Ảnh minh họa
Bài viết phân tích cơ sở chính trị, pháp lý đặt ra đối với năng lực thực thi pháp luật của đội ngũ cán bộ, công chức trẻ cấp xã, đánh giá thực trạng dựa trên số liệu, dữ liệu chính thức từ Báo Lào Cai, Cổng thông tin điện tử tỉnh Lào Cai và các cơ quan chuyên môn, từ đó đề xuất giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao năng lực của đội ngũ này tại các vùng đặc biệt khó khăn, đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa gắn với thực tiễn miền núi, biên giới, nhiều thành phần dân tộc.
Từ khóa: năng lực thực thi pháp luật; cán bộ, công chức trẻ; cấp xã; vùng đặc biệt khó khăn; tỉnh Lào Cai.
1. Đặt vấn đề
Thực hiện Nghị quyết số 60-NQ/TW ngày 12 tháng 4 năm 2025 Hội nghị lần thứ mười một Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII và Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội, tỉnh Lào Cai và tỉnh Yên Bái được hợp nhất thành tỉnh Lào Cai mới, có diện tích tự nhiên 13.257 km², trung tâm hành chính, chính trị đặt tại thành phố Yên Bái cũ. Từ ngày 01 tháng 7 năm 2025, tỉnh chính thức vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, kết thúc hoạt động của cấp huyện, theo đó cấp xã trở thành cấp hành chính trực tiếp giải quyết phần lớn công việc quản lý nhà nước vốn trước đây thuộc thẩm quyền cấp huyện. Trên cơ sở Nghị quyết số 1673/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tỉnh đã sắp xếp, thành lập 99 đơn vị hành chính cấp xã.
Sự thay đổi mô hình tổ chức chính quyền đặt ra yêu cầu rất cao đối với năng lực thực thi pháp luật của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, bởi đây là lực lượng trực tiếp đưa chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với Nhân dân, đồng thời là lực lượng nòng cốt trong quản lý nhà nước ở cơ sở. Theo Quyết định số 2752/QĐ-UBND ngày 31 tháng 12 năm 2025 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai, toàn tỉnh có 95 xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 đến 2030, trong đó 47 xã khu vực III, xã đặc biệt khó khăn, cùng 1.033 thôn đặc biệt khó khăn trong tổng số 2.438 thôn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đây là địa bàn có đặc điểm địa hình chia cắt, dân cư phân tán, trình độ dân trí và điều kiện tiếp cận thông tin pháp luật còn hạn chế, đồng thời là nơi tập trung đông đội ngũ cán bộ trẻ mới được tuyển dụng, bố trí sau sắp xếp đơn vị hành chính.
Thực tiễn triển khai mô hình chính quyền hai cấp tại Lào Cai thời gian qua cho thấy nhiều xã, phường, trong đó có không ít xã đặc biệt khó khăn, đang đối mặt với tình trạng thiếu cán bộ chuyên môn ở các lĩnh vực trọng yếu như đất đai, xây dựng, khoa học công nghệ, dẫn đến áp lực công việc lớn và ảnh hưởng đến chất lượng thực thi pháp luật ở cơ sở. Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu, đánh giá đúng thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực thực thi pháp luật của đội ngũ cán bộ, công chức trẻ cấp xã tại các vùng đặc biệt khó khăn của tỉnh Lào Cai có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp thiết, góp phần xây dựng chính quyền cơ sở gần dân, sát dân, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
2. Cơ sở chính trị, pháp lý và yêu cầu đặt ra đối với năng lực thực thi pháp luật của cán bộ, công chức trẻ cấp xã
2.1. Khái niệm năng lực thực thi pháp luật của cán bộ, công chức cấp xã
Năng lực thực thi pháp luật của cán bộ, công chức cấp xã được hiểu là tổng hợp kiến thức pháp luật, kỹ năng nghiệp vụ, khả năng vận dụng quy định pháp luật vào giải quyết công việc cụ thể và thái độ, trách nhiệm công vụ của đội ngũ này trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật tại cơ sở. Đối với cán bộ, công chức trẻ cấp xã, thường được xác định là những người có độ tuổi dưới 42 theo tiêu chí quy hoạch cấp ủy cấp xã của tỉnh Lào Cai, năng lực này còn bao hàm khả năng thích ứng nhanh với yêu cầu công việc mới, khả năng ứng dụng công nghệ số vào giải quyết thủ tục hành chính và khả năng tự học, tự bồi dưỡng để bù đắp những khoảng trống về kinh nghiệm thực tiễn công tác.
2.2. Yêu cầu chính trị, pháp lý đặt ra sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp
Kết luận số 150-KL/TW ngày 14 tháng 4 năm 2025 của Bộ Chính trị về hướng dẫn xây dựng phương án nhân sự cấp ủy cấp tỉnh thuộc diện hợp nhất, sáp nhập và cấp xã thành lập mới đã xác định rõ yêu cầu cụ thể hóa tiêu chuẩn về chính trị, trình độ chuyên môn, năng lực lãnh đạo và kết quả, sản phẩm cụ thể của cán bộ thuộc diện ban thường vụ tỉnh ủy quản lý, trong đó có cán bộ cấp xã, làm căn cứ xem xét, bố trí theo thẩm quyền. Kết luận số 157-KL/TW ngày 25 tháng 5 năm 2025 của Bộ Chính trị tiếp tục yêu cầu bảo đảm hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp thông suốt, liên tục, không gián đoạn và hiệu quả ngay sau khi kết thúc hoạt động cấp huyện.
Cụ thể hóa các định hướng của Trung ương, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lào Cai đã ban hành Nghị quyết số 72-NQ/TU về nâng cao chất lượng, năng lực đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cấp xã đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030 duy trì tỷ lệ cán bộ trẻ dưới 42 tuổi tham gia cấp ủy cấp xã đạt trên 20%, tỷ lệ cán bộ nữ đạt từ 15% trở lên, tỷ lệ cán bộ người dân tộc thiểu số tương xứng với cơ cấu dân số từng địa phương. Nghị quyết cũng đặt mục tiêu 100% cán bộ chủ chốt cấp xã có trình độ lý luận chính trị từ trung cấp trở lên, trên 80% cán bộ cấp xã trong quy hoạch chức danh lãnh đạo, quản lý được đào tạo trình độ lý luận chính trị trung cấp, cao cấp, đồng thời 100% công chức cấp xã được đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ theo vị trí việc làm và kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số. Nghị quyết cũng thẳng thắn chỉ rõ, việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp đang đặt ra nhiều yêu cầu mới, trong khi một bộ phận cán bộ còn hạn chế về kỹ năng thực tiễn, tư duy đổi mới, khả năng ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số.
2.3. Đặc thù yêu cầu năng lực thực thi pháp luật tại các vùng đặc biệt khó khăn
Đối với các xã khu vực III, xã đặc biệt khó khăn của tỉnh Lào Cai, năng lực thực thi pháp luật của cán bộ, công chức trẻ còn chịu chi phối bởi nhiều yếu tố đặc thù. Đó là địa bàn miền núi, biên giới, dân cư phân tán, nhiều thành phần dân tộc thiểu số, tồn tại một số tập quán, hủ tục có nội dung trái với quy định của pháp luật hiện hành. Việc phổ biến, giải thích và tổ chức thực hiện pháp luật ở những địa bàn này đòi hỏi cán bộ không chỉ nắm vững quy định pháp luật mà còn phải hiểu văn hóa, phong tục, có khả năng sử dụng ngôn ngữ dân tộc thiểu số hoặc phối hợp hiệu quả với người có uy tín, già làng, trưởng bản trong quá trình vận động, thuyết phục Nhân dân chấp hành pháp luật.
3. Thực trạng năng lực thực thi pháp luật của đội ngũ cán bộ, công chức trẻ cấp xã tại các vùng đặc biệt khó khăn của tỉnh Lào Cai
3.1. Những kết quả bước đầu
Thời gian qua, tỉnh Lào Cai đã có nhiều nỗ lực nâng cao chất lượng thực thi pháp luật ở cơ sở, trong đó đội ngũ cán bộ trẻ đóng vai trò quan trọng. Tại xã Lâm Thượng, Đoàn Thanh niên xã đã thành lập các tổ chuyển đổi số cộng đồng tại các thôn, bản để hỗ trợ người dân tiếp cận công nghệ, hướng dẫn cài đặt VNeID, nộp hồ sơ trực tuyến trên Cổng dịch vụ công quốc gia, qua đó góp phần đưa các quy định về thủ tục hành chính đến gần hơn với người dân vùng cao. Tại xã Yên Thành, cán bộ trẻ tại Phòng Kinh tế đã phát huy tinh thần chủ động hướng dẫn người dân thực hiện thủ tục hành chính ngay tại bộ phận phục vụ hành chính công và triển khai xuống các thôn, bản thông qua sinh hoạt của các đoàn thể, góp phần thực hiện hiệu quả các chỉ tiêu chuyển đổi số của địa phương. Theo đánh giá của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh, sau sáp nhập, việc trang bị kỹ năng số và tư duy số cho cán bộ cơ sở đã tạo chuyển biến rõ rệt, hiện nay 100% hồ sơ công việc, trừ văn bản mật, được xử lý trên môi trường điện tử, áp dụng chữ ký số, giúp rút ngắn thời gian xử lý và nâng cao chất lượng phục vụ.
Kết quả này được phản ánh qua Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước năm 2025. Theo Quyết định số 429/QĐ-BNV của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, tỉnh Lào Cai đạt 84,41 điểm phần trăm, cao hơn mức trung bình cả nước 1,32 điểm phần trăm, đứng thứ 9 trên 34 tỉnh, thành phố và đứng thứ 2 trên 9 tỉnh miền núi phía Bắc. Đối với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tại địa bàn biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, các lực lượng chức năng đã phối hợp tổ chức nhiều chương trình tuyên truyền quy mô lớn, như chương trình tại xã Y Tý trong hai ngày 16 và 17 tháng 6 năm 2026 do Bộ đội Biên phòng tỉnh phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Tư pháp, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức, thu hút hơn 1.000 cán bộ, công chức và đồng bào các dân tộc thiểu số tham gia. Riêng sáu tháng đầu năm 2026, lực lượng vũ trang tỉnh đã phối hợp tổ chức 45 buổi tuyên truyền pháp luật với 4.182 lượt người tham gia, duy trì hoạt động của 48 báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, biên soạn và cấp phát 820 tài liệu tuyên truyền. Bên cạnh đó, ngày 11 tháng 6 năm 2026, tỉnh đã tổ chức tuyên dương 55 trí thức trẻ tiêu biểu, ghi nhận đóng góp của lực lượng trí thức trẻ, trong đó có nhiều cán bộ đang công tác tại cơ sở.
3.2. Những hạn chế, khó khăn
Bên cạnh kết quả đạt được, năng lực thực thi pháp luật của đội ngũ cán bộ, công chức trẻ cấp xã tại các vùng đặc biệt khó khăn của tỉnh còn bộc lộ không ít hạn chế. Theo phản ánh trên Báo Lào Cai, sau khi vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, nhiều xã, phường vẫn đối mặt với khó khăn về nguồn nhân lực, đặc biệt là cán bộ chuyên môn ở các lĩnh vực trọng yếu như đất đai, y tế, xây dựng. Tại xã Mù Cang Chải, địa phương chưa có cán bộ chuyên môn kỹ thuật được đào tạo bài bản về lĩnh vực đất đai để tham mưu, xử lý các vấn đề về giải phóng mặt bằng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quản lý đô thị, trong khi lĩnh vực khoa học công nghệ, chuyển đổi số cũng thiếu nhân lực được đào tạo chuyên sâu, phần lớn công việc do cán bộ kiêm nhiệm đảm nhận. Tại xã Phong Dụ Hạ, Phòng Văn hóa, Xã hội chỉ có 5 cán bộ nhưng phải phụ trách nhiều lĩnh vực khác nhau, nhiều người không làm đúng chuyên ngành được đào tạo, dẫn đến áp lực công việc lớn. Tại xã Yên Thành, Phòng Kinh tế có 3 cán bộ nhưng các lĩnh vực như đầu tư công, quản lý tài sản vẫn chưa có cán bộ chuyên trách. Thực trạng thiếu cán bộ nghiệp vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng được xác định là một trong những nguyên nhân khiến giải ngân vốn đầu tư công chậm.
Tình trạng cán bộ trẻ được đào tạo một chuyên ngành nhưng phải đảm nhiệm công việc thuộc lĩnh vực khác diễn ra khá phổ biến. Một chuyên viên Phòng Văn hóa, Xã hội xã Phong Dụ Hạ được đào tạo chuyên ngành Luật nhưng hiện phụ trách mảng văn hóa xã hội, gia đình, khoa học công nghệ và chuyển đổi số, phải tự học, tự nghiên cứu văn bản, nghị định mới để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Việc kiêm nhiệm nhiều lĩnh vực ngoài chuyên môn đào tạo, trong điều kiện thời gian chuyển tiếp sau sắp xếp bộ máy còn ngắn, làm hạn chế khả năng nghiên cứu sâu và vận dụng chính xác quy định pháp luật vào từng tình huống cụ thể, nhất là những lĩnh vực pháp luật có tính chuyên môn cao như đất đai, xây dựng, đầu tư công.
Bên cạnh khó khăn về cơ cấu nhân lực, việc tổ chức thực thi pháp luật tại các xã đặc biệt khó khăn còn gặp trở ngại do đặc thù địa bàn. Nguồn tài liệu tuyên truyền pháp luật chưa được biên soạn hoàn toàn phù hợp với người dân vùng cao, còn thiếu bản dịch sang tiếng dân tộc thiểu số, gây trở ngại cho việc tiếp cận, nghiên cứu và triển khai tuyên truyền của cả cán bộ lẫn người có uy tín trong cộng đồng. Điều kiện giao thông, đời sống còn khó khăn khiến việc tuyên truyền, vận động người dân vùng biên giới từ bỏ các hủ tục lạc hậu trái với quy định pháp luật đòi hỏi sự kiên trì, linh hoạt và phải gắn với cải thiện điều kiện kinh tế, xã hội của địa phương, không thể chỉ dựa vào các đợt tuyên truyền ngắn hạn.
3.3. Nguyên nhân của hạn chế
Những hạn chế nêu trên xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Về khách quan, việc sắp xếp đơn vị hành chính, kết thúc hoạt động cấp huyện diễn ra trong thời gian ngắn theo yêu cầu tiến độ của Trung ương, trong khi khối lượng công việc chuyển giao từ cấp huyện xuống cấp xã rất lớn, nhất là các lĩnh vực đất đai, xây dựng, đầu tư công vốn đòi hỏi trình độ chuyên môn sâu. Đặc điểm địa hình chia cắt, dân cư phân tán, hạ tầng giao thông, viễn thông tại các xã đặc biệt khó khăn cũng làm tăng chi phí, thời gian tổ chức các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật và hạn chế khả năng tiếp cận thông tin của cả cán bộ lẫn người dân.
Về chủ quan, công tác tuyển dụng, bố trí cán bộ theo vị trí việc làm tại một số địa phương chưa thực sự sát với nhu cầu thực tế và năng lực chuyên môn đã được đào tạo của từng cán bộ, dẫn đến tình trạng bố trí trái ngành, trái nghề. Chương trình đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ pháp luật cho cán bộ trẻ cấp xã tại vùng đặc biệt khó khăn còn thiên về phổ biến kiến thức chung, chưa thiết kế chuyên sâu theo đặc thù lĩnh vực và đặc thù địa bàn dân tộc thiểu số, biên giới. Cơ chế phối hợp giữa cấp xã với các sở, ngành chuyên môn cấp tỉnh trong việc hướng dẫn, hỗ trợ nghiệp vụ pháp luật cho cán bộ cơ sở, nhất là hình thức biệt phái, cầm tay chỉ việc, tuy đã được triển khai nhưng chưa đủ thường xuyên, liên tục để bù đắp khoảng trống về kinh nghiệm thực tiễn của đội ngũ cán bộ trẻ.
4. Giải pháp nâng cao năng lực thực thi pháp luật của đội ngũ cán bộ, công chức trẻ cấp xã tại các vùng đặc biệt khó khăn của tỉnh Lào Cai
Một là, hoàn thiện công tác quy hoạch, tuyển dụng, bố trí cán bộ theo vị trí việc làm
Trên cơ sở mục tiêu của Nghị quyết số 72-NQ/TU, cấp ủy, chính quyền các xã đặc biệt khó khăn cần rà soát, xây dựng đề án vị trí việc làm sát với nhu cầu thực tế của từng địa phương, ưu tiên bố trí cán bộ trẻ được đào tạo đúng chuyên ngành pháp luật, quản lý nhà nước vào các vị trí trực tiếp tham mưu, xử lý thủ tục hành chính về đất đai, xây dựng, hộ tịch, tư pháp. Đồng thời, cần thực hiện nghiêm chủ trương thu hút sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc, người có trình độ chuyên môn cao về công tác tại cơ sở theo tinh thần Nghị quyết số 72-NQ/TU, có chính sách ưu tiên đặc thù đối với các xã khu vực III, xã đặc biệt khó khăn để bảo đảm nguồn nhân lực pháp luật chất lượng cho những địa bàn khó thu hút cán bộ.
Hai là, đổi mới nội dung, hình thức đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ pháp luật
Tỉnh cần tiếp tục triển khai các chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo hướng chuyên sâu, gắn với vị trí việc làm cụ thể, phù hợp với định hướng đã đề ra trong kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng năm 2026 với quy mô khoảng 99 lớp và 6.186 lượt học viên trên toàn tỉnh. Đối với cán bộ trẻ tại các xã đặc biệt khó khăn, nội dung bồi dưỡng cần tập trung vào kỹ năng áp dụng pháp luật trong xử lý tình huống thực tế tại cơ sở, kỹ năng phổ biến pháp luật phù hợp với đối tượng đồng bào dân tộc thiểu số theo tinh thần Đề án phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với đối tượng, địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 đến 2035, cùng kỹ năng chuyển đổi số trong giải quyết thủ tục hành chính. Cần biên soạn tài liệu pháp luật ngắn gọn, trực quan, có bản dịch sang tiếng dân tộc thiểu số phổ biến trên địa bàn để hỗ trợ cả cán bộ lẫn người có uy tín trong quá trình tuyên truyền, vận động Nhân dân.
Ba là, tăng cường biệt phái, kèm cặp và hỗ trợ chuyên môn từ cấp tỉnh
Trên cơ sở kinh nghiệm đã triển khai tại một số địa phương, tỉnh cần nhân rộng cơ chế biệt phái cán bộ có chuyên môn sâu từ các sở, ngành về hỗ trợ trực tiếp các xã đặc biệt khó khăn, đặc biệt ở các lĩnh vực đang thiếu hụt nhân lực như đất đai, xây dựng, đầu tư công, đồng thời thực hiện kèm cặp, hướng dẫn nghiệp vụ theo phương châm cầm tay chỉ việc cho cán bộ trẻ. Đây là giải pháp có thể triển khai nhanh, chi phí thấp nhưng hiệu quả cao trong việc rút ngắn thời gian tích lũy kinh nghiệm thực thi pháp luật của cán bộ mới được bố trí công tác tại cơ sở.
Bốn là, phát huy vai trò của lực lượng tại chỗ trong phổ biến, giáo dục pháp luật
Cán bộ, công chức trẻ cần chủ động phối hợp chặt chẽ với người có uy tín, già làng, trưởng bản, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật ở cơ sở, lực lượng bộ đội biên phòng đứng chân trên địa bàn để tổ chức các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với phong tục, tập quán và ngôn ngữ của từng cộng đồng dân tộc, theo kinh nghiệm đã được triển khai hiệu quả tại các xã biên giới như Pha Long, Y Tý. Đồng thời, cần rà soát, nhận diện các tập quán, hủ tục trái với quy định pháp luật để có phương án tuyên truyền, vận động phù hợp, gắn với cải thiện điều kiện kinh tế, xã hội của địa phương, tránh nóng vội, áp đặt.
Năm là, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong thực thi pháp luật và giám sát chất lượng cán bộ
Cần tiếp tục phát huy kết quả bước đầu trong chuyển đổi số tại cơ sở, mở rộng mô hình tổ chuyển đổi số cộng đồng do đoàn viên, thanh niên đảm nhiệm như tại xã Lâm Thượng, đồng thời gắn kết quả xử lý hồ sơ điện tử, mức độ hài lòng của người dân theo Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước với công tác đánh giá, xếp loại cán bộ, công chức hằng năm. Việc lấy chất lượng công việc, kết quả giải quyết thủ tục hành chính và mức độ hài lòng của Nhân dân làm thước đo đánh giá cán bộ, đúng theo yêu cầu của Nghị quyết số 72-NQ/TU, sẽ tạo động lực thực chất để cán bộ trẻ không ngừng nâng cao năng lực thực thi pháp luật.
5. Kết luận
Việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt cán bộ, công chức trẻ cấp xã, đặc biệt tại 47 xã khu vực III, xã đặc biệt khó khăn của tỉnh Lào Cai vào vị trí trực tiếp tổ chức thực thi pháp luật, đưa chính sách của Đảng, Nhà nước đến với Nhân dân. Thực tiễn thời gian qua cho thấy đội ngũ này đã có nhiều nỗ lực, đóng góp tích cực, thể hiện qua kết quả chuyển đổi số, chỉ số hài lòng của người dân và các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở, song vẫn còn không ít hạn chế về cơ cấu chuyên môn, kỹ năng thực tiễn và điều kiện tiếp cận pháp luật đặc thù của địa bàn miền núi, biên giới. Để nâng cao năng lực thực thi pháp luật của đội ngũ cán bộ, công chức trẻ cấp xã tại các vùng đặc biệt khó khăn, cần triển khai đồng bộ các giải pháp về quy hoạch, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, biệt phái hỗ trợ chuyên môn, phát huy vai trò lực lượng tại chỗ và ứng dụng công nghệ số, theo đúng tinh thần Nghị quyết số 72-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lào Cai, góp phần xây dựng chính quyền cơ sở trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh trong giai đoạn mới./.
ThS. Hoàng Khắc Cương
Khoa Nhà nước và Pháp luật, Trường Chính trị tỉnh Lào Cai
Tài liệu tham khảo
1. Ban Chấp hành Trung ương (2025), Nghị quyết số 60-NQ/TW ngày 12 tháng 4 năm 2025 Hội nghị lần thứ mười một Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.
2. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lào Cai (2026), Nghị quyết số 72-NQ/TU ngày 15 tháng 4 năm 2026 về nâng cao chất lượng, năng lực đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cấp xã đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
3. Bộ Chính trị (2025), Kết luận số 150-KL/TW ngày 14 tháng 4 năm 2025 về hướng dẫn xây dựng phương án nhân sự cấp ủy cấp tỉnh thuộc diện hợp nhất, sáp nhập và cấp xã thành lập mới.
4. Bộ Chính trị (2025), Kết luận số 157-KL/TW ngày 25 tháng 5 năm 2025 về triển khai thực hiện các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị về sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính.
5. Bộ Nội vụ (2026), Quyết định số 429/QĐ-BNV ngày 14 tháng 4 năm 2026 phê duyệt và công bố Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước năm 2025.
6. Quốc hội (2025), Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12 tháng 6 năm 2025 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh.
7. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2025), Nghị quyết số 1673/NQ-UBTVQH15 ngày 16 tháng 6 năm 2025 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Lào Cai năm 2025.
8. Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai (2025), Quyết định số 2752/QĐ-UBND ngày 31 tháng 12 năm 2025 phê duyệt danh sách thôn, xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 đến 2030 trên địa bàn tỉnh.