logo
ISSN 2734-9020

Nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình trong xây dựng các tổ chức cơ sở đảng góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Thứ năm, 26/02/2026 - 15:40

Tóm tắt: Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng nói chung và của tổ chức cơ sở đảng nói riêng phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình.

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh "đổi mới đồng bộ phương thức và nâng cao năng lực tự đổi mới, tự hoàn thiện để tăng cường hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo"1, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo thông suốt, kịp thời, đúng đắn của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các tổ chức, cơ quan trong hệ thống chính trị. Để thực hiện quan điểm chỉ đạo này, mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng cần tiếp tục thực hiện nghiêm nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng.

Tự phê bình và phê bình là một nguyên tắc cơ bản, vũ khí tư tưởng sắc bén trong công tác xây dựng Đảng. Thông qua tự phê bình và phê bình, những ưu điểm được nhận diện rõ để tiếp tục phát huy, những hạn chế, khuyết điểm được chỉ ra đúng mức để kịp thời khắc phục; từ đó, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và năng lực cầm quyền của Đảng, bảo đảm cho việc thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chiến lược cách mạng trong từng giai đoạn phát triển của đất nước.

Nhận thức sâu sắc ý nghĩa đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt coi trọng và thường xuyên nhấn mạnh yêu cầu thực hiện tự phê bình và phê bình trong Đảng. Người khẳng định, một đảng cách mạng chân chính phải dám thẳng thắn nhìn nhận khuyết điểm của mình, kiên quyết sửa chữa sai lầm để không ngừng tiến bộ. Theo Người, "Tự phê bình và phê bình là thứ vũ khí sắc bén nhất, nó giúp cho Đảng ta mạnh và ngày càng thêm mạnh. Nhờ nó mà chúng ta sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm, tiến bộ không ngừng"2. Đồng thời yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải có thái độ nghiêm túc, trung thực trong tự phê bình, cầu thị trong tiếp thu phê bình, kiên quyết chống các biểu hiện tự cao, tự đại, né tránh, hình thức.

Thấm nhuần tư tưởng của Người, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định tự phê bình và phê bình là công việc thường xuyên, liên tục, gắn liền với sinh hoạt đảng, được ví như "cơm ăn, nước uống và rửa mặt hằng ngày". Đối với tổ chức cơ sở Đảng, nơi trực tiếp lãnh đạo, tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, việc thực hiện nghiêm túc, có chất lượng tự phê bình và phê bình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Thực hiện tốt nguyên tắc này sẽ góp phần nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng; phát huy trí tuệ tập thể, tinh thần trách nhiệm và tính sáng tạo của cán bộ, đảng viên trong tham gia xây dựng nghị quyết, tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị; củng cố nguyên tắc tập trung dân chủ; xây dựng mối đoàn kết, thống nhất trong nội bộ chi bộ, đảng bộ. Đồng thời, đây cũng là cơ sở quan trọng để tăng cường đấu tranh trên mặt trận chính trị, tư tưởng, văn hóa; chủ động phòng ngừa, phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch, qua đó góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

Trong kỷ nguyên mới, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đang đặt ra nhiều yêu cầu mới, ngày càng cao đối với công tác xây dựng Đảng nói chung và việc thực hiện tự phê bình và phê bình nói riêng. Mặt trái của nền kinh tế thị trường, tác động đa chiều, nhanh chóng của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sự gia tăng của chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng, cùng với đó là hoạt động chống phá ngày càng quyết liệt, tinh vi của các thế lực thù địch thông qua chiến lược "diễn biến hòa bình", đã và đang tác động trực tiếp đến tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Chúng tập trung xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, gieo rắc hoài nghi, chia rẽ nội bộ Đảng, chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân, nhằm làm suy yếu nền tảng tư tưởng và vai trò cầm quyền của Đảng.

Thực tiễn cho thấy, việc thực hiện tự phê bình và phê bình ở một số tổ chức cơ sở Đảng hiện nay vẫn còn những hạn chế. "Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số ít tổ chức cơ sở đảng còn hạn chế; cá biệt có nơi mất sức chiến đấu, làm giảm niềm tin của Nhân dân với Đảng"3; "Tự phê bình và phê bình ở không ít tổ chức đảng chưa khắc phục được tình trạng hình thức, nể nang, né tránh, ngại va chạm"4, "dĩ hòa vi quý" chưa được khắc phục triệt để. "một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ cao cấp thiếu tu dưỡng, rèn luyện, không gương mẫu, có biểu hiện đùn đẩy, né tránh"5. "việc rà soát, sàng lọc đưa đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng chưa thường xuyên, thiếu cương quyết"6, làm giảm tính nghiêm minh của kỷ luật đảng. Những hạn chế, yếu kém đó không chỉ làm suy giảm uy tín, vị thế của tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ lãnh đạo trước quần chúng, mà còn làm nảy sinh tâm lý hoài nghi, thiếu tin tưởng trong nội bộ; ở một số đơn vị, tình trạng mất đoàn kết kéo dài, khó khắc phục, ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện nhiệm vụ chính trị. Mặc dù mức độ, phạm vi và tính chất biểu hiện có khác nhau, song đây là những vấn đề phức tạp, tồn tại ở nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều tổ chức trong hệ thống chính trị.

Xét về nguyên nhân, những hạn chế trong thực hiện tự phê bình và phê bình có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, song nguyên nhân chủ quan giữ vai trò quyết định. Trước hết, một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện bản thân; phai nhạt lý tưởng cách mạng, giảm sút ý chí phấn đấu, thiếu cảnh giác trước những tác động tiêu cực từ bên ngoài. Một số cấp ủy và cán bộ, đảng viên chưa nhận thức đầy đủ, đúng đắn về vị trí, vai trò, ý nghĩa của tự phê bình và phê bình; tính chiến đấu trong sinh hoạt đảng còn thấp; vẫn tồn tại tâm lý sợ mất uy tín cá nhân, sợ ảnh hưởng đến lợi ích trước mắt. Cá biệt có trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn để áp đặt ý chí cá nhân, trù dập người phê bình, kéo bè kéo cánh, gây mất đoàn kết nội bộ, làm suy giảm nghiêm trọng năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng. Như Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã chỉ rõ: "Chất lượng sinh hoạt đảng ở một số nơi còn hình thức, tính chiến đấu trong tự phê bình và phê bình còn thấp… Chất lượng một bộ phận đảng viên hạn chế, năng lực, trình độ chưa đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới"7. Nếu những tồn tại này không được nhận thức đúng và khắc phục kịp thời, sẽ trở thành lực cản lớn đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; làm suy giảm năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng, thậm chí có thể dẫn đến tình trạng tê liệt vai trò lãnh đạo, không tạo được động lực để cán bộ, đảng viên phấn đấu, rèn luyện và cống hiến.

Do đó, để nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình trong xây dựng các tổ chức cơ sở đảng góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, cần tập trung thực hiện tốt một số biện pháp sau:

Một là, tăng cường giáo dục nâng cao tri thức toàn diện cho đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Đây là biện pháp có ý nghĩa nền tảng, bởi nhận thức đúng là tiền đề quyết định hành động đúng. Chỉ khi mỗi cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc rằng tự phê bình và phê bình là yêu cầu tất yếu, là trách nhiệm chính trị và đạo đức cách mạng của bản thân đối với Đảng, Nhà nước và Nhân dân, thì hoạt động này mới được thực hiện một cách tự giác, nghiêm túc và có chất lượng. Ngược lại, nếu xem nhẹ hoặc nhận thức không đầy đủ, tự phê bình và phê bình sẽ dễ rơi vào hình thức, chiếu lệ, nể nang, né tránh, "dĩ hòa vi quý", làm sai lệch mục đích, bản chất của nguyên tắc này trong sinh hoạt đảng.

Tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng; vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên phải biến nhận thức về quy luật đó thành nhu cầu tự thân trong quá trình tu dưỡng, rèn luyện. Việc "thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa, và giúp đồng chí mình sửa chữa"8 không chỉ nhằm hoàn thiện cá nhân mà còn trực tiếp góp phần xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh. Do đó, cần đẩy mạnh giáo dục, bồi dưỡng lý luận chính trị, làm cho cán bộ, đảng viên "Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới"9; gắn nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn, cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời. Trên cơ sở đó, hình thành thế giới quan, nhân sinh quan cách mạng, bản lĩnh chính trị vững vàng, dũng khí đấu tranh, dám bảo vệ cái đúng, phê phán cái sai trong tự phê bình và phê bình.

Hai là, phát huy dân chủ, duy trì chặt chẽ và thường xuyên chế độ tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt của các tổ chức đảng.

Phát huy dân chủ trong sinh hoạt đảng là điều kiện trực tiếp bảo đảm để tự phê bình và phê bình diễn ra thực chất, hiệu quả. Dân chủ được mở rộng và thực hiện đúng sẽ tạo môi trường, không khí cởi mở, bình đẳng, giúp mỗi đảng viên phát huy trí tuệ, bày tỏ chính kiến, nói rõ, nói hết suy nghĩ, quan điểm của mình khi tự đánh giá bản thân, góp ý, phê bình tổ chức đảng và đồng chí, đồng đội, không bị áp lực hay ràng buộc không chính đáng.

Phát huy dân chủ trong tự phê bình và phê bình còn liên quan trực tiếp đến chất lượng sinh hoạt của các tổ chức cơ sở Đảng. Vì vậy, cần coi việc duy trì nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình là nội dung bắt buộc, thường xuyên trong sinh hoạt đảng, như "cơm ăn, nước uống và rửa mặt hàng ngày". Qua đó, kịp thời khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm; chủ động phát hiện, đấu tranh ngăn chặn các biểu hiện suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Các cấp ủy cần xây dựng và thực hiện quy trình tự phê bình và phê bình một cách khoa học, chặt chẽ, thống nhất từ khâu chuẩn bị, tổ chức thực hiện đến theo dõi, khắc phục khuyết điểm sau phê bình, bảo đảm tính liên tục và hiệu quả thực tế.

Ba là, phát huy vai trò, trách nhiệm của hệ thống cấp uỷ đảng các cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng, hiệu quả tự phê bình và phê bình.

Sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên của cấp ủy có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng tự phê bình và phê bình ở tổ chức cơ sở đảng. Việc kiểm điểm nghiêm túc, đánh giá đúng ưu điểm, chỉ rõ hạn chế, khuyết điểm, làm rõ nguyên nhân và đề ra biện pháp khắc phục không chỉ nâng cao chất lượng công tác lãnh đạo, mà còn tác động trực tiếp đến kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị. Cấp ủy, trước hết là tập thể cấp ủy và người đứng đầu, phải gương mẫu, nghiêm túc trong tự phê bình và phê bình, coi đó là động lực lôi cuốn, tạo niềm tin và sự tự giác cho cán bộ, đảng viên và quần chúng noi theo. Việc tự phê bình và phê bình phải được thực hiện với động cơ trong sáng, tinh thần đồng chí, đồng đội; thái độ nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật; không nể nang, né tránh, không có "vùng cấm", đồng thời bảo đảm công khai, minh bạch, "lý lẽ phân minh, nghĩa tình đầy đủ". Phê bình phải nhằm vào công việc, vào trách nhiệm, không mang tính quy chụp cá nhân. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: "Phê bình là cốt để giúp nhau tiến bộ… Khi phê bình cần phải xét nguyên nhân của khuyết điểm, phải cân nhắc đến ưu điểm, phải đề ra cách sửa chữa"10.

Bốn là, phát huy vai trò của quần chúng trong tham gia phê bình tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên; đồng thời nêu cao tính tiền phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ chủ trì của tổ chức cơ sở đảng.

Tổ chức cơ sở đảng là nơi gắn bó trực tiếp với quần chúng; mọi hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo đều chịu sự giám sát của quần chúng. Vì vậy, tự phê bình và phê bình ở cơ sở không thể tách rời việc phát huy dân chủ trong quần chúng, coi ý kiến góp ý, phản biện của quần chúng là kênh thông tin quan trọng giúp tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên tự soi, tự sửa.

Các cấp ủy cần quan tâm xây dựng, củng cố các tổ chức quần chúng, tạo điều kiện thuận lợi để quần chúng tham gia xây dựng Đảng, coi đây vừa là quyền lợi, vừa là trách nhiệm. Đồng thời, cán bộ chủ trì, nhất là bí thư cấp ủy và người chỉ huy, phải thật sự gương mẫu, đi đầu trong thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở với phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng"11. Người đứng đầu phải thể hiện rõ bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống trong sáng, tác phong dân chủ, công tâm, khiêm tốn, dám tự phê bình, dám nhận khuyết điểm trước tập thể. Chỉ trên cơ sở đó mới tạo được không khí dân chủ, cởi mở, khuyến khích đảng viên mạnh dạn, thẳng thắn trong tự phê bình và phê bình.

Năm là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện tự phê bình và phê bình.

Công tác kiểm tra, giám sát thuộc chức năng lãnh đạo của Đảng, là nội dung quan trọng bảo đảm nghị quyết của Đảng thực hiện có hiệu quả trên thực tế. Để thực hiện tốt nội dung này, các tổ chức cơ sở đảng cấp trên, nhất là ủy ban kiểm tra đảng cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc chấp hành chế độ tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng để kịp thời khắc phục khuyết điểm và xử lý nghiêm khắc nếu có vi phạm. Nội dung cần tập trung kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở những lĩnh vực, địa bàn, vị trí công tác dễ xảy ra tham nhũng, tiêu cực, "Tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác kiểm điểm, phê bình, tự phê bình, đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên"12, kịp thời phát hiện từ nội bộ cơ sở, chi bộ, không để kéo dài hoặc "đùn đẩy" lên cấp trên để chấn chính ngay những vi phạm từ khi mới phát sinh, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành khuyết điểm, sai phạm lớn và đề ra các giải pháp giúp các tổ chức đảng và đảng viên tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, góp phần nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt và hoạt động của các tổ chức cơ sở Đảng. Tự phê bình và phê bình, nếu được thực hiện nghiêm túc, thực chất, sẽ góp phần củng cố nguyên tắc tập trung dân chủ, xây dựng khối đoàn kết thống nhất trong Đảng, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với quần chúng và Nhân dân. Đây chính là cơ sở quan trọng để không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên, qua đó góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.

Thiếu tá, QNCN Nguyễn Đức Long

Tổ Quân y cơ quan, Văn phòng, Học viện Chính trị


Chú thích:

1 Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Hà Nội, tr.9.

2 Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.521.

3 Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Báo cáo Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam, Hà Nội, tr.72.

4 Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Báo cáo Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam, Hà Nội, tr.71.

5 Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Báo cáo Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam, Hà Nội, tr.72.

6 Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng (2022), Tài liệu các Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII (dùng cho cán bộ, đảng viên ở cơ sở), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.68-69.

7 Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Báo cáo Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam, Hà Nội, tr.72.

8 Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 273.

9 Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Hà Nội, tr.19.

10 Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.386.

11 Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Báo cáo Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam, Hà Nội, tr.104.

12 Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Hà Nội, tr.47.

Tài liệu tham khảo:

1. Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng (2022), Tài liệu các Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII (Dùng cho cán bộ, đảng viên ở cơ sở), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Hà Nội.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Hà Nội.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Báo cáo Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam, Hà Nội.

5. Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011.

6. Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011.

7. Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011.

8. PGS. TS Nguyễn Trọng Phúc (2023), "Tự phê bình và phê bình, nêu cao trách nhiệm chính trị của người đứng đầu", Báo Nhân dân Online, ngày 8/3/2023.