logo
ISSN 2734-9020

Những nhân tố cơ bản quy định sự phát triển năng lực sư phạm của học viên đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay

Thứ tư, 03/06/2026 - 00:11

Với vai trò là nguồn bổ sung trực tiếp cho đội ngũ giảng viên trong tương lai, học viên đào tạo giảng viên khoa học xã hội và nhân văn quân sự (KHXH&NVQS) cần được trang bị và phát triển năng lực sư phạm đáp ứng yêu cầu của môi trường giáo dục số. Trên cơ sở làm rõ quan niệm về năng lực sư phạm của học viên đào tạo giảng viên KHXH&NVQS trong bối cảnh chuyển đổi số, bài viết tập trung phân tích ba nhóm nhân tố cơ bản quy định sự phát triển năng lực sư phạm của học viên và đề xuất một số yêu cầu nhằm phát huy các nhân tố này, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ giảng viên KHXH&NVQS hiện nay.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

1. Mở đầu

Đảng ta xác định "Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu" [1], đồng thời "Thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện, phổ cập và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong giáo dục và đào tạo"[2]. Điều đó cho thấy chuyển đổi số đã trở thành yêu cầu khách quan đối với sự phát triển của nền giáo dục quốc dân nói chung và giáo dục quân sự nói riêng. Đối với lĩnh vực KHXH&NVQS, đội ngũ giảng viên giữ vai trò quan trọng trong giáo dục chính trị, tư tưởng, bồi dưỡng thế giới quan khoa học, phương pháp luận và bản lĩnh chính trị cho cán bộ, học viên trong quân đội. Chất lượng đội ngũ giảng viên trong tương lai phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng đào tạo học viên đào tạo giảng viên hiện nay. Trong bối cảnh chuyển đổi số, sự phát triển năng lực sư phạm của đội ngũ này không diễn ra một cách tự phát mà chịu sự quy định của nhiều nhân tố khác nhau.

2. Quan niệm về năng lực sư phạm của học viên đào tạo giảng viên KHXH&NVQS trong bối cảnh chuyển đổi số

Năng lực là một phạm trù được tiếp cận dưới nhiều góc độ, tuy có những cách diễn đạt khác nhau, nhưng điểm thống nhất cơ bản là đều khẳng định năng lực không đơn thuần là tri thức hay kỹ năng riêng lẻ mà là sự huy động tổng hợp các yếu tố thuộc về chủ thể nhằm thực hiện có hiệu quả một hoạt động nhất định. Trên cơ sở đó, có thể quan niệm năng lực sư phạm là khả năng huy động tổng hợp tri thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp sư phạm, kinh nghiệm thực tiễn cùng các phẩm chất đạo đức, trách nhiệm nghề nghiệp của chủ thể nhằm thực hiện có hiệu quả các hoạt động dạy học, giáo dục và nghiên cứu khoa học. Năng lực sư phạm không phải là sự cộng gộp giản đơn giữa tri thức và kỹ năng nghề nghiệp mà là sự thống nhất biện chứng giữa tri thức, kỹ năng, thái độ, kinh nghiệm và phẩm chất nghề nghiệp được biểu hiện trong hoạt động thực tiễn của người giảng viên.

Đối với lĩnh vực KHXH&NVQS, năng lực sư phạm của người giảng viên có những đặc thù riêng, xuất phát từ mục tiêu, nội dung và môi trường giáo dục quân sự. Theo đó, có thể quan niệm: Năng lực sư phạm của học viên đào tạo giảng viên KHXH&NVQS là khả năng huy động tổng hợp tri thức chuyên môn, tri thức sư phạm, kỹ năng nghề nghiệp, phẩm chất chính trị, đạo đức và các năng lực bổ trợ cần thiết nhằm thực hiện có hiệu quả các hoạt động dạy học, giáo dục và nghiên cứu khoa học trong môi trường quân sự, đáp ứng yêu cầu hoạt động nghề nghiệp của giảng viên KHXH&NVQS trong tương lai. Trong bối cảnh chuyển đổi số, năng lực sư phạm chủ yếu được biểu hiện ở năng lực giảng dạy, khả năng khai thác, sử dụng và tích hợp công nghệ số vào các hoạt động sư phạm. Điều đó đòi hỏi học viên đào tạo giảng viên không chỉ làm chủ tri thức chuyên môn và phương pháp sư phạm truyền thống mà còn phải có năng lực khai thác học liệu số, sử dụng các nền tảng dạy học trực tuyến, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, tổ chức hoạt động học tập trong môi trường số và thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ giáo dục. Vì vậy, năng lực sư phạm của học viên đào tạo giảng viên KHXH&NVQS hiện nay được biểu hiện tập trung ở một số phương diện cơ bản như: năng lực dạy học; năng lực giáo dục; năng lực nghiên cứu khoa học; năng lực ứng dụng công nghệ số trong hoạt động sư phạm; năng lực tự học và phát triển nghề nghiệp.

Như vậy, năng lực sư phạm của học viên đào tạo giảng viên KHXH&NVQS là một chỉnh thể thống nhất, được hình thành và phát triển thông qua quá trình đào tạo, rèn luyện và hoạt động thực tiễn. Trong bối cảnh chuyển đổi số, sự phát triển của năng lực này chịu sự tác động của nhiều nhân tố khác nhau, việc nhận diện đúng các nhân tố đó có ý nghĩa quan trọng đối với nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ giảng viên KHXH&NVQS hiện nay.

3. Những nhân tố cơ bản quy định sự phát triển năng lực sư phạm của học viên đào tạo giảng viên KHXH&NVQS trong bối cảnh chuyển đổi số

3.1. Nhóm nhân tố thuộc quá trình đào tạo

Đây là nhóm nhân tố giữ vai trò trực tiếp trong việc trang bị tri thức, hình thành kỹ năng và phát triển các phẩm chất nghề nghiệp cho học viên. Mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và hoạt động thực hành, thực tập sư phạm là những yếu tố cơ bản cấu thành quá trình đào tạo, đồng thời là những nhân tố tác động trực tiếp đến sự phát triển năng lực sư phạm của học viên. Trước hết, mục tiêu đào tạo giữ vai trò định hướng cho toàn bộ quá trình hình thành và phát triển năng lực sư phạm. Mục tiêu đào tạo quy định những phẩm chất, năng lực mà học viên cần đạt được sau quá trình học tập, từ đó chi phối việc lựa chọn nội dung, chương trình, phương pháp và hình thức tổ chức đào tạo. Trong bối cảnh chuyển đổi số, mục tiêu đào tạo giảng viên KHXH&NVQS không chỉ dừng lại ở việc hình thành năng lực chuyên môn và năng lực sư phạm truyền thống mà còn hướng tới phát triển năng lực số, năng lực thích ứng và năng lực đổi mới sáng tạo cho người học. Cùng với mục tiêu đào tạo, nội dung và chương trình đào tạo có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển năng lực sư phạm của học viên. Nội dung đào tạo không chỉ cung cấp hệ thống tri thức chuyên môn, tri thức sư phạm mà còn tạo cơ sở để hình thành phương pháp tư duy, kỹ năng nghề nghiệp và năng lực nghiên cứu khoa học. Quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng "Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học... Đổi mới nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực"[3] và "nâng cao chuẩn năng lực số và trí tuệ nhân tạo cho người học và đội ngũ nhà giáo ở tất cả các cấp học, đưa vào chương trình giáo dục gắn với thúc đẩy các hoạt động sáng tạo, trải nghiệm"[4]. Theo đó, trong điều kiện chuyển đổi số, yêu cầu đặt ra là chương trình đào tạo phải được cập nhật thường xuyên, bảo đảm sự cân đối giữa tri thức chuyên môn, tri thức sư phạm và các nội dung liên quan đến công nghệ số, phương pháp dạy học hiện đại, kỹ năng khai thác và sử dụng học liệu số. Mức độ hiện đại, khoa học và thực tiễn của chương trình đào tạo có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng phát triển năng lực sư phạm của học viên.

Bên cạnh đó, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học cũng tác động mạnh mẽ đến quá trình phát triển năng lực sư phạm. Nếu phương pháp đào tạo chủ yếu theo hướng truyền thụ tri thức một chiều sẽ hạn chế tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học. Ngược lại, các phương pháp dạy học tích cực, dạy học theo tình huống, dạy học dự án, dạy học kết hợp (blended learning), ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo sẽ tạo điều kiện thuận lợi để học viên phát triển tư duy sư phạm, kỹ năng nghề nghiệp và năng lực thích ứng với môi trường giáo dục hiện đại. Đặc biệt, hoạt động thực hành giảng bài, thực tập sư phạm và nghiên cứu khoa học có vai trò quan trọng trong việc chuyển hóa tri thức thành kỹ năng, kinh nghiệm và năng lực nghề nghiệp thực tiễn của học viên.

3.2. Nhóm nhân tố thuộc môi trường đào tạo

Môi trường đào tạo là nhân tố có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển năng lực sư phạm của học viên. Môi trường đào tạo là tổng hòa các điều kiện vật chất, tinh thần, các mối quan hệ xã hội và các yếu tố tổ chức tác động đến quá trình học tập, rèn luyện và phát triển của người học. Trước hết, môi trường sư phạm quân sự với những đặc trưng về tính tổ chức, tính kỷ luật, tính chính quy và tính tập thể có vai trò quan trọng trong việc hình thành tác phong nghề nghiệp, ý thức trách nhiệm và bản lĩnh của học viên. Đây là những yếu tố không thể thiếu trong cấu trúc năng lực sư phạm của giảng viên KHXH&NVQS. Thông qua các hoạt động học tập, rèn luyện, công tác và sinh hoạt tập thể, học viên từng bước hình thành phong cách làm việc khoa học, phương pháp tổ chức hoạt động và năng lực giao tiếp sư phạm phù hợp với môi trường quân đội. Đội ngũ giảng viên là một nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng phát triển năng lực sư phạm của học viên. Với tư cách là chủ thể tổ chức, hướng dẫn và định hướng quá trình đào tạo, giảng viên không chỉ truyền thụ tri thức mà còn là tấm gương nghề nghiệp để học viên học tập, noi theo. Trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm, khả năng ứng dụng công nghệ số và phương pháp tổ chức dạy học của giảng viên có tác động trực tiếp đến nhận thức, thái độ và phương thức hoạt động nghề nghiệp của học viên.

Cùng với đó, công tác quản lý, giáo dục của nhà trường giữ vai trò định hướng, điều chỉnh và tạo động lực cho quá trình phát triển năng lực sư phạm. Một cơ chế quản lý khoa học, dân chủ, gắn kết chặt chẽ giữa quản lý với giáo dục, giữa đào tạo với rèn luyện sẽ tạo môi trường thuận lợi để học viên phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo trong học tập, nghiên cứu khoa học và rèn luyện nghề nghiệp. Trong bối cảnh chuyển đổi số, cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ và học liệu số trở thành những điều kiện quan trọng bảo đảm cho sự phát triển năng lực sư phạm. Hệ thống thư viện số, cơ sở dữ liệu điện tử, nền tảng quản lý học tập trực tuyến, phòng học thông minh và các công cụ hỗ trợ dạy học số không chỉ mở rộng khả năng tiếp cận tri thức mà còn tạo môi trường thực tiễn để học viên rèn luyện kỹ năng ứng dụng công nghệ trong hoạt động nghề nghiệp. Đồng thời, các phong trào thi đua học tập, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong nhà trường cũng góp phần tạo động lực, khuyến khích học viên tích cực phát triển năng lực sư phạm.

3.3. Nhóm nhân tố thuộc bản thân học viên

Đây là nhóm nhân tố bên trong, giữ vai trò quyết định trực tiếp đối với sự phát triển năng lực sư phạm của học viên. Theo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, "Sự phát triển của một cá nhân được quyết định bởi sự phát triển của tất cả những cá nhân khác mà cá nhân ấy đang trực tiếp hoặc gián tiếp giao tiếp"[5]. Vì vậy, dù quá trình đào tạo và môi trường đào tạo có được tổ chức tốt đến đâu thì năng lực sư phạm cũng không thể hình thành và phát triển nếu bản thân người học thiếu tính tích cực, chủ động và ý thức tự hoàn thiện nghề nghiệp. Trước hết, nhận thức nghề nghiệp và động cơ học tập có vai trò định hướng đối với toàn bộ hoạt động học tập, rèn luyện của học viên. Nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò, trách nhiệm của người giảng viên KHXH&NVQS sẽ tạo cơ sở hình thành động cơ học tập tích cực, thái độ nghề nghiệp đúng đắn và khát vọng cống hiến cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo trong quân đội. Ngược lại, nếu động cơ học tập không rõ ràng hoặc mang tính đối phó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả học tập và sự phát triển năng lực nghề nghiệp. Năng lực tự học, tự nghiên cứu là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định chất lượng phát triển năng lực sư phạm của học viên. Trong điều kiện lượng tri thức nhân loại gia tăng nhanh chóng và công nghệ giáo dục liên tục đổi mới, quá trình đào tạo trong nhà trường chỉ có thể trang bị những tri thức và kỹ năng nền tảng. Khả năng tự học, tự nghiên cứu giúp học viên chủ động bổ sung, cập nhật tri thức mới, hoàn thiện kỹ năng nghề nghiệp và thích ứng với những yêu cầu ngày càng cao của thực tiễn giáo dục.

Ngoài ra, năng lực nghiên cứu khoa học, năng lực ứng dụng công nghệ số, ý chí phấn đấu nghề nghiệp và khả năng thích ứng với sự thay đổi của môi trường giáo dục cũng có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển năng lực sư phạm. Trong bối cảnh chuyển đổi số, học viên không chỉ cần làm chủ tri thức chuyên môn mà còn phải có khả năng khai thác, sử dụng và tích hợp công nghệ số vào hoạt động học tập, nghiên cứu và thực hành nghề nghiệp. Đây là điều kiện quan trọng để hình thành năng lực sư phạm hiện đại, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong quân đội.

3. Một số yêu cầu đặt ra nhằm phát triển năng lực sư phạm của học viên đào tạo giảng viên KHXH&NVQS trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay

Một là, tiếp tục đổi mới quá trình đào tạo theo hướng phát triển năng lực đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số. Đây là yêu cầu có ý nghĩa nền tảng, tác động trực tiếp đến chất lượng hình thành và phát triển năng lực sư phạm của học viên. Theo đó, cần rà soát, cập nhật mục tiêu, nội dung, chương trình đào tạo theo hướng tăng cường tính hiện đại, liên thông và khả năng thích ứng với sự phát triển của khoa học, công nghệ và thực tiễn giáo dục quân sự. Quá trình đào tạo cần chuyển mạnh từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận phát triển năng lực; chú trọng phát triển năng lực dạy học, năng lực nghiên cứu khoa học, năng lực ứng dụng công nghệ số và năng lực tự học, tự phát triển nghề nghiệp cho học viên. Đồng thời, đẩy mạnh áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, dạy học kết hợp, dạy học dự án và các mô hình đào tạo trên nền tảng số nhằm tạo điều kiện để học viên chủ động tham gia vào quá trình hình thành năng lực nghề nghiệp.

Hai là, xây dựng môi trường đào tạo số thuận lợi cho sự phát triển năng lực sư phạm của học viên. Môi trường đào tạo có vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện và động lực để học viên phát triển năng lực nghề nghiệp. Vì vậy, cần tiếp tục xây dựng môi trường sư phạm quân sự dân chủ, chính quy, mẫu mực; phát huy vai trò của đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục trong định hướng, hướng dẫn và hỗ trợ học viên. Cùng với đó, cần đẩy mạnh đầu tư, hoàn thiện hệ thống hạ tầng số, thư viện số, cơ sở dữ liệu số, học liệu số và các nền tảng quản lý học tập trực tuyến phục vụ hoạt động đào tạo. Việc xây dựng môi trường học tập số hiện đại không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo mà còn tạo điều kiện để học viên thường xuyên tiếp cận, khai thác và ứng dụng công nghệ số trong hoạt động học tập, nghiên cứu và thực hành nghề nghiệp.

Ba là, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học viên trong học tập, nghiên cứu khoa học và rèn luyện nghề nghiệp. Đây là yêu cầu có ý nghĩa quyết định trực tiếp đối với sự phát triển năng lực sư phạm của học viên. Mỗi học viên cần xây dựng động cơ nghề nghiệp đúng đắn, xác định rõ mục tiêu học tập và rèn luyện, không ngừng nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu và khả năng thích ứng với sự thay đổi của môi trường giáo dục số. Đồng thời, cần chủ động tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học, thực hành giảng dạy, ứng dụng công nghệ số và rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp. Chỉ thông qua hoạt động tích cực, tự giác và sáng tạo của bản thân, những tác động từ quá trình đào tạo và môi trường đào tạo mới có thể chuyển hóa thành năng lực sư phạm thực tế của người giảng viên trong tương lai.

4. Kết luận

Năng lực sư phạm của học viên đào tạo giảng viên KHXH&NVQS là một chỉnh thể thống nhất, được hình thành và phát triển dưới sự tác động tổng hợp của nhiều nhân tố khác nhau. Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, sự phát triển năng lực này chịu sự chi phối trực tiếp của ba nhóm nhân tố cơ bản: nhóm nhân tố thuộc quá trình đào tạo; nhóm nhân tố thuộc môi trường đào tạo; nhóm nhân tố thuộc bản thân học viên. Mỗi nhóm nhân tố có vị trí, vai trò riêng nhưng thống nhất trong quá trình tác động đến sự hình thành và phát triển năng lực sư phạm của người học. Trong đó, nhóm nhân tố thuộc quá trình đào tạo giữ vai trò trực tiếp trang bị tri thức, kỹ năng và phương pháp nghề nghiệp; nhóm nhân tố thuộc môi trường đào tạo tạo điều kiện và động lực cho sự phát triển năng lực; nhóm nhân tố thuộc bản thân học viên giữ vai trò quyết định trực tiếp đối với việc chuyển hóa các tác động khách quan thành năng lực thực tế. Vì vậy, nâng cao chất lượng đào tạo học viên đào tạo giảng viên KHXH&NVQS hiện nay đòi hỏi phải phát huy đồng bộ vai trò của cả ba nhóm nhân tố, đồng thời chú trọng phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo trong quân đội trước tác động ngày càng sâu sắc của chuyển đổi số.

Trích dẫn

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Nxb CTQGST, Hà Nội, 2026, tr. 273.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

[5] C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, tập 3, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tr. 642.

Vương Thị Bích Thủy, Nguyễn Văn Xuân

Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng