logo
ISSN 2734-9020

Phát triển công nghiệp an ninh hiện đại trong tư duy Đại hội XIV là bước chuyển về chất nhận thức tự chủ chiến lược của Đảng (Kỳ 1)

Thứ sáu, 29/05/2026 - 15:24

Tóm tắt: Đại hội XIV đặt ra yêu cầu nhìn nhận lại công nghiệp an ninh như trụ cột của tự chủ chiến lược. Chùm bài viết xuất phát từ yêu cầu đó, hướng tới luận giải các điểm mới và đồng thời, chống phá các luận điệu xuyên tạc về vấn đề này. Chùm bài viết gồm 3 bài viêt.

Trong thời đại ngày nay, năng lực tự chủ chiến lược về công nghiệp an ninh trở thành tiêu chuẩn sức mạnh quốc gia. Việt Nam đang đứng trước thời cơ lịch sử: Xây dựng công nghiệp an ninh hiện đại để tự chủ chiến lược hay phụ thuộc an ninh bảo hộ của cường quốc?. Đây là câu hỏi không trừu tượng mà xác định trực tiếp khả năng ứng xử độc lập của Việt Nam trong các tình huống bất ổn địa chính trị. Đại hội XIV đã đánh dấu bước chuyển quan trọng về tư duy trả lời câu hỏi này.

Phát triển công nghiệp an ninh hiện đại trong tư duy Đại hội XIV là bước chuyển về chất nhận thức tự chủ chiến lược của Đảng (Kỳ 1) - Ảnh 1.

Theo luật Công an nhân dân định nghĩa: "Công nghiệp an ninh là thành phần của công nghiệp quốc phòng, an ninh phục vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật và xây dựng Công an nhân dân" [14, tr.21]. Mục tiêu của công nghiệp an ninh là trang bị cho công tác an ninh và đóng góp vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đây là khái niệm được dùng thống nhất trong hệ thống chính trị ở nước ta trước Đại hội XIV đã manh nha mối quan hệ biện chứng giữa công nghiệp an ninh và tự chủ chiến lược.

Tự chủ chiến lược "mệnh đề mới được Ban Chấp hành Trung ương Đảng đưa vào chủ đề Đại hội lần thứ XIV của Đảng" [3], là khả năng chủ động làm chủ công nghệ lõi lĩnh vực an ninh, không lệ thuộc nguồn cung từ nước ngoài và duy trì khả năng ứng biến linh hoạt trước biến động thế giới. Thể hiện qua: Mức độ nội địa hóa công nghệ cốt lõi, thời gian duy trì hoạt động độc lập, năng lực tự nghiên cứu, quyền kiểm soát thực chất. Đây là nội hàm mới, khác với "độc lập tự chủ" mang tính nguyên tắc chính trị, gắn trực tiếp với lĩnh vực sản xuất công nghiệp an ninh trong nước.

Nền tảng lý luận của mối quan hệ giữa tự chủ chiến lược và công nghiệp an ninh đã được chủ nghĩa Mác - Lênin đặt nền móng. C.Mác khi phân tích chức năng nhà nước trong xã hội tư sản đã chỉ rõ nhà nước có trách nhiệm "giữ gìn an ninh xã hội bằng cách thành lập những lực lượng vũ trang thị chính chủ yếu" [10, tr.774]. Do vậy đã xác lập một nguyên tắc phổ quát: Bảo đảm an ninh là chức năng của nhà nước, không thể ủy thác vào nước ngoài. Thứ hai, để duy trì năng lực tự chủ "chỉ có không ngừng phát triển nền sản xuất công nghiệp" [11, tr.687], vì vậy sản xuất và năng lực tự vệ an ninh phải vận động song hành. Thứ ba, C.Mác cảnh báo nguy cơ tụt hậu về công nghệ: "một phần lớn trong khối lượng hiện có của nó còn trở thành lỗi thời do sự tiến bộ kỹ thuật không ngừng" [12, tr.813]. Từ đó hình thành nguyên lý: Nhà nước xã hội chủ nghĩa có trách nhiệm xây dựng lực lượng an ninh, duy trì năng lực sản xuất nội địa, đổi mới công nghệ liên tục, đây chính là nội dung vật chất của tự chủ chiến lược trong lĩnh vực công nghiệp an ninh.

Gắn nguyên tắc vào thực tiễn Việt Nam, Hồ Chí Minh đã cho rằng; "Phải kết hợp chặt chẽ và thực hiện tốt mối quan hệ giữa sản xuất và chiến đấu" [8, tr.IX], "chế nhiều vũ khí, dụng cụ, sản phẩm để đánh giặc và để cung cấp cho nhân dân" [8, tr.IX] và "trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh" [9, tr.156]. Tư tưởng của Người là chủ động sản xuất để chiến đấu, tạo thực lực trong nước làm gốc, viện hỗ trợ bên ngoài là bổ sung. Qua đó đã xác lập nền tảng tư duy công nghiệp an ninh tự lực, tự cường và hình thành tư duy tự chủ chiến lược sau này.

Trải qua nhiều giai đoạn phát triển từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945) đến nay đã có nhiều quan điểm của Đảng, Nhà nước bàn đến mối quan hệ biện chứng này. Đại hội VI (1986), đánh dấu thời kỳ đổi mới cho đến Đại hội IX (2001) đã đề ra: "trang bị kỹ thuật hiện đại cho quân đội, công an" [4, tr.145]. Đây là bước phát triển tư duy quan trọng của Đảng khi củng cố lực lượng công an, củng cố công nghiệp quốc phòng, an ninh để phục vụ cho dổi mới đất nước sau thời kỳ thực hiện cơ chế quan liêu, bao cấp; củng cố tự chủ khi chiến tranh lạnh đang đi vào thời kỳ cuối. Nghị định 63/2020/NĐ-CP quy định: "Phát triển công nghiệp an ninh là việc đầu tư các nguồn lực và ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ, kỹ thuật để phát triển tiềm lực quốc gia về nghiên cứu, chế tạo, sản xuất sản phẩm công nghiệp an ninh chuyên dụng và lưỡng dụng" [1, tr.2]. Đại hội XIII (2021) của Đảng công nghiệp quốc phòng, an ninh thành "mũi nhọn của công nghiệp quốc gia" [5, tr.297]. Nhìn chung trước Đại hội XIV, công nghiệp an ninh chưa có vị thế riêng biệt trong văn kiện chiến lược và còn gắn với công nghiệp quốc phòng; tư duy lưỡng dụng chủ yếu có nghĩa tận dụng năng lực công nghiệp dân sự để phục vụ an ninh, quốc phòng khi điều kiện vật chất còn hạn hẹp.

Trước bối cảnh tình hình quốc tế "đứng trước nhiều trở ngại, thách thức" [7, tr.239], diễn biến an ninh khu vực và trong nước ngày càng gia tăng, phức tạp đã đặt ra vấn đề cần thiết phải phát triển công nghiệp an ninh hiện đại trở thành trụ cột sức mạnh tự chủ chiến lược của quốc gia. Điều này được Đại hội XIV chỉ rõ trong Nghị quyết Đại hội: "tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc" [7, tr.375] và thể hiện cụ thể như sau:

Một là, công nghiệp an ninh được xác định vị thế độc lập trong kiến trúc công nghiệp quốc gia gắn với mô hình "tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại".

Đại hội XIV tách bạch hai lĩnh vực này, khẳng định mỗi ngành có hệ thống chủ thể, chức năng và yêu cầu công nghệ đặc thù: "Đẩy mạnh đột phá phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh" [6, tr.114]. Sự phân định đó phản ánh nhận thức mới, khoa học: An ninh quốc gia trong kỷ nguyên mới chứa đựng những thách thức mà công nghiệp quốc phòng truyền thống không thể bao phủ toàn bộ như an ninh mạng, trinh sát điện tử, truy vết tội phạm xuyên biên giới, quản lý dữ liệu chiến lược, bảo vệ hạ tầng thông tin quan trọng quốc gia đều đòi hỏi những giải pháp công nghệ an ninh chuyên biệt, có tính riêng biệt cao. Việc xác lập vị thế độc lập cho công nghiệp an ninh không tách rời công nghiệp quốc phòng mà tạo ra thế trận kép, tăng cường tính toàn diện của sức mạnh tự chủ chiến lược quốc gia.

Phát triển công nghiệp an ninh hiện đại trong tư duy Đại hội XIV là bước chuyển về chất nhận thức tự chủ chiến lược của Đảng (Kỳ 1) - Ảnh 2.
Mô hình "tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại" [6, tr.114]. "Tự chủ, tự lực, tự cường" đi trước "lưỡng dụng, hiện đại", trọng tâm là làm chủ công nghệ lõi, tự thiết kế, tự sản xuất, quy mô sản xuất và khả năng chịu áp lực khi bị cắt nguồn linh kiện. Đồng thời, chuyển công nghiệp an ninh từ đối phó tình huống khẩn cấp sang chủ động chuẩn bị nguồn lực quốc gia. Đây là sự thay đổi về phương thức vận hành từ bị động sang chủ động cao độ: "Chủ động chuẩn bị nguồn lực quốc gia, nâng cao khả năng huy động đáp ứng yêu cầu trong mọi tình huống quốc phòng, an ninh" [6, tr.114] để "phát huy sức mạnh mềm Việt Nam góp phần tạo thế và lực mới cho đất nước" [6, tr.114]. Chủ động ở đây là tự chủ chiến lược công nghiệp an ninh gắn chặt với làm chủ khoa học, công nghệ cao gồm: Dự trữ vũ khí, khí tài an ninh, chuẩn bị về công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo ứng dụng quân sự, hệ thống vũ khí chính xác cao, phương tiện bay không người lái, an ninh mạng…

Đồng thời: "Đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, an ninh" [6, tr.115], tức là tự chủ là năng lực kiểm soát các công nghệ nền tảng đảm bảo hợp tác quốc tế không dẫn đến sự phụ thuộc ép buộc. Các thỏa thuận hợp tác an ninh phải có cơ chế "phòng vệ chiến lược", luôn có phương án thay thế để nắm quyền phủ quyết đối với an ninh quốc gia.

Về "lưỡng dụng, hiện đại". Hàng hóa lưỡng dụng là "hàng hóa được sử dụng cho mục đích dân sự nhưng có thể được sử dụng cho phát triển, sản xuất hay sử dụng vũ khí hủy diệt hàng loạt, vũ khí thông thường" [2, tr.1]; hiện đại là "có áp dụng những phát minh, những thành tựu mới nhất của khoa học, kỹ thuật; đối lập với cổ điển" [15]. Vì vậy, "lưỡng dụng, hiện đại" là sản phẩm an ninh có công nghệ cốt lõi không thuộc danh mục bí mật nhà nước được thương mại hóa dân sự không hạn chế. Sản phẩm đang trong chu kỳ khai thác an ninh được ứng dụng dân sự có kiểm soát, theo giấy phép từng trường hợp. Sản phẩm thuộc danh mục công nghệ cốt lõi chiến lược bị hạn chế xuất khẩu tuyệt đối.

Chính sự tự chủ vững chắc về công nghệ lõi và mô hình "lưỡng dụng, hiện đại" được xác lập ở trên đã tạo ra tiền đề vật chất và thể chế cần thiết để công nghiệp an ninh không còn bó hẹp trong phạm vi phòng thủ mà đủ năng lực mở rộng ra bên ngoài, thẩm thấu vào mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội. Từ đó, mới có điều kiện để triển khai tư duy chiến lược thứ hai: Lồng ghép an ninh vào phát triển trên các hướng chiến lược của Tổ quốc. GTEL là minh chứng sống động cho mô hình này: "Dịch vụ xác thực điện tử, hệ thống quản lý lưu trú ASM tích hợp với ứng dụng định danh điện tử VNeID tiếp tục được ứng dụng vào thực tế và mang lại hiệu quả thực tiễn" [14].

Hai là, lồng ghép an ninh vào kinh tế - xã hội trên các hướng chiến lược để xây dựng thế trận an ninh toàn diện.

Nếu như nội dung thứ nhất khẳng định vị thế, mô hình công nghiệp an ninh, thì nội dung thứ hai chính là bước triển khai ra thực địa chiến lược. Sự chuyển hóa này chỉ khả thi khi công nghiệp an ninh đã đạt đến độ chín muồi về trình độ để có thể bảo đảm yếu tố bí mật, đặc thù và đáp ứng tính phổ dụng thông qua: "Thực hiện hiệu quả các đề án, dự án về tăng cường quốc phòng, an ninh kết hợp với phát triển kinh tế - xã hội trên hướng chiến lược của Tổ quốc" [7, tr.269-270]. Đây là sự gắn kết hữu cơ giữa công nghiệp an ninh với các dự án phát triển kinh tế vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo làm tăng trưởng GDP và củng cố an ninh chủ quyền. Bên cạnh đó, phải "Đẩy mạnh đầu tư, phát triển khoa học và công nghệ trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh" [7, tr.270] đảm bảo cho chi phí tiêu dùng, năng lực cạnh tranh và sức mạnh mềm quốc gia. Đồng thời, là cơ chế liên kết chặt chẽ giữa nhà nước với doanh nghiệp (nhất là doanh nghiệp tư nhân) và lực lượng an ninh, đây là một biểu hiện cụ thể của việc phát huy sức mạnh mềm và tạo thế, lực mới cho đất nước.

Bản chất của tư duy này là đặt công nghiệp an ninh trong mối quan hệ hữu cơ với thế trận lòng dân. Công nghiệp an ninh hiện đại muốn bền vững phải có hai điều: Một là, phục vụ thiết thực đời sống nhân dân, hai là, được nhân dân tin tưởng và tham gia. Các sản phẩm công nghiệp an ninh đang được áp dụng cho toàn dân như: Camera thông minh phát hiện tội phạm, ứng dụng tố giác trực tuyến, hệ thống cảnh báo sớm thiên tai, nền tảng quản lý cư trú số… là những biểu hiện rõ nhất của tư duy này trong thực tiễn. Khi nhân dân thụ hưởng trực tiếp giá trị của công nghiệp an ninh, bản thân ngành công nghiệp đó có động lực cải tiến bền vững, có sự giám sát xã hội và có nền tảng chính trị vững chắc. Đây là đặc trưng phân biệt rõ ràng giữa công nghiệp an ninh trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam với các mô hình công nghiệp an ninh phục vụ kiểm soát, đàn áp mà các thế lực thù địch cố tình đánh đồng.

Như vậy, Đại hội XIV đã xác định công nghiệp an ninh hiện đại là trụ cột của tự chủ chiến lược quốc gia. Đây là bước chuyển mới về chất. Từ quan điểm "tự lực cánh sinh" sang "tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại". Công nghiệp an ninh, theo đó, được xác định lại vị trí. Là một trong những động lực tạo nên sức mạnh mềm của quốc gia. Đồng thời là năng lực xây dựng thế trận an ninh vững chắc trong kỷ nguyên mới.

Vũ Anh Quân - Học viện Quốc tế, Bộ Công an

(Còn tiếp, mời đọc kỳ 2)


TÀI LIỆU TRÍCH DẪN


1. Chính Phủ (2020), Nghị định số 63/2020/NĐ-CP ngày 08/6/2020 quy định về công nghiệp an ninh, Hà Nội.

2. Chính phủ (2025), Nghị định về kiểm soát thương mại chiến lược số 259/2025/NĐ-CP ngày 10/10/2025, Hà Nội.

3. Trọng Đại - Sơn Thái - Chí Dũng, "Tự chủ chiến lược" - bước phát triển trong kỷ nguyên vươn mình - Bài 1: Từ độc lập, tự chủ đến "tự chủ chiến lược", Báo Quân đội nhân dân,


4. https://www.qdnd.vn/cuoc-thi-viet-vung-buoc-duoi-co-dang/tu-chu-chien-luoc-buoc-phat-trien-trong-ky-nguyen-vuon-minh-bai-1-tu-doc-lap-tu-chu-den-tu-chu-chien-luoc-1012164, truy cập ngày 16/11/2025.


5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tập 60.

6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập I.

7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập I.

8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập II.

9. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tập 6.

10. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tập 8.

11. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 4.

12. C.Mác và Ph.Ăngghen (2002), Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 1.

13. C.Mác và Ph.Ăngghen (2002), Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 23.

14. Xuân Mai (2025), Gtel tiến tới trở thành một tổ hợp công nghệ, công nghiệp an ninh, Báo Công an nhân dân online, https://cand.com.vn/Hoat-dong-LL-CAND/gtel-tien-toi-tro-thanh-mot-to-hop-cong-nghe-cong-nghiep-an-ninh-i775231/, truy cập ngày 18/7/2025.


15.Quốc hội (2018), Luật Công an nhân dân số 37/2018/QH14 ngày 20/11/2018, Hà Nội.

16. Wikionary (2023), hiện đại, https: //vi.wiktion ary.org/wiki/h i% E1 % BB % 87n_%C4 %91%E1%BA%A1i, truy cập ngày 30/8/2023.