Từ khóa: Cách mạng công nghiệp 4.0, chất lượng, chuyển đổi số, nguồn nhân lực
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đang có nhiều tác động mạnh mẽ đến toàn bộ mọi phương diện, lĩnh vực của đời sống xã hội ngày càng sâu rộng, quá trình chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng đối với sự phát triển nói chung, trong đó phương thức sản xuất gắn liền với sự phát triển đời sống kinh tế - xã hội giữ vị trí trung tâm. Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta xác định: "thực hiện quyết liệt chuyển đổi số, xây dựng nền kinh tế số, xã hội số, kích thích đầu tư, phát triển kết cấu hạ tầng quy mô lớn, thúc đẩy tiêu dùng nội địa, giải quyết việc làm"[1]. Trước đó, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 3/6/2020 duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 cũng cho thấy sự quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị nước ta trong thời gian tới đối với việc đón nhận, khai thác và tận dụng những thành tựu lớn lao từ cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 vào công cuộc phát triển đất nước.
Tuy nhiên, dù khoa học – công nghệ phát triển và hiện đại đến đâu đi nữa, thì con người vẫn là nhân tố giữ vai trò quyết định đối với toàn bộ tiến trình phát triển của xã hội, của đất nước. Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực trong phát triển kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa vẫn là một trong những quan điểm cốt lõi có tính định hướng xuyên suốt và nhất quán của Đảng ta suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay và sẽ tiếp tục diễn ra mạnh mẽ trong nhiều năm tới, vấn đề phát triển nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sao cho phù hợp với những yêu cầu của đặc điểm tình hình mới trở thành chủ đề lớn thu hút sự quan tâm đầy tinh thần trách nghiệm và vô cùng nghiêm túc từ các cấp lãnh đạo, quản lý, các chuyên gia… thuộc những lĩnh vực cụ thể khác nhau, cũng như từ những nhà nghiên cứu với nhiều cách tiếp cận đa dạng. Tất cả đều có chung đích đến là tìm ra những giải pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực với tính cách là động lực quan trọng của tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Việt Nam là một đất nước có nhiều lợi thế về lĩnh vực du lịch và trên thực tế thời gian qua, ngành du lịch đã mang lại nguồn thu rất lớn, trở thành một trong những mũi nhọn phát triển kinh tế của nước ta. Để duy trì và phát huy những giá trị, cũng như sự đóng góp của ngành du lịch trong tương lai, vấn đề quan trọng đặt ra là phải có chiến lược và giải pháp phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực này.
Vì thế, nghiên cứu làm rõ các phương diện cơ bản của nguồn nhân lực; nhận diện những đặc trưng của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 và sự tác động của nó đến nguồn nhân lực trong bối cảnh hiện nay; tìm giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nói chung, nhân lực ngành du lịch nói riêng là việc cần thiết, có ý nghĩa cả về phương diện lý luận và thực tiễn.
2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1. Nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực cơ bản của hoạt động sản xuất vật chất (bên cạnh các nguồn lực: tư liệu sản xuất, vốn, khoa học công nghệ...), là nguồn lực giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển của hoạt động sản xuất vật chất trong mọi hình thái xã hội.
Tiếp cận theo nghĩa của từ nguyên, có thể cắt nghĩa như sau: "nguồn" là là nơi phát sinh, cung cấp; "nhân lực" là sức của con người. Phân tích kỹ hơn thì sức của con người tham gia vào hoạt động sản xuất vật chất được thể hiện và nhận diện ở các phương diện cơ bản là: (i) Sức lực cơ bắp, sinh học (tức là thể lực); (ii) Trình độ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của từng cá nhận người lao động khi được vận dụng vào quá trình sản xuất (được gọi là trí lực); (iii) Phẩm chất chính trị, đạo đức, tình cảm, thái độ, phong cách làm việc… của người lao động (có thể gọi là tâm lực).
Từ đó, có thể khái quát rằng, nguồn nhân lực được hiểu và tiếp cận một cách đầy đủ, trọn vẹn sẽ bao gồm ba phương diện cơ bản, cũng có thể xem là ba yếu tố chính, có mối quan hệ biện chứng với nhau là thể lực, trí lực, tâm lực. Sự tổng hòa của ba yếu tố này ở người lao động chính là nơi phát sinh và cung cấp sức của con người (tức là nguồn nhân lực) cho các quá trình lao động sản xuất của xã hội.
Trên thế giới, hiện nay tồn tại rất nhiều quan niệm, cách hiểu khác nhau về nguồn nhân lực. Tổ chức Ngân hàng thế giới đưa ra quan niệm: nguồn nhân lực là tổng thể bao gồm toàn bộ những yếu tố tiềm năng của con người, đó là trí lực, tâm lực và thể lực ở từng cá nhân. Tổ chức Liên hiệp quốc cho rằng: nguồn nhân lực là tất cả những yếu tố như kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực, tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của từng cá nhân, cũng như của cộng đồng, quốc gia, dân tộc.
Theo quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam: "Nguồn lực con người là vốn quý báu nhất, có vai trò quyết định đặc biệt đối với nước ta khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp. Nguồn lực đó là người lao động có trí tuệ cao, tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học hiện đại"[2].
Như vậy, có thể do những cách tiếp cận khác nhau dẫn đến cách diễn đạt không hoàn toàn giống nhau, song tựu trung lại thì có thể hiểu, nguồn nhân lực của một quốc gia là sự tổng hòa ba phương diện chính yếu, gồm thể lực, trí lực và tâm lực mà lực lượng lao động xã hội của quốc gia đó sở hữu và được huy động tham gia vào quá trình sản xuất (vật chất và tinh thần) xã hội vì mục tiêu thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội trong những thời kỳ nhất định.
Là yếu tố quan trọng, có vai trò quyết định đối với sự phát triển sản xuất nói riêng, phát triển đất nước nói chung, nguồn nhân lực của xã hội không ngừng vận động và phát triển cùng với xu hướng phát triển của nền sản xuất dựa trên sự tiến bộ không ngừng của khoa học - công nghệ. Nhìn một cách tổng quát, nguồn nhân lực có thể được tiếp cận và nghiên cứu theo hai tiêu chí cơ bản là số lượng và chất lượng. Khi đề cập đến tiêu chí số lượng của nguồn nhân lực là nói đến toàn bộ lực lượng lao động xã hội (của một quốc gia) tham gia vào quá trình lao động sản xuất. Khi đề cập đến tiêu chí chất lượng của nguồn nhân lực, thì cần lưu ý đến trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ thuật, khả năng đáp ứng so với những yêu cầu của thị trường lao động của toàn bộ nguồn nhân lực (cấp độ vĩ mô); hoặc chỉ dừng lại ở mức độ lưu ý đến trình độ kiến thức, kỹ năng (giải quyết, xử lý vấn đề) và thái độ của người lao động (cấp độ vi mô).
2.2. Sự tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đến nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay
2.2.1. Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 – bản chất và đặc trưng
Với hàng loạt những thành tựu khoa học – công nghệ mà nhân loại đạt được vào những năm đầu thế kỷ XXI, nhiều sự thay đổi lớn lao chưa từng có đã xuất hiện và diễn ra trên phạm vi toàn thế giới. Năm 2016, tại Diễn đàn Kinh tế thế giới lần thứ 46 được khai mạc tại thành phố Davos – Kloster của Thụy Sĩ với chủ đề "Làm thế nào để làm chủ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư", tức là chỉ 5 năm sau khi thuật ngữ "công nghiệp 4.0" lần đầu tiên xuất hiện, được đề cập đến tại cuộc triển lãm công nghiệp Hannover diễn ra tại nước Đức (năm 2011), đã nhận được sự quan tâm của hơn 100 quốc gia trên thế giới. Khi đi sâu vào nghiên cứu, phân tích, các nhà khoa học, các chuyên gia ở nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, kỹ thuật – công nghệ... đã nhận thấy một số yếu tố cơ bản tạo nên bối cảnh mà trong đó, cách mạng công nghiệp 4.0 diễn ra: (i) nguồn cung cấp tài nguyên thiên nhiên trên thế giới trên đà khan hiếm, cạn kiệt và đặt ra yêu cầu cần những giải pháp khoa học – công nghệ mang tính đột phá; (ii) trong thế giới tư bản, các cuộc khủng hoảng tài chính vẫn tiếp diễn theo chu kỳ; (iii) hiện tượng già hóa dân số tại các nước có nền công nghiệp phát triển dần trở thành vấn đề cần được báo động. Trong cuốn sách tựa đề "Cách mạng công nghiệp lần thứ tư" xuất bản năm 2018, tác giả Klaus Schwab, Chủ tịch Diễn đàn Kinh tế thế giới đã nhấn mạnh rằng: "Chúng ta đang ở điểm khởi đầu của một cuộc cách mạng sẽ thay đổi sâu sắc cách chúng ta sống, làm việc và liên hệ với nhau. Xét về quy mô, tầm vóc và độ phức tạp, hiện tượng mà tôi coi là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư này không giống bất kỳ điều gì mà nhân loại từng trải qua"[3]. Với cách tiếp cận này, cách mạng công nghiệp lần thứ tư (cách mạng công nghiệp 4.0) là một cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong lịch sử từ trước đến nay, bởi nó hứa hẹn sẽ tạo ra một thế giới đầy tính mới mẻ mà ở đó khoa học, kỹ thuật, công nghệ chiếm lĩnh và "thống trị", cũng như sẽ tạo nên nhiều sự đột phá khó có thể tiên đoán trước. Như vậy, cách mạng công nghiệp 4.0, nếu xét về bản chất, vẫn là cuộc cách mạng dựa trên nền tảng là những phát minh của khoa học, công nghệ được ứng dụng mạnh mẽ vào trong hoạt động sản xuất xã hội để tạo nên những sự chuyển biến, đột phá và phát triển liên tục; cách mạng công nghiệp 4.0 vẫn là cuộc cách mạng trong lực lượng sản xuất dẫn đến những thay đổi nhất định trong quan hệ sản xuất xã hội hiện đang tồn tại.
Với ý nghĩa đó, cuộc cách mạng này được kỳ vọng như là "cứu cánh" tạo ra những giải pháp khả thi và tối ưu cho những vấn đề nan giải mà thế kỷ XXI đang đặt ra, đó là: vấn đề lực lượng lao động, vấn đề tài nguyên - môi trường, hàng loạt các vấn đề trong lĩnh vực y sinh học…
Để có cơ sở nhận diện cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, việc xác định được những đặc trưng cơ bản của cuộc cách mạng này là rất cần thiết. Hiện nay, do những cách tiếp cận khác nhau, nên đang tồn tại các quan niệm chưa thực sự thống nhất khi bàn về cách mạng công nghiệp 4.0, song, có thể khái quát lại ở những đặc trưng cơ bản sau: (i) dựa trên nền tảng của công nghệ thông tin, internet và sự hội tụ của nhiều lĩnh vực công nghệ (như vật lý, hóa học, sinh học…) với một tầm cao mới; (ii) các xu hướng công nghệ lớn sẽ tập trung vào công nghệ in 3D, vật liệu mới, internet vạn vật, công nghệ gen,...; (iii) diễn ra với pham vi và tốc độ phát triển chưa từng có trong lịch sử; (iv) được dự báo là sẽ làm thay đổi toàn bộ nền kinh tế thế giới, hình thành nên một phương thức sản xuất mới (nền kinh tế số, kinh tế chia sẻ).
Như vậy, với những đặc trưng cơ bản kể trên, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang thực sự hiện diện và tạo nên những tác động, ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế, tác động đến cả đời sống chính trị và đặc biệt là tác động đến nguồn nhân lực của xã hội đang trong thời kỳ đầy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Trước những diễn biến nhanh chóng và sự tác động, ảnh hưởng sâu rộng của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, thế giới sẽ tiếp tục không ngừng thay đổi với nhiều sự phát triển, đột phá trong tương lai gần, bao hàm cả những thời cơ và thách thức đối với tất cả các quốc gia, dân tộc trên pham vi toàn cầu, như Klaus Schwab nhận định: "Những thay đổi sâu sắc đến mức, từ góc độ lịch sử nhân loại, chưa bao giờ có một thời điểm vừa tràn đầy hứa hẹn vừa tiềm tàng hiểm họa như lúc này"[4].
2.2.2. Tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0 đến chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay
Sự tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đến nguồn nhân lực ngày càng được nhận diện rõ nét hơn, với những mức độ biểu hiện khác nhau tùy thuộc vào đặc thù của từng lĩnh vực, ngành nghề cụ thể. Thực chất, sự tác động này chủ yếu dưới hình thái những yêu cầu đặt ra đối với nguồn nhân lực về phương diện chất lượng, sao cho phù hợp với bối cảnh, tình hình mới, với nền sản xuất phát triển cao. Có thể khái quát ở một số điểm chủ yếu sau:
(1) Về trình độ: Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 với sự phát triển của rất nhiều những công nghệ mới, robot đã từng bước thay thế người lao động ở nhiều khâu, công đoạn của quá trình sản xuất, thay thế con người làm nhiều công việc trong nền kinh tế của quốc gia; các thế hệ máy tính thông minh phát triển nhanh chóng, vừa gây ra nguy cơ mất việc của những người lao động trình độ thấp, nhưng lại mở ra nhiều cơ hội về công việc tốt hơn cho những người lao động có trình độ học vấn, chuyên môn được đào tạo bài bản - công nhân trí thức.
Đồng thời với yêu cầu về trình độ chuyên môn có được thông qua quá trình đào tạo, nghiệp vụ tốt cùng với khả năng làm chủ kiến thức khoa học – công nghệ một cách chủ động, tự giác và không ngừng tự học tập, tự bồi dưỡng để nâng cao năng lực bản thân đáp ứng sự đòi hỏi ngày càng cao của nền sản xuất hiện đại trở thành tiêu chuẩn vô cùng quan trọng của nguồn lực thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0.
(2) Về kỹ năng:
Không chỉ dừng lại ở yêu cầu nâng cao trình độ chuyên môn – nghiệp vụ, làm chủ khoa học công nghệ hiện đại, mà nguồn nhân lực mới được yêu cầu phải tích lũy và tích hợp được đầy đủ những kỹ năng cần thiết (đặc biệt là kỹ năng số). Do đó, cách mạng công nghiệp 4.0 đang đặt ra các yêu cầu mà người lao động trên thế giới nói chung, nguồn nhân lực ở từng quốc gia muốn nắm bắt được cơ hội việc làm tốt hơn, muốn có nhiều sự lựa chọn hơn, thì không cách nào khác là phải ý thức sâu sắc và chủ động, tự giác, tích cực chuẩn bị đầy đủ cho mình những kiến thức, kỹ năng cần thiết, điều này đồng nghĩa với việc họ phải tự giác nâng cao chất lượng của chính mình.
Sự xuất hiện của những ngành nghề mới liên quan đến những ứng dụng khoa học, công nghệ trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đòi hỏi chất lượng nguồn nhân lực phải tăng lên, trong đó các kỹ năng cơ bản chiếm vị trí rất quan trọng. Có thể chia các kỹ năng cần thiết thành các nhóm chính như sau: (i) kỹ năng mềm; (ii) kỹ năng nghiệp vụ; (iii) kỹ năng kinh doanh.
Cách mạng công nghiệp 4.0 làm tăng nhu cầu về các kỹ năng thiết yếu của con người nói chung, của người lao động trực tiếp trong nền sản xuất xã hội nói riêng, thường được gọi là kỹ năng mềm. Kỹ năng mềm giúp cho mỗi cá nhân bộc lộ được đầy đủ các khả năng của mình như: khả năng giao tiếp, tư duy phản biện, tính sáng tạo, sự hợp tác, khả năng thích ứng, khả năng lãnh đạo, khả năng làm việc nhóm, lòng cảm thông, sự tự tin, phát triển tư duy, nhận thức văn hóa… thành thạo các kỹ năng mềm này sẽ hỗ trợ xây dựng các mối quan hệ trong công việc và trong nền kinh tế số, công nghệ số hiện nay. Đồng thời, cách mạng công nghiệp 4.0 đang tạo ra những cơ hội việc làm mới, những công việc đòi hỏi kỹ năng nghiệp vụ cao, đó là kiến thức và khả năng làm những công việc mang tính chuyên môn như lập trình máy tính, tạo code, quản lý dự án, quản lý tài chính...
Ngoài ra, các ngành nghề mới mà cách mạng công nghiệp 4.0 tạo ra còn đòi hỏi ở nguồn nhân lực mới phải có kỹ năng kinh doanh. Đó là khả năng của từng cá nhân trong việc kiến tạo và xây dựng cơ hội, kỹ năng đổi mới, sáng tạo, khéo léo, chấp nhận rủi ro, nhạy bén trong kinh doanh,… giúp cho người lao động có khả năng thích ứng cao với điều kiện thay đổi công việc liên tục trong tương lai và khả năng khởi nghiệp thành công.
Ngoài các kỹ năng cơ bản trên, việc "học, học nữa, học mãi" là một yêu cầu đặc biệt của cuộc cách mạng này. Thường xuyên cập nhật những kiến thức mới, học hỏi liên tục nhờ các giải pháp công nghệ… giúp cho người lao động kịp thời thích ứng với những công việc làm mới trong tương lai.
(3) Về bản lĩnh chính trị
Để có khả năng đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi về phương diện trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ, cũng như về những kỹ năng cần thiết trong công việc mà cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang đặt ra, nguồn nhân lực của trên thế giới nói chung, ở Việt Nam nói riêng đã không ngừng phát triển, dẫn đến hình thành đội ngũ công nhân công nghệ cao, công nhân trí thức. Những đặc trưng như đã phân tích của cuộc cách mạng công nghiệp lần này đang mang đến cho những người công nhân trí thức mới nhiều cơ hội việc làm tốt với mức thu nhập hấp dẫn và hứa hẹn một cuộc sống ổn định hơn trong tương lai. Đây là điều kiện để nguồn nhân lực hiện nay có thể vừa chủ động, tích cực nâng cao tri thức, nghiệp vụ, kỹ năng của mình, vừa để rèn luyện bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng giai cấp vững vàng hơn. Tuy nhiên, trong thực tế vẫn tồn tại song song một bộ phận đáng kể nguồn nhân lực lao động chân tay thuộc những ngành nghề công nghiệp truyền thống không chỉ đứng trược nguy cơ bị thất nghiệp, mà còn ngày càng nghèo đi. Họ đứng trước những khó khăn, thách thức lớn trong việc đối mặt và giải quyết những thay đổi căn bản đang tiệm cận diễn ra với công việc và hầu hết mọi mặt trong cuộc sống.
(4) Về đạo đức, lối sống
Những thành tựu của cuộc cách mạng cộng nghiệp 4.0 và sự ứng dụng mạnh mẽ trong mọi lĩnh vực đã mở ra kỷ nguyên số trên phạm vi toàn thế giới. Dưới sự tác động của xu thế chuyển đổi số, quan hệ đạo đức của người lao động cùng với những biểu hiện của đạo đức thông qua lối sống của họ có những biến đổi nhanh chóng và diễn ra theo những chiều hướng đa dạng, không kém phần phức tạp. Trong một nền sản xuất xã hội, cũng như trong một phương thức sản xuất có sự chi phối của máy tính thông minh, công nghệ thông minh, thậm chí có những công đoạn được robot đảm nhiệm hoàn toàn, mối quan hệ giữa những người lao động với nhau, giữa cá nhân với tập thể mang tính gián tiếp ngày càng cao. Do đó, cuộc Cách mạng cộng nghiệp 4.0 đặt ra yêu cầu đối với người lao động là phải phát huy tối đa tinh thần trách nhiệm của cá nhân đối với cộng đồng, xã hội, nâng cao ý thức tự giác tuân thủ theo các quy tắc đạo đức trong các quan hệ giao tiếp, ứng xử... hướng đến sự hình thành và phát triển lối sống văn hóa, văn minh, khoa học, phù hợp với những yêu cầu mới của kỷ nguyên số.
2.3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hiện nay và những gợi ý đối với ngành du lịch
Sự tác động và ảnh hưởng của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đối với chất lượng nguồn nhân lực trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt là trước xu thế chuyển đổi số đang diễn ra vô cùng mạnh mẽ và sâu rộng trên mọi lĩnh vực, trong đó biểu hiện rõ rệt nhất là ở lĩnh vực lao động sản xuất của xã hội, đặt ra yêu cầu đối với các cấp lãnh đạo, quản lý, xây dựng và hoạch định kinh tế - xã hội ở nước ta phải có những giải pháp khả thi với tính cách là những đối sách mang tính khoa học, phù hợp, thiết thực và hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực hiện nay và thời gian tới.
Trong khuôn khổ của bài viết, tác giả đề xuất một số giải pháp có tính chất tham khảo cho việc xây dựng và đảm bảo sự phát triển bền vững của nguồn nhân lực ở nước ta trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.
Một là, trước những yêu cầu ngày càng cao về phương diện kiến thức, chuyên môn, khoa học – công nghệ... của Cách mạng công nghiệp 4.0, tỷ lệ người lao động có trình độ qua đào tạo ngày càng cao. Vì vậy, trong việc tìm kiếm những giải pháp thiết thực và khả thi cho sự phát triển nguồn nhân lực ở nước ta, thì việc xây dựng một chiến lược phát triển lực lượng công nhân trí thức làm nòng cốt cho nguồn nhân lực tương lai đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nền sản xuất xã hội là vấn đề quan trọng và có tính cấp thiết cần được quan tâm kịp thời và thỏa đáng.
Trong lĩnh vực du lịch, yêu cầu về phát triển nguồn nhân lực được đặt ra đối với cả người làm công tác quản lý, hoạch định, xây dựng chiến lược phát triển, đội ngũ hướng dẫn viên và cả mạng lưới phục vụ ngày càng trở nên cấp thiết. Công tác quản lý, hoạch định đòi hỏi những người có thực tài, tầm nhìn xa trông rộng, dự báo được xu hướng phát triển của ngành; hướng dẫn viên phải thực sự chuyên nghiệp, được đào tạo bài bản và có năng lực, nghiệp vụ tốt, đáp ứng kịp thời những yêu cầu ngày càng cao của khách hàng – du khách trong nước và quốc tế.
Hai là, những sự thay đổi lớn lao xuất hiện dưới sự tác động của chuyển đổi số đã bộc lộ và từng bước hiện hữu một cách rõ rệt trong xã hội hiện thời. Trước tình hình đó, đổi mới đồng bộ vê nội dung, mục tiêu và phương pháp trong toàn bộ các chương trình giáo dục – đào tạo theo hướng tăng cường hơn nữa tính đổi mới – sáng tạo, chú trọng nhiều hơn về phương diện rèn luyện các kỹ năng cần thiết cần được xem là một phần không thể thiếu trong hệ giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhằm kịp thời đáp ứng vá đủ linh hoạt để thích nghi, hòa nhập vào bối cảnh mới với những điều kiện mới.
Đối với lĩnh vực du lịch, công tác đào tạo nguồn nhân lực nói chung của ngành cần chú trọng đến các kỹ năng nhằm hướng đến nâng cao tính thích nghi, khả năng thích ứng với những biến động nhanh chóng về mọi mặt của xã hội hiện đại, từ đó mỗi cá nhân có thể chủ động, tự giác nâng cao trình độ và mức độ đáp ứng nghề nghiệp một cách tốt nhất.
Ba là, xây dựng và hoàn thiện các quy tắc và giá trị đạo đức nghề nghiệp phù hợp với yêu cầu trong bối cảnh mới, định hướng lối sống xã hội chủ nghĩa của người lao động hiện nay nhằm tập hợp và huy động được tiềm lực sức mạnh của nguồn lực con người tham gia vào mọi mặt của đời sống xã hội, nhất là lĩnh vực lao động sản xuất, góp phần đưa nền kinh tế của đất nước phát triển nhanh, mạnh và bền vững.
Trong ngành du lịch, bên cạnh và đồng thời với những yêu cầu về kiến thức chuyên môn – nghiệp vụ trực tiếp đáp ứng cho nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu, giải trí… của du khách là tinh thần, thái độ, văn hóa ứng xử của những người làm việc trong ngành, đặc biệt là đội ngũ hướng dẫn viên – họ vừa thực hiện nhiệm vụ giới thiệu, truyền bá những giá trị văn hóa, lịch sử, truyền thống vừa đại diện cho vùng đất và con người hiện tại, góp phần thu hút sự đầu tư để phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương.
3. KẾT LUẬN
Sự phát triển của nền kinh tế, cũng như sự phồn vình của xã hội được tạo nên từ nhiều yếu tố, nhiều phương diện. Nguồn nhân lực hiểu theo nghĩa là sự kết hợp giữa thể lực – trí lực – tâm lực tham gia trực tiếp vào nền sản xuất của xã hội, xét đến cùng là yếu tố quyết định mục tiêu và tiến trình phát triển của xã hội trong mỗi thời kỳ lịch sử cụ thể. Dưới sự tác động đa chiều, sâu rộng và mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, đặc biệt là xu thế chuyển đổi số trong thời gian qua, đã tạo nên những biến động và thay đổi ở nhiều mặt của nguồn nhân lực nước ta. Việc tìm kiếm một hệ giải pháp cho bài toàn nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong thời gian tới cần thiết phải quan tâm toàn diện và chú trọng thực hiện đồng bộ, từ kiến thức khoa học, chuyên môn, kỹ năng, đến bản lĩnh chính trị, lập trường giai cấp và các quy tắc, giá trị đạo đức nghề nghiệp mà người lao động tương lai cần có để kịp thời đáp ứng những yêu cầu có tính đặc trưng của kỷ nguyên số.
Tài liệu tham khảo
Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương (khóa VIII), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
Klaus Schwab (2018), Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Nxb Thế giới, Hà Nội.
Klaus Schwab (2019), Định hình cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Nxb Thế giới, Hà Nội.
Nguyễn Văn Thành (2018), "Đặc trưng và tác động kinh tế - xã hội của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư", Tạp chí Xã hội học (1), tr. 3-12.
Phạm Thuyên (2019), Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.208
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương (khóa VIII), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.11.
[3] Klaus Schwab (2018), Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Nxb Thế giới, Hà Nội, tr.11.
[4] Klaus Schwab (2018), Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Nxb Thế giới, Hà Nội, tr.14.
ThS. Phùng Quang Thái
Trường Đại học Tiền Giang