tạo nền tảng, cơ sở vật chất kỹ thuật cho việc xác lập, củng cố, hoàn thiện quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa và củng cố hệ thống chính trị, tăng cường an ninh quốc phòng ở khu vực nông thôn...

Từ những phân tích trên có thể hiểu nguồn nhân lực công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp là nguồn lực con người bao gồm số lượng và chất lượng tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại, ứng dụng máy móc, khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp nhằm tạo ra các sản phẩm năng suất, chất lượng, hiệu quả, tăng khả năng cạnh tranh.

Nguồn nhân lực công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp phải bảo đảm những đầy đủ các yếu tố về cơ cấu, độ tuổi, và chất lượng NNL, có trình độ, kỹ năng, kinh nghiệm chuyên môn, có phẩm chất tham gia vào sản xuất nông nghiệp. Biết vận hành và ứng dụng hiệu quả máy móc, trang thiết bị khoa học, kỹ thuật hiện đại vào sản xuất, có khả năng thích ứng với những đòi hỏi và thay đổi của tình hình thực tiễn.

Theo đó, phát triển NNL công nghiêp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp trước hết phải hướng đến mục tiêu phát triển CNH, HĐH nông nghiệp nhằm xây dựng một mô hình phát triển nông nghiệp hiện đại, sản xuất hàng hoá lớn, ứng dụng các mô hình sản xuất hiện đại; kết hợp công nghiệp hoá, hiện đại hoá với phát triển kinh tế tri thức, kinh tế số nhằm nâng cao chất lượng lao động và hiệu quả ngành nông nghiệp. Như vậy, Phát triển nguồn nhân lực công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp là phát triển nguồn lực con người trong lĩnh vực nông nghiệp về cơ cấu, số lượng, có thể lực tốt, có phẩm chất, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, có khả năng ứng dụng khoa học- công nghệ vào sản xuất; góp phần chuyển đổi cơ cấu lao động tạo ra những sản phẩm nông nghiệp năng suất, chất lượng, hiệu quả hướng đến mục tiêu xây dựng nông nghiệp công nghệ cao, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh.

Trong lĩnh vực nông nghiệp, NNL nông nghiệp là tập trung phát triển người lao động có thể lực tốt, có phẩm chất tốt, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ thuật nông nghiệp cao, nhạy bén, sáng tạo có khả năng thích ứng với những thay đổi thực tiễn và ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Phát triển NNL công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp là điều kiện cơ bản đảm bảo cho việc thực hiện hiệu quả mục tiêu Chương trình xây dựng nông thôn mới; điều kiện để xây dựng nền nông nghiệp công nghệ cao, năng suất, chất lượng và hiệu quả.

Trong những năm qua, tỉnh Tây Ninh đã thực thi nhiều chủ trương, chính sách phát triển NNL nói chung và NNL nông nghiệp nói riêng nhằm đáp ứng yêu cầu, mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh và đạt được những thành tựu đáng kể như:

Nhận thức rõ được vai trò của phát triển NNL nông nghiệp chất lượng cao đối với việc chuyển đổi cơ cấu ngành nông nghiệp. Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Tây Ninh đã ban hành nhiều văn bản, kế hoạch, đề án nhằm tập trung phát triển đội ngũ NNL nói chung và NNL nông nghiệp nói riêng. Trong đó, UBND tỉnh Tây Ninh đã ban hành Quyết định số 1944/ QĐ- UBND ngày 22 tháng 9 năm 2022, Ban hành Đề án phát triển nguồn nhân lực khu vực công chất lượng cao tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2022- 2025, định hướng đến năm 2030; Tỉnh uỷ Tây Ninh triển khai Kế hoạch số 241- KH/TU về thực hiện Chỉ thị số 37- CT/TW ngày 10/7/2024 của Ban Bí thư về đổi mới công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Đồng thời, Tỉnh uỷ Tây Ninh cũng ban hành Báo cáo số 230- BC/BCSD ngày 23- 4- 2024 Việc thực hiện Đề án "Phát triển nguồn nhân lực khu vực công chất lượng cao tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2022- 2025, định hướng đến năm 2030.

Đội ngũ nguồn nhân lực, lao động trong địa bàn tỉnh nói chung và đội ngũ nguồn nhân lực nông nghiệp nói riêng luôn nhận thức rõ vai trò trách nhiệm đối với sự phát triển KT- XH của tỉnh. Đội ngũ người lao động tích cực tham gia học tập nhiều khoá học, bồi dưỡng nâng cao chất lượng NNL, có khả năng nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao khoa học công nghệ tiên tiến, hiện đại vào sản xuất thông qua các Chương trình đạo tạo nguồn lực cho hợp tác xã (HTX), năng lực quản lý của "Giám đốc hợp tác xã"; tham gia các lớp tập huấn TOT để đào tạo học viên có khả năng tiếp nhận chuyển giao khoa học công nghệ áp dụng vào sản xuất. Do đó, chất lượng NNL ngày càng được tăng lên đáng kể đáp ứng yêu cầu về chất lượng NNL trong nông nghiệp. Tính đến năm 2024, tổng số cán bộ, công chức, viên chức là 20.789 người; trong đó, cán bộ, công chức là 2.443 người, chiếm 11,75% so với cán bộ công chức, viên chức; khối cơ quan đảng, đoàn thể là 832 người, khối cơ quan hành chính nhà nước 1.611 người; cán bộ, công chức cấp xã 1.905 người, chiếm 9,16% so với cán bộ công chức viên chức (CBCCVC). Số lượng viên chức là 16.441 người, chiếm 79,08% so với CBCCVC; trong đó viên chức sự nghiệp y tế 2.263 người (tỷ lệ 13,76%), viên chức sự nghiệp giáo dục 12.673 người (tỷ lệ 77,08%)(7).

Các công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã và đơn vị sử dụng lao động luôn phát huy tốt vai trò trong việc định hướng phát triển, đào tạo lại NNL góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ NNL nông nghiệp. Do đó, tính đến năm 2025, "toàn tỉnh có 132 HTX nông nghiệp, đạt 114,8% tăng 42 HTX so với năm 2020; có 32/132 HTX ứng dụng công nghệ cao; 90/132 HTX tham gia chuỗi liên kết với doanh nghiệp. Về trình độ, tínnh đến năm 2025, tiến sĩ trong tỉnh là 12 người chiếm (tỷ lệ 0,05%); thạc sỹ 1.075 người (tỷ lệ 5,2%); đại học 13.918 người (tỷ lệ 67,46%); cao đẳng 3.335 người (tỷ lệ 15,43%); khác 2.915 người (tỷ lệ 14,02%). Số CBCCVC trình độ sau đại học là 4,91% (trong đó: cán bộ, công chức 426 tỷ lệ 9,79%; viên chức 595 tỷ lệ 3,61%); cán bộ lãnh đạo diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ quản lý 32,48%; cán bộ lãnh đạo diện cơ quan, đơn vị quản lý: 24,97%(8).

Tỉnh đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng NNL gắn với mục tiêu phát triển nông nghiệp của tỉnh. Triển khai có hiệu quả chính sách hỗ trợ đào tạo sau đại học; các địa phương, cơ quan, đơn vị đã đề nghị UBND tỉnh hỗ trợ kinh phí đào tạo sau đại học cho 10 trường hợp (tron đó có 02 tiến sĩ; 8 thạc sĩ). Mạng lưới trường lớp tiếp tục được sắp xếp và mở rộng, phát triển theo định hướng chất lượng cao; đa dạng hoá các loại hình đào tạo, phát triển hài hoà giữa giáo dục công lập và ngoài công lập.

Công tác đào tạo, ứng dụng chuyển đổi số cho đội ngũ NNL được thực hiện có hiệu quả; xây dựng các công trình dữ liệu hệ thống công trình thuỷ lợi và triển khai tích hợp cơ sở dữ liệu hệ thống công trình thuỷ lợi trên địa bàn tỉnh Tây Ninh về Trung tâm IOC của tỉnh; mở các lớp tập huấn nâng cao nhận thức cho đội ngũ NNL về chuyển đổi số; tập huấn và thí điểm phần mềm đánh giá phân hạng sản phẩm OCOP cho cán bộ phụ trách, các tổ chức, cá nhân, chủ thể OCOP thúc đẩy có hiệu quả kinh tế số trong nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Tây Ninh

Nhìn chung, đội ngũ NNL nông nghiệp của tỉnh ngày càng phát triển về chất lượng, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, có kỹ năng, kinh nghiệm để tập trung phát triển nông nghiệp của tỉnh. Do đó, ngành nông nghiệp của tỉnh có những bước phát triển, chuyển biến tích cực ở bốn lĩnh vực cơ bản: lĩnh vực trồng trọt, cơ cấu cây trồng phát huy được lợi thế, đáp ứng yêu cầu trong nước và phục vụ xuất khẩu; NNL có trình độ biết áp dụng các mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, thân thiện với môi trường, phù hợp với điều kiện sản xuất của nông dân.

Bên cạnh những kết quả đạt được, nguồn nhân lực nông nghiệp ở tỉnh Tây Ninh cũng còn một số hạn chế nhất định, chưa phát huy được hết những tiềm năng, thế mạnh phát triển nông nghiệp của tỉnh.

Các chủ trương, chính sách ban hành nhưng khi thực hiện chưa thực sự quyết liệt, chưa có trọng tâm, trọng điểm vì thế chưa đạt được hiệu quả cao trong chính sách phát triển NNL nông nghiệp của tỉnh. Một số cơ quan, tổ chức chưa thực sự đánh giá đúng mức vai trò phát triển kinh tế nông nghiệp của tỉnh, chưa nhận phát huy vai trò nông nghiệp là "trụ đỡ" của nền kinh tế nói chung và đối với sự phát triển KT- XH của tỉnh nói riêng. Kỹ năng chuyên môn của nhân lực nông nghiệp cũng còn nhiều hạn chế, thiếu các kỹ năng đặc thù hất là ở các vị trí đòi hỏi tay nghề cao như ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp, chuyển đổi số và các ngành công nghệ kỹ thuật hiện đại trong nông nghiệp. Chậm thích ứng với chuyển đổi số: Nhiều lao động chậm thích ứng, chậm đổi mới với xu hướng công nghệ 4.0 và chuyển đổi số trong nông nghiệp. Một số lao động có xu hướng ưu tiên các ngành nghề công nghiệp, dịch vụ và các lĩnh vực phi nông nghiệp chưa thực sự yêu thích và mong muốn làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp. Nguồn nhân lực được đào tạo, giáo dục nghề nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp và thị trường lao động. Trình độ của người dân không đồng đều, đa số còn dựa trên những kinh nghiệm bản thân tích luỹ được từ thực tiễn sản xuất nông nghiệp; lao động còn thiếu kiến thức chuyên môn, trình độ khoa học kỹ thuật còn hạn chế, số lượng NNL có khả năng ứng dụng những công nghệ tiên tiến hiện đại còn ít, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế nông nghiệp, phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất.

Bên cạnh đó, chế độ đãi ngộ, mức lương chưa cạnh tranh, chưa tương xứng với áp lực công việc, thời gian làm việc và chi phí sinh hoạt tại các khu du lịch trọng điểm; chế độ phúc lợi, bảo hiểm và cơ hội thăng tiến chưa rõ ràng hoặc không đủ sức hấp dẫn người lao động, thiếu các chính sách đãi ngộ cao để thu hút nhân lực chất lượng cao hoặc các chuyên gia. Một số đơn vị còn hạn chế về môi trường làm việc, thiếu tính chuyên nghiệp, mang tính mùa vụ, áp lực cao, thiếu hợp tác sâu rộng với các cơ sở đào tạo, thiếu sự chia sẻ kinh nghiệm dẫn đến sự không đồng nhất giữa kiến thức được học và nhu cầu thực tế của công việc. Những hạn chế này gây ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả phát triển nguồn nhân lực công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp của tỉnh, trở thành một trong những vấn đề cần được quan tâm nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp đáp ứng yêu cầu sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh.

Từ thực trạng phát triển nguồn nhân lực tỉnh Tây Ninh đặt ra vấn đề trọng tâm đối với phát triển nguồn nhân lực góp phần phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh. Do đó, cần tập trung phát triển đội ngũ nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực nông nghiệp nói riêng nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát triển đất nước. Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông nghiệp đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá cần tập trung thực hiện một số giải pháp như sau:

Thứ nhất, tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền trong triển khai chủ trương, chính sách về phát triển nguồn nhân lực công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp.

Các cấp uỷ, tổ chức Đảng cần tăng cường đổi mới công tác lãnh đạo, chỉ đạo, đề ra những chủ trương, chính sách phát triển NNL nông nghiệp chất lượng cao gắn với mục tiêu phát triển CNH, HĐH nông nghiệp của tỉnh. Tăng cường đổi mới hoàn thiện hệ thống tổ chức bộ máy quản lý ngành theo hướng tinh gọn, hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu qủa. Tập trung nhân lực, nguồn lực vào những nhiệm vụ trọng yếu trong quản lý, kiến tạo ra giá trị mới cho ngành, tăng cường phân cấp cho địa phương. Đổi mới công tác tuyển dụng, thu hút nhân tài, đào tạo, bồi dưỡng, quản lý, sử dụng, bổ nhiệm công chức, viên chức đảm bảo chất lượng, nâng cao năng lực, tính chuyên nghiệp và đạo đức, trách nhiệm.

Thứ hai, tăng cường đổi mới giáo dục, đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ nguồn nhân lực công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp.

Nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp, nông thôn; thường xuyên rà soát, bổ sung ngành nghề đào tạo phù hợp với nhu cầu người học và tình hình thực tế của địa phương; chương trình đào tạo cần chú trọng đến giáo dục đạo đức nghề nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp để đáp ứng những yêu cầu của CNH, HĐH nông nghiệp, kiến thức về vệ sinh lao động, pháp luật, kinh doanh, các kỹ năng mềm và đổi mới sáng tạo cho lao động nông thôn, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong tất cả các khâu của quá trình đào tạo. Nghiên cứu, đổi mới nội dung chương trình đào tạo trình dộ cao đẳng, trung cấp theo hướng mở, linh hoạt, phù hợp với phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đáp ứng nhu cầu thị trường lao động và người học.

Thứ ba, tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức cho đội ngũ nguồn nhân lực về quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp.

Nâng cao ý thức tự giác, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ NNL, nâng cao nhận thức về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về vai trò của nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong giai đoạn phát triển mới, cơ cấu lại nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới theo hướng nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh. Đa dạng các kênh tuyên truyền đảm bảo tính hiệu quả, lan toả trong nhân dân, đội ngũ lao động; nêu cao ý thức tự giác, chủ động tích cực của đội ngũ NNL trong học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật, tay nghề cho bản thân; tích cực tham gia các lớp học bồi dưỡng để tiếp thu những kiến thức, khoa học công nghệ tiên tiến, hiện đại để ứng dụng trong sản xuất nông nghiệp nhằm đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp theo hướng: phát triển nền nông nghiệp bền vững, đảm bảo cơ hội phát triển cho các thế hệ tương lai, khả năng thích ứng và chống chịu biến động, cân đối, hài hòa các yêu tố môi trường, xã hội và kinh tê, tái tạo nguyên liệu, năng lượng trong sản xuất.

Thứ tư, tập trung phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cho NNL nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng và khả năng cạnh tranh.

Tập trung thực hiện Chương trình, Kế hoạch triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Tiếp tục tập trung đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng, chuyên giao ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong các ngành, lĩnh vực quan trọng cho đội ngũ NNL nông nghiệp theo định hướng đột phá phát triển. Đẩy mạnh triển khai thực hiện các cơ chế, chính sách thúc đẩy hợp tác, liên kết giữa cơ quan quản lý, viện, trường, chuyên gia, doanh nghiệp nhằm huy động hiệu quả nguồn lực đầu tư cho phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tăng cường hoạt động hỗ trợ phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, hỗ trợ doanh nghiệp nghiên cứu, ứng dụng và đổi mới công nghệ. Tập trung thúc đẩy bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, phát triển và khai thác tài sản trí tuệ phục vụ phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế. Hỗ trợ, tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân khởi nghiệp từ việc nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ. Phát triển hạ tầng số đồng bộ theo hướng hiện đại, tập trung xây dựng các nền tảng số dùng chung, hoàn thiện cơ sở dữ liệu chuyên ngành, kho cơ sở dữ liệu của tỉnh, kết hợp ứng dụng các công nghệ hiện đại phục vụ công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành, thúc đẩy chuyển đổi số; mở rộng cung cấp dịch vụ công trực tuyến, dịch vụ số thiết yếu phục vụ người dân và doanh nghiệp. Hướng dẫn tri thức số, kỹ năng số cho người dân, thúc đẩy phát triển xã hội số; thực hiện có hiêu quả phong trào "Bình dân học vụ số"; bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, an ninh mạng trong mọi hoạt động.

Thứ năm, huy động mọi nguồn lực đầu tư kết cấu hạ tầng KT- XH, ưu tiên đầu tư các công trình trọng điểm, các công trình thuộc khâu đột phá, hạ tầng giao thông, điện, nước, đô thị, văn hoá- xã hội.

Tập trung khai các công trình giao thông trọng điểm, đột phá, trục động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh như: Đường trục động lực Bình Dương - Tây Ninh - Long An; Đường trục động lực Vành đai 4 thành phố Hồ Chí Chí Minh; Đường trục động lực Thành phố Hồ Chí Minh - Long An - Tiền Giang (trục Đường tỉnh ĐT.827E); Đường trục động lực Tân An - Bình Hiệp; Đường trục động lực Đức Hòa; Đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh - Mộc Bài, Gò Dầu - Xa Mát,... Từng bước đầu tư nhựa hóa các tuyến đường giao thông chính đến trung tâm các xã, nhất là xã có đường biên giới, vùng có truyền thống cách mạng, vùng khó khăn trên địa bàn tỉnh nhằm phát triển hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ cho phát triển nguồn nhân lực công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp của tỉnh.

Như vậy, nguồn nhân lực công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong thực hiện mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh. Phát triển nguồn nhân lực công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nhằm nâng cao chất lượng các sản phẩm nông nghiệp; phát huy được tiềm năng, thế mạnh phát triển nông nghiệp của tỉnh; góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững đáp ứng đòi hỏi thực tiễn đặt ra; đồng thời, đảm bảo cảnh quan thiên nhiên, ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu; góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

(1) C.Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, tập 3, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H.1995, tr.29, 40

(2) C.Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, tập 20, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H.2002, tr.720

(3) V.I.Lênin: Toàn tập, tập 38, Nxb. Chính trị quốc gia Hà Nội, H.1995, tr.430.

(4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia Hà Nội, 1995, tr.13.

(5) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H.2021, tr.203.

(6) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr.89, 147.

(7) Tỉnh Uỷ Tây Ninh (2024), Báo cáo số 230- BC/BCSD việc thực hiện Đề án "Phát triển nguồn nhân lực khu vực công chất lượng cao tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2022- 2025, định hướng đến năm 2030, ngày 23-4-2024.

(8) Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh (2025), Báo cáo đánh giá thực hiện phát triển Kinh tế- xã hội đến năm 2025, kế hoạch phát triển Kinh tế- xã hội năm 2026.

ThS. Nguyễn Hồng Thật

Trường Chính trị Tỉnh Tây Ninh