logo
ISSN 2734-9020

Nêu gương của cán bộ, đảng viên theo Tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng Đảng “là đạo đức, là văn minh”

Thứ sáu, 06/11/2026 - 14:20

Tóm tắt: Bài viết làm rõ những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nêu gương của cán bộ, đảng viên và ý nghĩa đối với công tác xây dựng Đảng về đạo đức. Trên cơ sở nhận diện những yêu cầu đặt ra trong giai đoạn hiện nay, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao trách nhiệm nêu gương, gắn tu dưỡng đạo đức với thực thi nhiệm vụ, trách nhiệm của người đứng đầu và cơ chế kiểm tra, giám sát, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

1. Mở đầu

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên. Với Người, nêu gương không chỉ là phương pháp giáo dục, vận động quần chúng mà còn là biểu hiện trực tiếp của phẩm chất đạo đức cách mạng và trách nhiệm chính trị của người cán bộ trước Đảng, trước Nhân dân. Muốn vận động, thuyết phục quần chúng, trước hết cán bộ, đảng viên phải tạo dựng được niềm tin bằng chính phẩm chất và hành động của mình. Bởi vậy, uy tín của người cán bộ không chỉ nằm ở chức vụ hay lời nói mà phải được khẳng định qua việc làm cụ thể. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, trách nhiệm nêu gương càng có ý nghĩa quan trọng bởi mỗi hành vi, thái độ và quyết định của cán bộ, đảng viên đều có thể tác động trực tiếp đến quyền lợi của Nhân dân và uy tín của tổ chức đảng. Thực tiễn công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng cho thấy, bên cạnh những chuyển biến tích cực, vẫn còn biểu hiện thiếu gương mẫu, né tránh trách nhiệm, nói không đi đôi với làm và suy thoái về đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ, đảng viên. Do đó, nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nêu gương không chỉ có ý nghĩa giáo dục, rèn luyện cá nhân mà còn là yêu cầu thiết thực trong xây dựng Đảng hiện nay.

2. Nội dung

2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nêu gương của cán bộ, đảng viên và ý nghĩa đối với xây dựng Đảng về đạo đức

Tư tưởng Hồ Chí Minh về nêu gương được hình thành và phát triển gắn liền với quá trình xây dựng Đảng, giáo dục đội ngũ cán bộ và tổ chức vận động cách mạng. Ngay trong tác phẩm Đường cách mệnh (1927), khi bàn về tư cách người cách mạng, Người đã đặt những yêu cầu về phẩm chất và cách ứng xử trong quan hệ với bản thân, với người khác và với công việc lên vị trí hàng đầu. Những chuẩn mực như cần kiệm, vị công vong tư, nói đi đôi với làm cho thấy, theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng phải được thể hiện trong hành động và cách giải quyết công việc hằng ngày, chứ không chỉ dừng ở nhận thức hay lời nói.

Khi Đảng trở thành Đảng cầm quyền, yêu cầu nêu gương càng được Người nhấn mạnh. Trong Sửa đổi lối làm việc, Hồ Chí Minh phê phán tư tưởng làm quan, tìm kiếm lợi ích cá nhân, đồng thời yêu cầu cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc và Nhân dân lên trên hết. Người đặc biệt đề cao các phẩm chất cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; xem đó là nền tảng để người cán bộ thực hiện đúng trách nhiệm và giữ được uy tín trước quần chúng. Đến tác phẩm Đạo đức cách mạng, yêu cầu tu dưỡng, rèn luyện càng được đặt ra gắn với việc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, hết lòng phục vụ Đảng, phục vụ Nhân dân.

Có thể khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh về nêu gương trên ba phương diện cơ bản. Một là, nêu gương về phẩm chất chính trị, đạo đức và lối sống; thể hiện ở sự kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng, trung thực, khiêm tốn, thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân. Hai là, nêu gương trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ; thể hiện ở tinh thần tận tụy, chủ động, dám nghĩ, dám làm, nói đi đôi với làm và chịu trách nhiệm về kết quả công việc. Ba là, nêu gương trong quan hệ với Nhân dân; thể hiện ở thái độ gần dân, trọng dân, lắng nghe, tôn trọng và hết lòng phục vụ Nhân dân. Ba phương diện này có mối quan hệ chặt chẽ: đạo đức là nền tảng, hành động là biểu hiện và kết quả thực hiện nhiệm vụ là căn cứ quan trọng để kiểm chứng trách nhiệm nêu gương.

Điểm sâu sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là người cán bộ không thể yêu cầu quần chúng thực hiện những điều mà bản thân mình không gương mẫu thực hiện. Nêu gương vì thế phải bắt đầu từ sự tự giác tu dưỡng, nghiêm khắc với bản thân và được thể hiện bằng hành động cụ thể. Đặc biệt, cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu càng phải gương mẫu, bởi vị trí và quyền hạn càng cao thì ảnh hưởng đối với tập thể và trách nhiệm trước Nhân dân càng lớn. Chính sự thống nhất giữa lời nói và việc làm, giữa đạo đức cá nhân và trách nhiệm công vụ tạo nên uy tín của người cán bộ và sức thuyết phục của tổ chức đảng.

Tư tưởng đó tiếp tục được Đảng cụ thể hóa qua nhiều chủ trương, quy định về trách nhiệm nêu gương, tiêu biểu như Quy định số 101-QĐ/TW ngày 07/6/2012 của Ban Bí thư, Quy định số 55-QĐ/TW ngày 19/12/2016 của Bộ Chính trị, Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương và Quy định số 144-QĐ/TW ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới. Các văn bản này từng bước cụ thể hóa yêu cầu nêu gương trên các phương diện tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, trách nhiệm công tác, ý thức tổ chức kỷ luật và quan hệ với Nhân dân.

Đặc biệt, Nghị quyết số 31-NQ/TW ngày 15/10/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện tiếp tục đặt ra yêu cầu gắn xây dựng Đảng về đạo đức với văn hóa lãnh đạo, văn hóa cầm quyền và văn hóa liêm chính. Đáng chú ý, nghị quyết nhấn mạnh việc chuyển các giá trị vì nước, vì dân, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, trung thực và nêu gương thành chuẩn mực trong ứng xử, ra quyết định, sử dụng quyền lực và thực thi công vụ. Điều đó cho thấy, trách nhiệm nêu gương không chỉ là yêu cầu tu dưỡng cá nhân mà phải trở thành nguyên tắc trong hoạt động lãnh đạo, quản lý và thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên.

2.2. Yêu cầu và giải pháp phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên hiện nay

Những năm qua, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cùng với thực hiện các quy định về trách nhiệm nêu gương đã góp phần nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, đảng viên; tăng cường kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ. Vai trò gương mẫu của nhiều cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu được phát huy, góp phần củng cố mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân.

Tuy nhiên, việc thực hiện trách nhiệm nêu gương ở một số nơi vẫn chưa thực chất. Vẫn còn biểu hiện đăng ký tu dưỡng, rèn luyện mang tính hình thức; nói không đi đôi với làm; né tránh, đùn đẩy trách nhiệm; thiếu sâu sát cơ sở và chưa quyết liệt trong khắc phục khuyết điểm. Một số trường hợp vi phạm đạo đức, lối sống, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để mưu cầu lợi ích cá nhân đã ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức đảng và niềm tin của Nhân dân. Những vấn đề này cho thấy, yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là nâng cao nhận thức về nêu gương mà quan trọng hơn là tạo cơ chế để trách nhiệm nêu gương được thực hiện thường xuyên, có thể kiểm tra và đánh giá bằng kết quả cụ thể.

Để phát huy hiệu quả trách nhiệm nêu gương theo tư tưởng Hồ Chí Minh, cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất, cụ thể hóa chuẩn mực nêu gương gắn với chức trách và nhiệm vụ của từng cán bộ, đảng viên.

Cấp ủy, tổ chức đảng cần hướng dẫn cán bộ, đảng viên xác định nội dung tu dưỡng, rèn luyện phù hợp với vị trí công tác và nhiệm vụ được giao; tránh đăng ký chung chung, hình thức. Các chuẩn mực cần tập trung vào đạo đức công vụ, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần phục vụ Nhân dân, trách nhiệm trong phối hợp và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Việc đánh giá phải căn cứ vào những chuyển biến cụ thể trong quá trình công tác, khả năng khắc phục hạn chế và mức độ hoàn thành nhiệm vụ, không chỉ dựa trên bản cam kết hoặc tự nhận xét cuối năm.

Thứ hai, gắn trách nhiệm nêu gương với kết quả thực hiện nhiệm vụ và trách nhiệm giải trình.

Nêu gương phải được kiểm chứng bằng hiệu quả công việc. Mỗi cán bộ, đảng viên cần chủ động thực hiện nhiệm vụ đúng tiến độ, đúng thẩm quyền; không né tránh, đùn đẩy hoặc đổ lỗi cho tập thể khi xảy ra hạn chế. Đối với nhiệm vụ trọng tâm, cấp ủy và lãnh đạo cơ quan cần xác định rõ người chịu trách nhiệm, thời hạn hoàn thành và kết quả cần đạt để làm căn cứ kiểm tra, đánh giá. Đồng thời, cần khuyến khích cán bộ chủ động đổi mới, dám nhận việc khó, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; bảo đảm việc khuyến khích đổi mới luôn gắn với nguyên tắc, kỷ luật và quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Thứ ba, đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu.

Người đứng đầu phải gương mẫu trong chấp hành nguyên tắc tổ chức, quy chế làm việc, sử dụng quyền hạn đúng thẩm quyền và thực hiện trách nhiệm giải trình. Không chỉ yêu cầu cấp dưới thực hiện mà bản thân phải trực tiếp làm trước, chịu trách nhiệm về những quyết định thuộc phạm vi quản lý và nghiêm túc tiếp thu ý kiến góp ý. Cùng với đó, cần xây dựng môi trường làm việc dân chủ, công tâm, khuyến khích phản biện có trách nhiệm; kiên quyết khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, bao che khuyết điểm hoặc để lợi ích cá nhân chi phối hoạt động của tập thể.

Thứ tư, tăng cường kiểm tra, giám sát và phát huy vai trò giám sát của Nhân dân.

Cấp ủy, tổ chức đảng cần đưa việc thực hiện trách nhiệm nêu gương vào chương trình kiểm tra, giám sát thường xuyên, tập trung vào những vị trí có quyền hạn lớn, lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực và những vấn đề được Nhân dân quan tâm. Cùng với kiểm tra của tổ chức đảng, cần phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân; coi ý kiến phản ánh, mức độ hài lòng và sự tín nhiệm của Nhân dân là kênh thông tin quan trọng trong đánh giá cán bộ. Việc biểu dương những cá nhân gương mẫu, tận tụy phải đi đôi với phát hiện, chấn chỉnh và xử lý nghiêm những trường hợp thiếu trách nhiệm, vi phạm chuẩn mực đạo đức hoặc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi.

3. Kết luận

Nêu gương là nội dung xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng và rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, trách nhiệm nêu gương không chỉ phản ánh phẩm chất đạo đức cá nhân mà còn thể hiện phương thức lãnh đạo, năng lực thực thi trách nhiệm và mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân. Yêu cầu xây dựng Đảng thật sự "là đạo đức, là văn minh" đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải chuyển từ nhận thức, cam kết sang hành động cụ thể; lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ, tinh thần phục vụ và sự tín nhiệm của Nhân dân làm căn cứ quan trọng để đánh giá. Phát huy thực chất trách nhiệm nêu gương chính là góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với niềm tin của Nhân dân.

Trần Thanh Phong

Phó Trưởng khoa Xây dựng Đảng, Trường Chính trị Tây Ninh


TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Hồ Chí Minh. (2011). Toàn tập. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). 

2. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập II). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật. Ban Bí thư. (2012). 

3. Quy định số 101-QĐ/TW ngày 07/06/2012 về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp. Bộ Chính trị.

4. (2016). Quy định số 55-QĐ/TW ngày 19/12/2016 về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên. Ban Chấp hành Trung ương.

5. (2018). Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018 về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. 

6. Ban Chấp hành Trung ương. (2021). Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Bộ Chính trị. (2024). 

7. Quy định số 144-QĐ/TW ngày 09/05/2024 về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới. Ban Chấp hành Trung ương. 

8. (2026). Nghị quyết số 31-NQ/TW ngày 15/10/2026 về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.