logo
ISSN 2734-9020

Nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội gắn với chính quyền địa phương hai cấp: Thực trạng và một số giải pháp đề xuất trong quản lý giáo dục mầm non trên địa bàn phường Đông Quang, tỉnh Thanh Hóa

Thứ tư, 10/06/2026 - 08:00

Tóm tắt: Trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp theo Nghị quyết 203/2025/QH15, công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục mầm non đứng trước những yêu cầu đổi mới căn bản. Nghiên cứu tại phường Đông Quang, Thanh Hóa cho thấy, mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực, vẫn tồn tại những bất cập đáng kể, đặc biệt về năng lực quản lý cấp xã, cơ chế phối hợp Sở - xã - trường, nguồn lực và sự tham gia của cộng đồng. Bài viết đề xuất sáu nhóm giải pháp: nâng cao năng lực đội ngũ; tăng cường cơ sở vật chất; đổi mới kiểm tra đánh giá; phối hợp chặt chẽ ba bên; ứng dụng công nghệ thông tin; và huy động nguồn lực xã hội hóa.

Từ khóa: Quản lý giáo dục, phối hợp, chính quyền hai cấp, giáo dục mầm non, Đông Quang

1. Mở đầu

Bối cảnh cải cách hành chính công ở Việt Nam đang bước vào giai đoạn có tính bước ngoặt khi chủ trương xây dựng mô hình chính quyền địa phương hai cấp (tỉnh và xã) chính thức được thực thi từ ngày 01 tháng 7 năm 2025, theo đó đơn vị hành chính cấp huyện không còn được tổ chức [1]. Đối với ngành Giáo dục và Đào tạo, sự thay đổi này tác động trực tiếp và sâu sắc đến toàn bộ hệ thống quản lý, từ cấp học mầm non đến giáo dục phổ thông, khi cấp trung gian này bị bãi bỏ, khoảng trống về quản lý hiện ra rất rõ, đòi hỏi phải xây dựng một cơ chế phối hợp mới vừa tinh gọn, vừa trực tiếp, vừa bảo đảm tính thống nhất trong chỉ đạo từ cấp tỉnh, vừa phát huy được vai trò tự chủ, sáng tạo của cấp xã và các nhà trường [2].

Giáo dục mầm non - cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, có những đặc thù riêng so với các cấp học khác. Ở lứa tuổi này, sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường không chỉ đơn thuần là trao đổi thông tin về tình hình học tập, mà còn đòi hỏi sự đồng bộ, thống nhất trong các phương pháp nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe, rèn luyện thói quen, phát triển kỹ năng sống và hình thành nhân cách cho trẻ. Sự thiếu nhất quán giữa môi trường giáo dục ở nhà trường và ở gia đình có thể gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển tâm sinh lý của trẻ, đặc biệt trong giai đoạn vàng của sự phát triển não bộ - từ 0 đến 6 tuổi. Hơn nữa, bối cảnh xã hội Việt Nam hiện nay đang chứng kiến những biến động sâu sắc về cấu trúc gia đình, lối sống và điều kiện kinh tế - xã hội, đặt ra những thách thức mới cho công tác phối hợp [3].

Phường Đông Quang, tỉnh Thanh Hóa - địa bàn được chọn làm trường hợp nghiên cứu điển hình trong bài viết này - là một khu vực đang trong quá trình đô thị hóa mạnh mẽ. Sự chuyển đổi từ xã thuần nông lên phường kéo theo nhiều biến động về cơ cấu dân cư: một bộ phận người dân chuyển đến sinh sống do nhu cầu việc làm tại các khu công nghiệp, trong khi không ít hộ gia đình vẫn giữ nếp sống nông thôn truyền thống. Sự pha trộn giữa các tầng lớp dân cư với trình độ nhận thức, điều kiện kinh tế và quan niệm về giáo dục khác nhau tạo nên những thách thức không nhỏ trong việc xây dựng sự đồng thuận và phối hợp. Bên cạnh đó, quá trình sáp nhập các đơn vị hành chính khi chuyển từ mô hình ba cấp sang hai cấp cũng tạo ra những "khoảng lặng" về quản lý, khi các cơ chế phối hợp cũ không còn hiệu lực nhưng cơ chế mới chưa được thiết lập đầy đủ và đồng bộ.

Với gần 20 năm giảng dạy và quản lý giáo dục mầm non, tôi nhận thấy rằng mặc dù phường Đông Quang đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận - như duy trì vững chắc kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, xây dựng thành công trường quốc gia mức độ II [4] - nhưng công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong bối cảnh mô hình chính quyền hai cấp vẫn còn nhiều bất cập cần được nhận diện và giải quyết một cách hệ thống. Những bất cập này không chỉ đến từ phía nhà trường, mà còn từ phía gia đình, và từ phía chính quyền địa phương [2][5].

Từ những lý do đó, bài viết này được thực hiện với mục tiêu: (1) đánh giá thực trạng công tác quản lý giáo dục mầm non trên địa bàn phường Đông Quang trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền hai cấp, tập trung vào hoạt động lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra; thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên; cơ sở vật chất, trang thiết bị, kinh phí và sự phối hợp giữa các bên; (2) trên cơ sở phân tích những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội, góp phần nâng cao chất lượng quản lý giáo dục mầm non trên địa bàn.

2. Một số vấn đề lý luận về phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong quản lý giáo dục mầm non

2.1. Phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội

Phối hợp, trong góc nhìn quản lý học, được hiểu là sự tác động qua lại, sự liên kết, sự cộng tác giữa các chủ thể với nhau để cùng thực hiện một mục tiêu chung, trong đó mỗi chủ thể phát huy thế mạnh riêng của mình và hỗ trợ lẫn nhau để bù đắp những hạn chế, yếu kém. Ở bình diện giáo dục, phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội là sự liên kết có tổ chức, có kế hoạch giữa ba môi trường giáo dục nhằm tạo ra sự thống nhất, đồng bộ trong các tác động giáo dục đến người học.

Trong lĩnh vực quản lý giáo dục mầm non, phối hợp còn được cụ thể hóa thành các hoạt động như: trao đổi thông tin về tình hình phát triển của trẻ giữa giáo viên và phụ huynh; tổ chức các buổi họp phụ huynh, hội thảo chuyên đề về nuôi dạy trẻ theo phương pháp khoa học; huy động sự tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng cơ sở vật chất, giám sát chất lượng bữa ăn, đảm bảo an toàn thực phẩm và an ninh trường học; phối hợp với chính quyền địa phương trong việc quản lý trẻ em trên địa bàn, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em dân tộc thiểu số, trẻ em khuyết tật; và cùng tham gia vào quá trình tự đánh giá, kiểm định chất lượng giáo dục của nhà trường.

Một điểm cần lưu ý là, trong điều kiện mô hình chính quyền hai cấp, khái niệm "xã hội" trong tam giác phối hợp được mở rộng hơn, bao gồm không chỉ các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể, doanh nghiệp, tổ chức từ thiện, mà còn có sự tham gia trực tiếp của UBND cấp xã với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước gần dân nhất, thay thế cho vai trò trung gian trước đây của UBND cấp huyện và Phòng GD-ĐT [1][2].

Đặc điểm phối hợp trong quản lý giáo dục mầm non

So với các cấp học khác, phối hợp trong giáo dục mầm non có những đặc điểm riêng biệt. Thứ nhất, nội dung phối hợp không chỉ dừng lại ở việc dạy chữ, dạy kiến thức mà chủ yếu tập trung vào các vấn đề chăm sóc sức khỏe, nuôi dưỡng, đảm bảo dinh dưỡng, phòng chống dịch bệnh, đảm bảo an toàn thể chất và tinh thần cho trẻ. Ở lứa tuổi mầm non, một bữa ăn đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, một giấc ngủ ngon, một môi trường sống trong lành, an toàn còn quan trọng hơn nhiều so với việc trẻ biết đọc, biết viết sớm. Điều này đòi hỏi sự phối hợp phải thường xuyên, liên tục và ở cấp độ rất chi tiết, cụ thể.

Thứ hai, đối tượng phối hợp rất đa dạng và phức tạp. Phụ huynh của trẻ mầm non thường còn trẻ, đang trong độ tuổi lao động chính, áp lực công việc và kinh tế rất lớn, do đó khó có thể dành nhiều thời gian cho việc phối hợp với nhà trường. Nhiều gia đình phải gửi con ở trường cả ngày từ sáng sớm đến tối muộn, thậm chí gửi cả thứ Bảy, Chủ nhật. Trong khi đó, nhận thức về vai trò của giáo dục mầm non ở một bộ phận phụ huynh, đặc biệt là những gia đình lao động phổ thông, công nhân nhập cư, còn hạn chế; họ vẫn coi trường mầm non đơn thuần là nơi "gửi trẻ" chứ chưa thực sự coi là môi trường giáo dục có tính nền tảng, quyết định đến sự phát triển lâu dài của con em mình [3][5].

Thứ ba, sự phối hợp đòi hỏi tính hệ thống và đồng bộ cao hơn do thời gian trẻ ở trường kéo dài (thường từ 7h00 đến 17h00 hàng ngày, thậm chí có trường tổ chức bán trú đến 19h00). Những gì trẻ được học, được ăn, được rèn luyện ở trường cần được duy trì, củng cố và phát triển ở gia đình, tránh tình trạng "trống đánh xuôi, kèn thổi ngược". Sự thiếu nhất quán giữa hai môi trường giáo dục sẽ gây ra những xáo trộn trong tâm lý trẻ, làm mất đi hiệu quả của các tác động giáo dục.

Cơ chế phối hợp trong bối cảnh chính quyền hai cấp

Theo quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15, trong lĩnh vực giáo dục mầm non, Sở GD-ĐT cấp tỉnh là cơ quan chịu trách nhiệm chính về hướng dẫn chuyên môn, kiểm định chất lượng, thanh tra, kiểm tra và xây dựng chính sách phát triển giáo dục mầm non trên toàn địa bàn tỉnh [1]. Sở GD-ĐT ban hành các văn bản hướng dẫn về chương trình, phương pháp, tiêu chuẩn đánh giá trường mầm non; tổ chức bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý; và chịu trách nhiệm tổng hợp, báo cáo số liệu, đánh giá chất lượng toàn tỉnh.

UBND cấp xã (xã, phường) được giao vai trò quản lý trực tiếp các trường mầm non trên địa bàn, bao gồm: phê duyệt kế hoạch phát triển giáo dục mầm non của địa phương; bố trí ngân sách đầu tư cơ sở vật chất; quản lý đội ngũ giáo viên, nhân viên; giám sát việc thực hiện các quy định về nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ; và quan trọng nhất - là đầu mối phối hợp giữa nhà trường với các tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư trên địa bàn. UBND cấp xã cần có cán bộ phụ trách giáo dục, vừa tham mưu cho UBND xã về các vấn đề giáo dục, vừa tiếp nhận hướng dẫn chuyên môn từ Sở GD-ĐT, bảo đảm sự thống nhất và thông suốt trong chỉ đạo, điều hành [1][2].

Các trường mầm non (bao gồm trường công lập, tư thục, dân lập) là thực thể tự chủ trong phạm vi được phân quyền, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ. Nhà trường xây dựng kế hoạch phối hợp với cha mẹ trẻ, tổ chức các hoạt động giao lưu, tuyên truyền, phổ biến kiến thức nuôi dạy con theo khoa học; và chịu trách nhiệm giải trình trước UBND cấp xã, Sở GD-ĐT và cộng đồng về chất lượng giáo dục, an toàn trường học, hiệu quả sử dụng ngân sách và các nguồn lực xã hội hóa [4].

Có thể hình dung cơ chế phối hợp này như một "bộ ba kiềng ba chân": Sở GD-ĐT giữ vai trò định hướng chiến lược, chuyên môn và giám sát chất lượng; UBND cấp xã giữ vai trò quản lý hành chính, huy động nguồn lực và tạo môi trường pháp lý, xã hội thuận lợi; nhà trường là người thực thi trực tiếp, linh hoạt và sáng tạo trong chăm sóc, giáo dục trẻ. Cả ba chân này phải vững chắc và được kết nối chặt chẽ với nhau thì "cái kiềng" giáo dục mầm non mới có thể đứng vững và phát huy hiệu quả. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai tại phường Đông Quang thời gian qua cho thấy, "bộ ba" này vẫn còn nhiều khoảng trống và sự lỏng lẻo trong kết nối [2][5].

2.2. Khái quát về giáo dục mầm non phường Đông Quang

Tính đến tháng 5 năm 2026, trên địa bàn phường Đông Quang có 8 cơ sở giáo dục mầm non công lập; 2 trường mầm non tư thục và 15 nhóm trẻ ĐLTT. Tổng số trẻ trong độ tuổi mầm non (từ 3 tháng đến 6 tuổi) trên địa bàn khoảng 4.583 cháu, trong đó số trẻ đến trường, đến lớp đạt khoảng 78% (riêng trẻ 5 tuổi đạt 100%). Tổng số giáo viên, cán bộ quản lý, nhân viên mầm non toàn địa bàn khoảng 300 người [4]. Riêng Trường Mầm non Quảng Thắng là cơ sở giáo dục mầm non công lập có số lượng trẻ đông nhất trên địa bàn với 10 lớp học, tổng số 341 trẻ; đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên là 30 người [4]. Trường đã được công nhận đạt chuẩn quốc gia mức độ I và đang trong lộ trình xây dựng chuẩn quốc gia mức độ II. Các phòng học được trang bị đầy đủ đồ dùng, đồ chơi, thiết bị dạy học đảm bảo. 100% giáo viên đạt trên chuẩn, có 01 CBQL có trình độ sau đại học [4].

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn những thách thức đáng kể. Các trường tư thục, mặc dù góp phần đáp ứng nhu cầu gửi trẻ của người dân, nhưng chất lượng còn chênh lệch, cơ sở vật chất ở một số cơ sở chưa bảo đảm tiêu chuẩn, đội ngũ giáo viên chưa ổn định, công tác quản lý còn lỏng lẻo. Tình trạng "nhóm mầm non tự phát" hoạt động trong các khu dân cư, khu nhà trọ của công nhân cũng gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước. Ngoài ra, sự phân bố không đồng đều về cơ sở giáo dục mầm non, tập trung chủ yếu ở khu vực trung tâm phường, trong khi các khu vực ven, vùng sâu, vùng xa còn thiếu trường lớp, gây khó khăn cho việc đưa đón trẻ của phụ huynh [3][4].

Sự chuyển đổi sang mô hình chính quyền hai cấp càng làm bộc lộ rõ những bất cập trong công tác quản lý và phối hợp. Sở GD-ĐT Thanh Hóa, dù rất nỗ lực nhưng với quy mô quản lý quá lớn (toàn bộ các trường mầm non, phổ thông trên địa bàn toàn tỉnh), khó có thể bao quát và hỗ trợ kịp thời cho một phường nhỏ như Đông Quang [2][5].

2.3. Thực trạng công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong quản lý giáo dục mầm non tại phường Đông Quang

Thực trạng lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ

Kết quả khảo sát cho thấy, kế hoạch phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội thường được xây dựng một cách hình thức, thiếu tính khả thi và chưa dự báo được các tình huống bất thường. Có đến 80% cán bộ quản lý được hỏi cho rằng kế hoạch phối hợp hiện nay "chủ yếu dựa trên kinh nghiệm, chưa có căn cứ khoa học và thực tiễn địa phương vững chắc". Không có kế hoạch cụ thể, chi tiết cho từng giai đoạn, từng tháng, từng tuần; việc giao ban, đánh giá sơ kết, tổng kết cũng không được thực hiện đều đặn [5].

Việc triển khai các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ còn bộc lộ sự thiếu đồng bộ giữa các trường. Trường Mầm non Quảng Thắng có lợi thế về đội ngũ, kinh nghiệm, cơ sở vật chất nên tổ chức tốt các hoạt động, nhưng các trường tư thục, đặc biệt là các nhóm trẻ gia đình, chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc không đồng đều, có nơi chưa bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, chưa bảo đảm an toàn cho trẻ. Công tác chỉ đạo và kiểm tra của UBND phường còn mang tính hình thức, chủ yếu dựa vào báo cáo của các trường, chưa có sự kiểm tra đột xuất, giám sát trực tiếp tại chỗ [4][5].

Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên

Về số lượng: Tổng số cán bộ, giáo viên, nhân viên (CBGVNV) các cơ sở giáo dục mầm non trên địa bàn phường Đông Quang là khoảng 300 người.

Về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: Có sự phân hóa rõ rệt. Trường Mầm non Quảng Thắng có 100% giáo viên đạt trên chuẩn [4]. Tuy nhiên, ở một số trường tư thục và đặc biệt là nhóm trẻ gia đình, tỷ lệ giáo viên có bằng cấp sư phạm mầm non chính quy chỉ đạt khoảng 60-70%. Số còn lại có thể chỉ qua các lớp bồi dưỡng ngắn hạn, hoặc chưa qua đào tạo bài bản. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ, đặc biệt trong việc tổ chức các hoạt động phát triển vận động, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm và kỹ năng xã hội cho trẻ theo Chương trình Giáo dục mầm non mới.

Về năng lực quản lý và đạo đức nghề nghiệp: Đội ngũ cán bộ quản lý các trường mầm non trên địa bàn phường hầu hết có trình độ đại học trở lên, được đào tạo chuyên ngành quản lý giáo dục. Tuy nhiên, năng lực quản lý trong bối cảnh chính quyền hai cấp, đặc biệt là kỹ năng phối hợp với cấp xã và huy động nguồn lực xã hội, còn nhiều hạn chế. Một số cán bộ quản lý còn tư tưởng "trông chờ, ỷ lại" vào cấp trên, chưa thực sự chủ động, sáng tạo.

Về đạo đức nghề nghiệp, nhìn chung đội ngũ giáo viên mầm non phường Đông Quang có tinh thần trách nhiệm cao, yêu trẻ, tận tụy với công việc. Tuy nhiên, vẫn tồn tại một bộ phận nhỏ giáo viên có hành vi chưa chuẩn mực, thiếu kiên nhẫn với trẻ, vấn đề này cho thấy công tác quản lý, giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho giáo viên vẫn còn là điểm yếu [5].

Thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị, kinh phí

Cơ sở vật chất, trang thiết bị của các trường mầm non trên địa bàn phường Đông Quang có sự chênh lệch rất lớn. trên địa bàn các xã thuộc đông sơn cũ thì 100% các trường đã đạt chuẩn II với trang thiết bị hiện đại. Riêng có 3 trường từ thành phố cũ chuyển về là Quảng Thắng, An Hưng, Đông Vinh mới đạt chuẩn I.

Về kinh phí, nguồn ngân sách nhà nước chi cho giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng trên địa bàn phường còn hạn hẹp, việc đầu tư xây dựng, đầu tư các trang thiết bị phải qua rất nhiều bước, chính vì thế kế hoạch xây dựng trường mầm non Quảng Thắng đạt chuẩn II chậm tiến độ. Việc huy động nguồn lực từ cộng đồng, doanh nghiệp còn hạn chế, chưa có cơ chế khuyến khích hiệu quả. Một số doanh nghiệp, tổ chức từ thiện có tài trợ cho các trường mầm non nhưng thiếu tính bền vững, thường chỉ tập trung vào các hoạt động "đột xuất" như tặng quà nhân dịp Tết Trung thu, ngày Quốc tế Thiếu nhi 1/6.

Thực trạng phối hợp giữa nhà trường và gia đình

Kết quả khảo sát cho thấy, có tới 65% phụ huynh được hỏi thừa nhận "chỉ gặp giáo viên khi đưa đón con, không có thời gian trao đổi sâu về tình hình của con". Nguyên nhân chính là do áp lực công việc: nhiều phụ huynh làm công nhân tại các khu công nghiệp gửi con cho ông, bà đưa đón. Một số phụ huynh có quan điểm "đã gửi con cho nhà trường thì nhà trường phải chịu trách nhiệm tất cả", thiếu sự hợp tác, chia sẻ. Điều này xuất phát từ nhận thức chưa đầy đủ về vai trò của gia đình trong giáo dục trẻ mầm non, hoặc đơn giản là do họ quá mệt mỏi, căng thẳng sau ngày dài lao động vất vả. Bên cạnh đó, khả năng "làm cha mẹ" của nhiều người còn hạn chế: họ thiếu kiến thức, kỹ năng nuôi dạy con theo phương pháp khoa học, dễ có những hành vi ứng xử không phù hợp làm ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý của trẻ.

Hình thức phối hợp chủ yếu vẫn là họp phụ huynh định kỳ (đầu năm, cuối học kỳ, cuối năm học) và bảng tin thông báo ở cửa lớp. Việc ứng dụng công nghệ thông tin đã được một số giáo viên, một số trường triển khai, nhưng chưa đồng bộ và hiệu quả chưa cao. Nhiều giáo viên lớn tuổi còn lúng túng trong sử dụng công nghệ; phụ huynh thì bận rộn, ít khi tương tác. Các buổi hội thảo chuyên đề, tọa đàm về nuôi dạy trẻ theo khoa học rất ít khi được tổ chức, nếu có thì số phụ huynh tham gia cũng không đông, chủ yếu là những phụ huynh có con em học lớp lớn hoặc những người đã có ý thức cao.

Bên cạnh đó, những vụ việc bạo hành trẻ ở một số trường mầm non trong cả nước được truyền thông đưa tin đã tạo ra tâm lý hoang mang, lo lắng, thậm chí "soi xét" thái quá đối với giáo viên. Ở chiều ngược lại, không ít giáo viên cảm thấy áp lực, mệt mỏi, chán nản với công việc khi thường xuyên bị phụ huynh "chụp mũ", "ném đá" trên mạng xã hội chỉ vì những hiểu lầm rất nhỏ [5]. Sự rạn nứt trong quan hệ này là rào cản rất lớn cho sự phối hợp hiệu quả.

Thực trạng phối hợp giữa nhà trường, gia đình với chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội

Trong bối cảnh mô hình chính quyền hai cấp, vai trò của UBND phường Đông Quang trong phối hợp giáo dục mầm non được kỳ vọng sẽ tăng lên, nhưng thực tế chưa đáp ứng được. Nguyên nhân trước hết đến từ năng lực của cán bộ phường. Cán bộ phụ trách giáo dục của phường trước đây chỉ làm công tác tham mưu, tổng hợp báo cáo, nay phải đảm nhận vai trò quản lý trực tiếp, hướng dẫn chuyên môn, nhưng trình độ, kỹ năng, kinh nghiệm chưa đáp ứng. Họ chưa qua lớp đào tạo, bồi dưỡng nào về quản lý giáo dục mầm non chuyên sâu, mà chủ yếu "vừa làm vừa học".

Thứ hai là cơ chế phối hợp giữa Sở GD-ĐT Thanh Hóa và UBND phường Đông Quang chưa rõ ràng, thông suốt. Theo lý thuyết, Sở GD-ĐT ban hành chỉ tiêu, kế hoạch, hướng dẫn chuyên môn, còn UBND phường có trách nhiệm giám sát trực tiếp, báo cáo định kỳ về Sở. Tuy nhiên, trên thực tế, Sở GD-ĐT có quá nhiều đầu việc, quy mô quản lý quá lớn, nên rất khó có thể bao quát, hỗ trợ kịp thời cho một phường nhỏ. Các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Sở thường mang tính "đại trà", chưa sát với đặc thù của từng địa phương [2].

Thứ ba, việc huy động sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư vào công tác giáo dục mầm non còn rất hạn chế, mang tính hình thức. Vai trò của các tổ chức này mới chỉ dừng lại ở việc phối hợp tổ chức một vài sự kiện trong năm, hoặc vận động ủng hộ một số suất quà cho trẻ em nghèo. Chưa có sự tham gia sâu rộng, bền vững, có chiều sâu vào các hoạt động cốt lõi như: giám sát chất lượng bữa ăn, giám sát vệ sinh an toàn thực phẩm, giám sát an toàn trường học, tham gia xây dựng chương trình giáo dục địa phương, hỗ trợ nâng cao nhận thức nuôi dạy con cho phụ huynh... Đặc biệt, sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp rất khiêm tốn, chưa tương xứng với tiềm năng [3][5].

2.4. Những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân

Những kết quả đạt được

Về công tác lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra: Các trường mầm non, đặc biệt là Trường Mầm non Quảng Thắng, đã xây dựng được nền nếp, kỷ cương trong hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ. 100% trẻ 5 tuổi trên địa bàn được đến trường, được học 2 buổi/ngày, được theo dõi sức khỏe định kỳ, được tiêm chủng đầy đủ. Chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ được nâng lên rõ rệt; tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng, thấp còi giảm hàng năm; tỷ lệ trẻ phát triển bình thường về cân nặng và chiều cao đạt trên 95% [4].

Về đội ngũ CBGVNV: Đội ngũ giáo viên mầm non ngày càng được chuẩn hóa, nâng cao trình độ, 100% giáo viên trường công lập đạt chuẩn và trên chuẩn. Giáo viên các trường tư thục cũng dần được cải thiện về chất lượng. Đội ngũ cán bộ quản lý có bản lĩnh, tâm huyết, không ngừng học hỏi, đổi mới. Tỷ lệ giáo viên đạt danh hiệu "Giáo viên dạy giỏi" cấp trường, cấp thành phố, cấp tỉnh hàng năm khá cao. Công tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp được chú trọng [4].

Về cơ sở vật chất: Cơ sở vật chất, trang thiết bị của các trường mầm non đa số được đầu tư khang trang, hiện đại, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Các phòng học được trang bị đầy đủ đồ dùng, đồ chơi, thiết bị dạy học; có phòng thể chất, phòng âm nhạc, phòng tin học, phòng thư viện, phòng học 4.0, sân chơi giao thông di động... Môi trường giáo dục xanh - sạch - đẹp - an toàn [4].

Về phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội: Nhận thức của phụ huynh về tầm quan trọng của giáo dục mầm non và sự cần thiết của phối hợp ngày càng được nâng cao. Tỷ lệ phụ huynh tham gia họp phụ huynh, các buổi sinh hoạt ngoại khóa, các đợt quyên góp ủng hộ xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị ngày càng đông. Nhiều phụ huynh đã chủ động liên hệ, trao đổi với giáo viên về tình hình của con, tích cực tham gia các hoạt động do nhà trường tổ chức [4]. Chính quyền địa phương, đặc biệt là UBND phường, đã quan tâm hơn đến công tác giáo dục mầm non, có sự chỉ đạo, định hướng, tạo điều kiện về cơ chế, chính sách, huy động các nguồn lực. Một số doanh nghiệp, tổ chức từ thiện, cá nhân hảo tâm đã ủng hộ kinh phí, hiện vật cho các trường mầm non, góp phần cải thiện cơ sở vật chất, tạo động lực cho giáo viên và học sinh.

Hạn chế và nguyên nhân

Thứ nhất, sự thiếu đồng bộ, thiếu nhất quán trong nhận thức và hành động của các bên liên quan. Có sự khác biệt rõ rệt giữa các trường (công lập - tư thục, trung tâm - ngoại vi), giữa các nhóm phụ huynh (có điều kiện - khó khăn, có học vấn cao - thấp) về vai trò, trách nhiệm và cách thức phối hợp. Nhiều phụ huynh vẫn còn tư tưởng "khoán trắng" cho nhà trường, thiếu sự quan tâm, phối hợp. Một bộ phận cán bộ, giáo viên chưa thực sự chủ động, sáng tạo, thiếu kỹ năng giao tiếp, tuyên truyền, vận động phụ huynh.

Thứ hai, cơ chế phối hợp còn nhiều bất cập, thiếu rõ ràng, nhất là trong bối cảnh chính quyền hai cấp. Vai trò của UBND cấp phường trong quản lý, phối hợp giáo dục mầm non chưa được xác định một cách cụ thể, thiếu hướng dẫn chi tiết từ cấp trên. Sự phối hợp giữa Sở GD-ĐT, UBND phường, các trường mầm non còn lỏng lẻo, thông tin bất đối xứng, thiếu sự đồng bộ, kịp thời. Các văn bản hướng dẫn chuyên môn của Sở chưa phù hợp với điều kiện thực tế của một phường đang trong quá trình đô thị hóa. Cán bộ phường được giao phụ trách giáo dục thiếu kiến thức, kỹ năng chuyên môn, yếu về ngoại ngữ, tin học, chưa đáp ứng yêu cầu.

Thứ ba, nguồn lực dành cho giáo dục mầm non còn hạn chế, đặc biệt là các trường tư thục, nhóm trẻ gia đình. Ngân sách nhà nước đầu tư không đủ, việc huy động các nguồn lực xã hội gặp nhiều khó khăn. Cơ sở vật chất, trang thiết bị của nhiều trường tư thục, nhóm trẻ gia đình còn tạm bợ, thiếu thốn, lạc hậu, không đảm bảo an toàn. Thu nhập của giáo viên mầm non còn thấp (đặc biệt ở trường tư thục, nhóm trẻ gia đình), dẫn đến tâm lý chán nản, thiếu gắn bó, thường xuyên biến động, ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục.

Thứ tư, sự tham gia của cộng đồng, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội còn hời hợt, thiếu chiều sâu và bền vững. Các hoạt động phối hợp chủ yếu mang tính phong trào, điểm xuyết, chưa thực sự đi vào thực chất. Việc huy động trí tuệ, nguồn lực của cộng đồng vào các hoạt động cốt lõi của nhà trường như xây dựng chương trình giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học, đánh giá chất lượng, giám sát an toàn thực phẩm... còn rất yếu. Các doanh nghiệp chưa thấy rõ lợi ích của việc đầu tư cho giáo dục mầm non, hoặc còn e ngại về thủ tục hành chính rườm rà.

Thứ năm, công tác kiểm tra, đánh giá, sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm về công tác phối hợp hầu như chưa được thực hiện bài bản. Không có bộ tiêu chí, công cụ đánh giá cụ thể, khoa học để đo lường hiệu quả phối hợp. Việc tổng kết, đánh giá mang tính hình thức, chủ yếu dựa trên báo cáo thành tích, chưa chỉ ra được những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân sâu xa. Do đó, các giải pháp cải thiện thường chung chung, thiếu tính khả thi, không giải quyết được tận gốc vấn đề.

Nguyên nhân của những hạn chế này rất đa dạng, bao gồm cả nguyên nhân khách quan và chủ quan:

- Khách quan: Bối cảnh chính sách đang trong quá trình chuyển đổi từ mô hình chính quyền địa phương ba cấp sang hai cấp, các văn bản hướng dẫn chi tiết còn chưa kịp ban hành, gây ra những "khoảng lặng" trong quản lý [1][2]. Thanh Hóa là tỉnh có diện tích rộng, dân số đông, địa bàn phức tạp, trong khi bộ máy Sở GD-ĐT mỏng, quá tải, khó quản lý trực tiếp và hỗ trợ kịp thời cho cấp phường. Quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa diễn ra nhanh, kéo theo nhiều biến động về dân cư, tạo ra sự phân tầng giàu nghèo, sự pha trộn văn hóa, lối sống, gây khó khăn cho công tác quản lý và phối hợp [3]. Mặt khác, ảnh hưởng của mặt trái kinh tế thị trường, một bộ phận phụ huynh chạy theo vật chất, thiếu quan tâm chăm lo cho con cái, phó mặc cho nhà trường.

- Chủ quan: Năng lực, nhận thức, trách nhiệm của một bộ phận cán bộ quản lý, giáo viên, cán bộ phường còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới. Công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn cho CBGVNV về quản lý, phối hợp chưa được chú trọng đúng mức. Cơ chế phối hợp, quy chế làm việc giữa các bên liên quan chưa rõ ràng, thiếu chế tài, chưa được thể chế hóa bằng các văn bản cụ thể. Việc sắp xếp, bố trí cán bộ phường phụ trách giáo dục chưa hợp lý, thiếu tính ổn định, chuyên nghiệp. Kinh phí dành cho hoạt động phối hợp, tuyên truyền, vận động chưa được bố trí trong dự toán ngân sách hàng năm, dẫn đến khó khăn trong triển khai các hoạt động. Tâm lý ngại va chạm, đùn đẩy trách nhiệm, thiếu quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành của một số cán bộ cũng là rào cản đáng kể.

3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội

3.1. Nâng cao năng lực quản lý, bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên

Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý các trường mầm non và cán bộ phường phụ trách giáo dục. Đối với cán bộ phường, cần có chương trình bồi dưỡng riêng, tập trung vào những kiến thức, kỹ năng thiết thực nhất, gắn với điều kiện thực tiễn của địa phương.

Bồi dưỡng thường xuyên, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, năng lực ngoại ngữ, tin học cho giáo viên mầm non. Đặc biệt, cần lồng ghép nội dung giáo dục đạo đức nghề nghiệp, đạo đức công vụ, nâng cao tinh thần trách nhiệm, lòng yêu trẻ, sự kiên nhẫn, tận tụy. Có cơ chế khuyến khích, hỗ trợ giáo viên tự học, tự bồi dưỡng, tham gia nghiên cứu khoa học, viết sáng kiến kinh nghiệm.

Thực hiện nghiêm túc việc đánh giá, phân loại CBGVNV định kỳ hàng năm dựa trên kết quả công việc, sự phấn đấu, rèn luyện, đóng góp. Kiên quyết đưa ra khỏi ngành những người không đủ phẩm chất, năng lực, đặc biệt là những trường hợp vi phạm đạo đức nghề nghiệp, bạo hành trẻ. Đồng thời, có chính sách đãi ngộ thỏa đáng, tạo môi trường làm việc thuận lợi, động viên, khích lệ CBGVNV yên tâm công tác, gắn bó lâu dài với nghề [3][5].

3.2. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, bảo đảm an toàn, vệ sinh cho trẻ

Rà soát, đánh giá thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị của tất cả các cơ sở giáo dục mầm non trên địa bàn, phân loại theo mức độ đáp ứng quy định, tiêu chuẩn. Trên cơ sở đó, xây dựng kế hoạch đầu tư, nâng cấp, sửa chữa, thay thế cụ thể, có lộ trình, ưu tiên cho những cơ sở đang xuống cấp nghiêm trọng, có nguy cơ mất an toàn. Kế hoạch này cần được UBND phường phê duyệt, bố trí nguồn lực và giao trách nhiệm thực hiện rõ ràng.

Huy động tối đa các nguồn lực cho đầu tư cơ sở vật chất. Cần có cơ chế khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục hành chính, đất đai, giải phóng mặt bằng cho các dự án đầu tư xây dựng trường mầm non, đặc biệt là các trường mầm non tư thục chất lượng cao. Khuyến khích các doanh nghiệp trên địa bàn nhận đỡ đầu, tài trợ cho các trường mầm non theo hình thức "doanh nghiệp - nhà trường", vừa đảm bảo nguồn lực bền vững, vừa gắn kết trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát về cơ sở vật chất, vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống cháy nổ, phòng chống tai nạn thương tích, đảm bảo môi trường an toàn tuyệt đối cho trẻ. Tổ chức tập huấn kiến thức, kỹ năng đảm bảo an toàn, phòng chống dịch bệnh, phòng chống xâm hại trẻ em cho toàn thể CBGVNV và phụ huynh [3][4][5].

3.3. Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục mầm non

Đa dạng hóa các hình thức kiểm tra, đánh giá, kết hợp kiểm tra toàn diện với kiểm tra chuyên đề; kiểm tra định kỳ với kiểm tra đột xuất; kiểm tra trực tiếp tại trường với kiểm tra qua hồ sơ, dữ liệu điện tử. Việc kiểm tra cần được thực hiện bảo đảm tính khách quan, toàn diện, tránh chồng chéo, gây phiền hà cho cơ sở. Đặc biệt, cần chú trọng kiểm tra công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội, coi đây là một nội dung bắt buộc trong đánh giá xếp loại trường mầm non hàng năm.

Xây dựng bộ tiêu chí, công cụ đánh giá cụ thể, khoa học, phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương, trên cơ sở chuẩn quốc gia và các quy định hiện hành. Bộ tiêu chí cần phản ánh được đầy đủ các mặt hoạt động, đặc biệt là hiệu quả phối hợp, sự hài lòng của phụ huynh và cộng đồng, mức độ đáp ứng chuẩn đầu ra của trẻ. Quy trình đánh giá cần dân chủ, công khai, minh bạch, có sự tham gia của đại diện cha mẹ trẻ, chính quyền địa phương, các tổ chức xã hội. Kết quả đánh giá phải được thông báo công khai, sử dụng làm căn cứ để xếp loại, khen thưởng, bố trí ngân sách, đầu tư.

Tăng cường sử dụng công nghệ thông tin trong kiểm tra, đánh giá. Xây dựng cơ sở dữ liệu chung về chất lượng giáo dục mầm non trên địa bàn toàn phường, kết nối với cơ sở dữ liệu của Sở GD-ĐT Thanh Hóa, Bộ GD-ĐT. Ứng dụng các phần mềm quản lý, đánh giá, thống kê, báo cáo, giúp giảm thiểu giấy tờ hành chính, nâng cao tính chính xác, kịp thời và khả năng truy xuất thông tin. Công khai minh bạch kết quả kiểm tra, đánh giá, các chỉ số chất lượng chủ yếu trên cổng thông tin điện tử của phường, của trường để phụ huynh và cộng đồng dễ dàng tra cứu, giám sát [2][5].

3.4. Phối hợp chặt chẽ giữa trường mầm non với phụ huynh và các tổ chức xã hội trên địa bàn phường

Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các hình thức giao tiếp, trao đổi thông tin giữa nhà trường và gia đình. Tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề, hội thảo, tọa đàm về nuôi dạy trẻ theo phương pháp khoa học, mời chuyên gia tâm lý, bác sĩ nhi khoa, chuyên gia giáo dục đến chia sẻ, tư vấn cho phụ huynh. Thành lập "câu lạc bộ cha mẹ" hoặc "ban đại diện cha mẹ học sinh" hoạt động thực chất, có phân công nhiệm vụ cụ thể.

Khuyến khích, tạo điều kiện để cha mẹ trẻ tham gia thực sự vào các hoạt động của nhà trường. Sự tham gia trực tiếp này không chỉ làm phong phú thêm nguồn lực cho nhà trường, mà còn giúp phụ huynh hiểu rõ hơn về công việc của giáo viên, từ đó thêm trân trọng và phối hợp hiệu quả hơn.

Phát huy vai trò của chính quyền địa phương như một "cầu nối" vững chắc. UBND phường cần xây dựng và ban hành quy chế phối hợp liên ngành giữa nhà trường, gia đình và các tổ chức chính trị - xã hội một cách cụ thể, chi tiết, có phân công trách nhiệm rõ ràng, cơ chế làm việc cụ thể.

Tập trung tuyên truyền, nâng cao nhận thức của toàn xã hội về tầm quan trọng của giáo dục mầm non và trách nhiệm chung tay của cộng đồng. Phổ biến kiến thức nuôi dạy con khoa học, lợi ích của cho trẻ đến trường mầm non, các chính sách, pháp luật của Nhà nước về giáo dục mầm non, quyền và bổn phận của trẻ em, các tấm gương điển hình về phối hợp hiệu quả. Tạo ra sự đồng thuận, ủng hộ, chung tay hành động trong toàn cộng đồng [2][3][4][5].

3.5. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và giảng dạy

Trang bị đầy đủ cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin cho các trường mầm non, ưu tiên trường công lập và khuyến khích, hỗ trợ các trường tư thục tạo một môi trường làm việc và học tập số hóa. Sử dụng các phần mềm quản lý giáo dục chuyên nghiệp, tích hợp các phần mềm này thành một hệ thống thông tin quản lý (MIS) tập trung, đồng bộ, kết nối giữa trường mầm non, UBND phường và Sở GD-ĐT. Số hóa kho tài liệu, khuyến khích giáo viên tự thiết kế, xây dựng bài giảng điện tử, trò chơi tương tác, học liệu số, chia sẻ trong cộng đồng giáo dục. Ứng dụng phần mềm tạo sổ liên lạc điện tử, nhật ký hoạt động hàng ngày của trẻ gửi đến phụ huynh qua ứng dụng trên điện thoại thông minh. Phụ huynh có thể dễ dàng theo dõi con mình đã ăn gì, ngủ thế nào, học những gì, tham gia hoạt động gì, có biểu hiện gì đặc biệt... qua đó tăng cường sự kết nối, chia sẻ [2][4][5].

3.6. Huy động nguồn lực xã hội hóa giáo dục hợp lý

Xây dựng cơ chế, chính sách cụ thể, rõ ràng, minh bạch, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho công tác xã hội hóa giáo dục mầm non. Phát huy vai trò của chính quyền địa phương trong việc tạo môi trường thuận lợi, kêu gọi các nhà hảo tâm, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân ủng hộ, tài trợ cho giáo dục mầm non. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, sự giám sát của nhân dân, của các tổ chức chính trị - xã hội đối với công tác xã hội hóa giáo dục, bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả, không để xảy ra tiêu cực, lãng phí. Quản lý chặt chẽ việc huy động và sử dụng các nguồn đóng góp tự nguyện của phụ huynh, doanh nghiệp, tránh lạm thu, biến tướng gây bức xúc trong dư luận. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, Hội Khuyến học, Ban đại diện cha mẹ học sinh trong việc vận động, tiếp nhận và giám sát sử dụng nguồn lực xã hội hóa [3][4][5].

4. Kết luận

Nghiên cứu cơ chế phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong quản lý giáo dục mầm non trên địa bàn phường Đông Quang, tỉnh Thanh Hóa, trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp (tỉnh và xã), có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, tác giả đã đề xuất sáu nhóm giải pháp trọng tâm. Các giải pháp này có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau, đòi hỏi phải được triển khai đồng bộ, có lộ trình, có sự tham gia quyết liệt, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị từ phường đến tỉnh, đặc biệt là vai trò "nhạc trưởng" của UBND phường và vai trò "đầu tàu" của Sở GD-ĐT.

Việc hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong quản lý giáo dục mầm non theo mô hình chính quyền hai cấp không chỉ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục mầm non trên địa bàn phường Đông Quang nói riêng, tỉnh Thanh Hóa nói chung, mà còn có thể làm bài học kinh nghiệm cho nhiều địa phương khác đang trong quá trình chuyển đổi. Đây là hướng đi đúng đắn, phù hợp với xu thế phân cấp, trao quyền tự chủ, gắn với trách nhiệm giải trình và tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong quản trị nhà nước hiện đại.

ThS. Đỗ Thị Hồng Vân 

Phó hiệu trưởng Trường Mầm non Quảng Thắng, phường Đông Quang, tỉnh Thanh Hoá


TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Quốc hội. (2025a). Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Luật số 72/2025/QH15, ngày 16/6/2025.

[2] Phan Hồng Dương. (2026). Quản lí bảo đảm chất lượng trường tiểu học, trung học cơ sở theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp: Nghiên cứu lí luận và đề xuất cơ chế quản lí. Tạp chí Giáo dục, 26(1), 18-23.

[3] Bộ GD-ĐT. (2023). Báo cáo công tác ngành Giáo dục - Đào tạo năm học 2022-2023. Hà Nội.

[4] Cổng thông tin điện tử phường Đông Quang. (2025, 24/10). Trường Mầm non Đông Quang - nỗ lực xây dựng môi trường giáo dục an toàn, hạnh phúc cho trẻ thơ. Lấy từ: https://dongquang.thanhhoa.gov.vn [4]

[5] Sở Nội vụ tỉnh Thanh Hóa. (2026). Kết luận về việc kiểm tra việc chấp hành pháp luật trong quản lý giáo viên nước ngoài trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Thanh Hóa.