logo
ISSN 2734-9020

Phát triển môi trường văn hóa doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết 68-NQ/TW

Thứ tư, 16/09/2026 - 11:17

Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu phát triển kinh tế tư nhân nhanh, bền vững, có năng lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo và hội nhập sâu rộng. Thực hiện yêu cầu đó không chỉ đòi hỏi hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực tài chính, công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực mà còn cần xây dựng môi trường văn hóa doanh nghiệp phù hợp, tạo nền tảng cho đổi mới phương thức quản trị, tư duy kinh doanh và hành vi của các chủ thể trong doanh nghiệp.

1. Đặt vấn đề

Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu phát triển kinh tế tư nhân nhanh, bền vững, có năng lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo và hội nhập sâu rộng. Thực hiện yêu cầu đó không chỉ đòi hỏi hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực tài chính, công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực mà còn cần xây dựng môi trường văn hóa doanh nghiệp phù hợp, tạo nền tảng cho đổi mới phương thức quản trị, tư duy kinh doanh và hành vi của các chủ thể trong doanh nghiệp.

Trong bối cảnh đó, môi trường văn hóa doanh nghiệp cần được kiến tạo theo hướng chuyên nghiệp trong quản trị, nhân văn trong quan hệ và hiện đại trong tư duy; đồng thời đề cao đạo đức, liêm chính, đổi mới sáng tạo, trách nhiệm xã hội và thượng tôn pháp luật. Một môi trường văn hóa phù hợp không chỉ góp phần định hướng nhận thức, hành vi và quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp mà còn tạo động lực nâng cao năng lực quản trị, khả năng thích ứng và sức cạnh tranh của doanh nghiệp tư nhân.

Tuy nhiên, trên thực tế, việc xây dựng môi trường văn hóa ở một bộ phận doanh nghiệp còn thiên về giá trị tuyên bố, chưa được gắn kết đầy đủ với phương thức lãnh đạo, cơ chế quản trị và hành vi thực tiễn. Khoảng cách giữa giá trị được xác lập và giá trị được thực hành vì vậy vẫn là vấn đề cần được quan tâm. Từ yêu cầu đó, việc nghiên cứu môi trường văn hóa doanh nghiệp không chỉ có ý nghĩa về phương diện văn hóa mà còn gắn trực tiếp với nâng cao năng lực quản trị và phát triển bền vững khu vực kinh tế tư nhân.

Trên cơ sở làm rõ vai trò của môi trường văn hóa doanh nghiệp và nhận diện những vấn đề đặt ra, bài viết đề xuất một số giải pháp phát triển môi trường văn hóa doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết 68-NQ/TW.

2. Môi trường văn hóa doanh nghiệp – nền tảng nội sinh của phát triển kinh tế tư nhân

Văn hóa doanh nghiệp là hệ thống các giá trị, niềm tin, chuẩn mực và cách ứng xử được chia sẻ trong tổ chức. Theo Denison và Mishra (1995), văn hóa tổ chức được phản ánh qua bốn đặc trưng: sự tham gia, tính nhất quán, khả năng thích ứng và sứ mệnh [2].

Từ góc độ đó, có thể hiểu môi trường văn hóa doanh nghiệp là tổng thể những điều kiện về tổ chức, quản trị, quan hệ và chuẩn mực ứng xử tạo ra bối cảnh để các giá trị của doanh nghiệp được hình thành, duy trì và chuyển hóa thành hành vi.

Theo đó, môi trường văn hóa không chỉ được tạo nên bởi các giá trị được tuyên bố mà còn được thể hiện qua phương thức lãnh đạo, quản trị, quan hệ giữa các thành viên và cách thức doanh nghiệp tổ chức, điều hành hoạt động. Một môi trường văn hóa tích cực còn góp phần hình thành niềm tin, tăng cường sự gắn kết, thúc đẩy tinh thần trách nhiệm và tạo động lực để mỗi thành viên chủ động đóng góp vào mục tiêu chung của doanh nghiệp.

Trong yêu cầu phát triển kinh tế tư nhân theo Nghị quyết 68-NQ/TW, môi trường văn hóa doanh nghiệp cần được kiến tạo theo hướng chuyên nghiệp trong quản trị, nhân văn trong quan hệ và hiện đại trong tư duy, đồng thời gắn với đạo đức, liêm chính, đổi mới sáng tạo và trách nhiệm xã hội. Đây là nền tảng để các giá trị được chuyển hóa thành chuẩn mực và hành vi nhất quán, qua đó tạo nguồn lực nội sinh nâng cao năng lực quản trị, sức cạnh tranh và khả năng phát triển bền vững của doanh nghiệp. Vì vậy, xây dựng môi trường văn hóa không chỉ là yêu cầu về phương diện ứng xử nội bộ mà còn là một bộ phận của năng lực quản trị và năng lực cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường hiện đại.

3. Những vấn đề đặt ra đối với môi trường văn hóa doanh nghiệp

Thực tiễn phát triển doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam cho thấy văn hóa doanh nghiệp ngày càng được quan tâm, song việc kiến tạo môi trường văn hóa vẫn chưa đồng đều và chưa thực sự trở thành một bộ phận hữu cơ của quản trị doanh nghiệp. Nghị quyết 68-NQ/TW chỉ ra một số hạn chế của khu vực kinh tế tư nhân như quy mô còn nhỏ, năng lực quản trị và công nghệ còn hạn chế, năng lực đổi mới sáng tạo chưa cao, tư duy kinh doanh ở một bộ phận doanh nghiệp còn thiếu tầm nhìn chiến lược [1]. Đồng thời, Nghị quyết đặt yêu cầu xây dựng đội ngũ doanh nhân có đạo đức, văn hóa kinh doanh, bản lĩnh, trí tuệ, năng động, sáng tạo, thượng tôn pháp luật và trách nhiệm xã hội [1].

Trước hết, nhận thức và cách thức tổ chức văn hóa doanh nghiệp ở một bộ phận doanh nghiệp còn thiên về hình thức. Giá trị cốt lõi, chuẩn mực ứng xử hoặc quy tắc văn hóa ở một số nơi chưa được gắn chặt với hoạt động quản trị, điều hành và đánh giá con người. Văn hóa vì vậy có nguy cơ dừng ở khẩu hiệu, hoạt động tập thể hoặc các quy định mang tính tuyên bố, trong khi chưa được chuyển hóa đầy đủ thành chuẩn mực hành vi trong tuyển dụng, phân công, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật và giải quyết công việc. Thực trạng này làm xuất hiện khoảng cách giữa giá trị doanh nghiệp tuyên bố và văn hóa được thực hành trong thực tế.

Thứ hai, tính chuyên nghiệp trong quản trị và năng lực quản trị hiện đại còn là điểm cần tiếp tục được nâng cao, nhất là ở nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa. Thực tiễn được Bộ Tài chính phản ánh cho thấy nhiều doanh nghiệp tư nhân phát triển từ hộ kinh doanh gia đình nên còn hạn chế về quản trị dòng tiền, nhân lực, khách hàng; quy mô nhỏ cũng làm giảm khả năng thu hút nhân lực chất lượng cao. Đây không chỉ là vấn đề về kỹ năng quản trị mà còn liên quan trực tiếp đến việc hình thành môi trường làm việc chuyên nghiệp, có kỷ luật, trách nhiệm và minh bạch.

Thứ ba, vai trò của người lãnh đạo trong định hình và duy trì văn hóa doanh nghiệp chưa được phát huy đầy đủ. Trong thực tế, nhân viên không chỉ tiếp nhận văn hóa qua các văn bản, quy tắc mà còn nhận diện văn hóa thông qua cách người lãnh đạo ra quyết định, phân công công việc, đánh giá, khen thưởng, xử lý vi phạm và ứng xử với người lao động. Vì vậy, nếu hành vi của lãnh đạo thiếu nhất quán với các giá trị được tuyên bố thì hiệu lực của hệ giá trị sẽ suy giảm. Yêu cầu này càng có ý nghĩa khi Nghị quyết 68-NQ/TW nhấn mạnh việc xây dựng đội ngũ doanh nhân có đạo đức, văn hóa kinh doanh, thượng tôn pháp luật và trách nhiệm xã hội.

Thứ tư, yêu cầu đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển bền vững đang đặt ra những chuẩn mực văn hóa mới. Nghị quyết 68 xác định kinh tế tư nhân phải trở thành lực lượng tiên phong trong khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời yêu cầu tạo môi trường kinh doanh minh bạch, ổn định và khuyến khích khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo. Điều đó đòi hỏi doanh nghiệp không chỉ đầu tư vào công nghệ mà còn phải hình thành văn hóa học tập, chia sẻ tri thức, chấp nhận thử nghiệm có kiểm soát, khuyến khích sáng kiến và chủ động thích ứng với thay đổi.

Từ những vấn đề trên, kiến tạo môi trường văn hóa doanh nghiệp trong giai đoạn thực hiện Nghị quyết 68-NQ/TW cần chuyển từ tư duy xây dựng hình ảnh, khẩu hiệu sang xây dựng hệ thống giá trị và chuẩn mực có khả năng chi phối thực tế quản trị và hành vi. Trọng tâm là hình thành môi trường chuyên nghiệp trong quản trị, nhân văn trong quan hệ, hiện đại trong tư duy, đồng thời gắn chặt với đạo đức, liêm chính, đổi mới sáng tạo và trách nhiệm xã hội. Đây là điều kiện quan trọng để các yêu cầu của Nghị quyết 68 được chuyển hóa thành năng lực nội sinh của doanh nghiệp, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển nhanh, lành mạnh, hiệu quả và bền vững.

4. Phát triển môi trường văn hóa doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết 68-NQ/TW

Thứ nhất, xác lập hệ giá trị cốt lõi và chuẩn mực hành vi phù hợp với định hướng phát triển

Doanh nghiệp cần xác lập hệ giá trị cốt lõi phù hợp với mục tiêu, đặc điểm hoạt động và định hướng phát triển, trong đó chú trọng chính trực, trách nhiệm, hợp tác, đổi mới, hiệu quả và phát triển bền vững. Mỗi giá trị cần được cụ thể hóa thành những chuẩn mực và hành vi có thể nhận diện trong công việc hằng ngày, làm cơ sở thống nhất nhận thức và ứng xử của các thành viên. Hệ giá trị phải được phổ biến, trao đổi và thực hành thường xuyên, qua đó chuyển các giá trị được tuyên bố thành chuẩn mực ứng xử thực tế. Đây là cơ sở hình thành môi trường văn hóa chuyên nghiệp trong quản trị, nhân văn trong quan hệ và hiện đại trong tư duy.

Thứ hai, phát huy vai trò nêu gương của người lãnh đạo trong định hình môi trường văn hóa

Người lãnh đạo có vai trò trực tiếp định hình và lan tỏa các giá trị văn hóa thông qua cách thức ra quyết định, tổ chức công việc và ứng xử với người lao động. Vì vậy, lãnh đạo doanh nghiệp cần nhất quán giữa điều nói và việc làm; thực hiện công bằng, minh bạch, tôn trọng, trách nhiệm và tuân thủ pháp luật trong quản trị. Đồng thời, cần chủ động lắng nghe, đối thoại, khuyến khích sáng kiến và tạo điều kiện để người lao động tham gia vào quá trình cải tiến hoạt động. Sự nêu gương của lãnh đạo không chỉ củng cố niềm tin mà còn tạo chuẩn mực trực quan, góp phần hình thành môi trường văn hóa tích cực và thống nhất trong toàn doanh nghiệp.

Thứ ba, kiến tạo môi trường làm việc chuyên nghiệp, nhân văn và khuyến khích sự gắn kết

Doanh nghiệp cần tạo dựng môi trường làm việc trong đó mỗi thành viên được tôn trọng, đối xử công bằng, có cơ hội phát huy năng lực và được khuyến khích đóng góp vào mục tiêu chung. Môi trường đó cần bảo đảm sự rõ ràng về trách nhiệm, minh bạch trong trao đổi thông tin, hiệu quả trong phối hợp và văn minh trong giao tiếp; đồng thời hạn chế các biểu hiện áp đặt, thiếu tôn trọng, phân biệt đối xử hoặc cạnh tranh không lành mạnh. Cùng với điều kiện làm việc phù hợp, doanh nghiệp cần xây dựng văn hóa đối thoại, hợp tác và chia sẻ, tạo sự gắn kết giữa người lao động với tổ chức. Kiến tạo được môi trường như vậy sẽ tạo điều kiện để các giá trị văn hóa được trải nghiệm và thực hành thường xuyên, biến văn hóa từ những quy định trên giấy thành đặc trưng thực tế của doanh nghiệp.

Thứ tư, xây dựng cơ chế quản trị bảo đảm các giá trị văn hóa được thực thi và duy trì

Để các giá trị văn hóa không dừng lại ở tuyên bố, doanh nghiệp cần thiết lập cơ chế quản trị bảo đảm việc thực thi thống nhất trong toàn tổ chức. Các nguyên tắc về minh bạch, trách nhiệm, công bằng, hợp tác và tuân thủ cần được phản ánh trong quy trình ra quyết định, phân công và phối hợp công việc, đánh giá kết quả, khen thưởng, kỷ luật và kiểm soát nội bộ. Doanh nghiệp cần duy trì cơ chế giám sát, phản hồi và điều chỉnh để kịp thời phát hiện những biểu hiện lệch chuẩn, đồng thời ghi nhận và khuyến khích hành vi phù hợp với giá trị cốt lõi. Khi các giá trị được bảo đảm bằng cơ chế quản trị cụ thể và thực hiện nhất quán, khoảng cách giữa giá trị tuyên bố và văn hóa thực tế sẽ từng bước được thu hẹp.

Thứ năm, xây dựng văn hóa học tập, đổi mới sáng tạo và thích ứng với chuyển đổi số

Trước yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, doanh nghiệp cần hình thành môi trường khuyến khích học tập, chia sẻ tri thức, chủ động ứng dụng công nghệ và đề xuất sáng kiến. Cần tạo điều kiện để người lao động thử nghiệm những cách làm mới trong phạm vi kiểm soát, coi trọng việc rút kinh nghiệm và cải tiến liên tục thay vì chỉ duy trì phương thức làm việc cũ. Chuyển đổi số vì vậy không chỉ là đầu tư công nghệ mà còn là quá trình thay đổi tư duy, thói quen, phương thức phối hợp và năng lực thích ứng của tổ chức. Đây là điều kiện để môi trường văn hóa doanh nghiệp trở thành động lực thúc đẩy đổi mới và nâng cao sức cạnh tranh.

Thứ sáu, xây dựng văn hóa kinh doanh gắn với đạo đức, liêm chính và trách nhiệm xã hội

Doanh nghiệp cần coi đạo đức, liêm chính, thượng tôn pháp luật và trách nhiệm xã hội là những thành tố quan trọng của môi trường văn hóa. Các chuẩn mực liêm chính cần được thực hiện trong quan hệ với người lao động, khách hàng, đối tác và các cơ quan nhà nước; đồng thời đề cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình, bảo vệ môi trường và thực hiện trách nhiệm với cộng đồng. Việc kết hợp giữa hiệu quả kinh doanh với chuẩn mực đạo đức và trách nhiệm xã hội không chỉ góp phần phòng ngừa các hành vi lệch chuẩn mà còn củng cố uy tín, niềm tin và nền tảng phát triển bền vững của doanh nghiệp.

5. Kết luận

Nghị quyết 68-NQ/TW đặt ra yêu cầu mới đối với phát triển văn hóa doanh nghiệp, gắn tăng trưởng với quản trị chuyên nghiệp, đổi mới sáng tạo, đạo đức, liêm chính và trách nhiệm xã hội. Khi các giá trị được chuyển hóa thành chuẩn mực và hành vi nhất quán, môi trường văn hóa sẽ trở thành nguồn lực nội sinh, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững. Qua đó, doanh nghiệp tư nhân không chỉ nâng cao hiệu quả hoạt động mà còn củng cố niềm tin, trách nhiệm và vị thế trong quá trình phát triển kinh tế đất nước.

ThS. Nguyễn Thị Hạnh

Khoa Nhà nước và Pháp luật, Trường Chính trị tỉnh Thanh Hóa

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân. 2. Denison, D. R. & Mishra, A. K. (1995), "Toward a Theory of Organizational Culture and Effectiveness", Organization Science, 6(2), pp. 204–223. 

 3. Schein, E. H. (2010), Organizational Culture and Leadership, 4th Edition, Jossey-Bass, San Francisco. 

 4.  Kotter, J. P. & Heskett, J. L. (1992), Corporate Culture and Performance, Free Press, New York.