logo
ISSN 2734-9020

Phó Thủ tướng chỉ đạo về tuyến đường vành đai 349 km, đi qua 7 tỉnh thành

Chủ nhật, 05/07/2026 - 16:13

Đường Vành đai 5 vùng Thủ đô được đề xuất đầu tư với chiều dài khoảng 349 km, đi qua 7 tỉnh, thành phố gồm Hà Nội, Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Nguyên và Phú Thọ.

Chiều 4/7, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc làm việc với Bộ Xây dựng và một số bộ, ngành liên quan, cùng 7 tỉnh, thành phố (Hà Nội, Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Phú Thọ) về công tác chuẩn bị dự án đầu tư đường Vành đai 5 vùng Thủ đô.

Kết nối 6 tuyến cao tốc và khu vực tới cảng Hải Phòng

Theo báo cáo của Bộ Xây dựng, hành lang kinh tế gắn với Vành đai 5 có vai trò đặc biệt quan trọng đối với vùng Thủ đô nói chung và Hà Nội nói riêng. Tuyến đường sẽ kết nối các hành lang Đông-Tây và các trục hướng tâm của Thủ đô, tạo động lực lan tỏa phát triển kinh tế-xã hội toàn khu vực.

Khu vực có đường Vành đai 5 đi qua hiện là vùng có tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa và phát triển dịch vụ, logistics nhanh nhất cả nước, với tổng dân số khoảng 31 triệu người (chiếm 27% dân số quốc gia) và đóng góp khoảng 32% GDP cả nước. Tuyến đường cũng sẽ kết nối 6 tuyến cao tốc hướng tâm và kết nối khu vực tới cảng biển Hải Phòng.

Dự án có tổng chiều dài khoảng 349 km, đi qua địa bàn 7 tỉnh, thành phố gồm: Hà Nội, Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Nguyên và Phú Thọ.

Phó Thủ tướng chỉ đạo về tuyến đường vành đai 349 km, đi qua 7 tỉnh thành- Ảnh 1.

Bản đồ vị trí đường Vành đai 5 vùng Thủ đô theo quy hoạch.

Tuyến chính được thiết kế với quy mô 6 làn xe cao tốc, bề rộng 32,25 m. Dọc tuyến sẽ có đường song hành tối thiểu đạt tiêu chuẩn đường cấp III, 2 làn xe. Riêng các đoạn qua địa hình đồi núi tại Phú Thọ và Thái Nguyên chỉ đầu tư đường gom để kết nối giao thông địa phương.

Ngoài ra, dự án còn xây dựng 45 nút giao liên thông, hệ thống giao thông thông minh, trung tâm quản lý-điều hành giao thông và các trạm dừng nghỉ hiện đại, đồng bộ. Phương án tuyến đã được cả 7/7 tỉnh, thành phố thống nhất và cập nhật vào quy hoạch địa phương.

Đề xuất 10 nhóm cơ chế, chính sách đặc thù để triển khai dự án

Bộ Xây dựng cũng đề xuất 10 nhóm cơ chế, chính sách đặc thù để triển khai dự án.

Trong đó, 7 nhóm cơ chế đã được Quốc hội cho phép áp dụng tại một số dự án hạ tầng trước đây, gồm các nội dung về quyết định chủ trương đầu tư, cân đối vốn, bồi thường, hỗ trợ tái định cư, chuyển mục đích sử dụng rừng, xử lý chất thải xây dựng và chỉ định thầu.

3 nhóm cơ chế được đề xuất áp dụng riêng cho dự án gồm điều chỉnh các quy hoạch liên quan, điều chỉnh phạm vi và hình thức đầu tư, cùng giải quyết các vướng mắc đối với các dự án BOT.

Phó Thủ tướng chỉ đạo về tuyến đường vành đai 349 km, đi qua 7 tỉnh thành- Ảnh 2.

Tại cuộc họp, lãnh đạo Bộ Tài chính và 7 tỉnh, thành phố thống nhất cho rằng Dự án đường Vành đai 5 vùng Thủ đô được kỳ vọng sẽ mở rộng không gian phát triển đô thị và công nghiệp, đáp ứng nhu cầu vận tải ngày càng tăng và giảm ùn tắc giao thông cho khu vực phía bắc.

Các đại biểu đã trao đổi về phương thức, cơ chế đầu tư tuyến chính cao tốc, sự tham gia của các địa phương để xây dựng đường song hành và thực hiện công tác giải phóng mặt bằng.

Kết luận cuộc họp, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc cho biết, việc đầu tư xây dựng tuyến đường Vành đai 5 vùng Thủ đô là nhiệm vụ ưu tiên, cần được nghiêm túc tổ chức thực hiện sớm.

Phó Thủ tướng Thường trực nêu rõ, khi dự án đường Vành đai 5 hoàn thành sẽ tác động tích cực, sâu rộng đến phát triển kinh tế-xã hội của toàn vùng Thủ đô.

Dự án không chỉ phục vụ lợi ích từng địa phương mà vì lợi ích tổng thể của quốc gia và của vùng. Sự phát triển của mỗi địa phương phải dựa trên nền tảng phát triển chung của cả vùng.

Phó Thủ tướng Thường trực đề nghị 7 tỉnh, thành phố thống nhất quyết tâm tự bảo đảm nguồn vốn đầu tư đường song hành và giải phóng mặt bằng theo nhiệm vụ được giao.

Bộ Xây dựng được giao nghiên cứu tiếp thu các ý kiến tại cuộc họp, rà soát kỹ lưỡng tổng mức đầu tư của dự án, bảo đảm cân đối với suất đầu tư bình quân trên 1 km của các tuyến cao tốc khác trong cả nước, có tính đến biến động giá nguyên vật liệu thời gian gần đây; xác định cơ cấu vốn và nhu cầu phù hợp với tiến độ, phân kỳ đầu tư của từng giai đoạn; phân tích rõ ưu, nhược điểm của hai hình thức đầu tư theo phương thức hợp tác công tư (PPP) và đầu tư công.

Sau khi Bộ Xây dựng xác định rõ tổng mức đầu tư và phân kỳ vốn, Bộ Tài chính cần báo cáo cụ thể khả năng cân đối, bổ sung nguồn lực.

Phương Vy