logo
ISSN 2734-9020

Sắp xếp đơn vị hành chính, xây dựng mô hình chính quyền địa phương hai cấp - Sự vận dụng đúng đắn mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị

Thứ sáu, 25/09/2026 - 14:13

Bài viết phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính, xây dựng mô hình chính quyền địa phương hai cấp dưới góc nhìn giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Trên cơ sở đó, bài viết làm rõ tính tất yếu của chủ trương nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia và quản trị địa phương, tạo nền tảng thể chế cho đổi mới mô hình phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Thông qua phân tích kết quả bước đầu sau một năm triển khai trên phạm vi cả nước và tại tỉnh Ninh Bình, bài viết đánh giá những chuyển biến về tổ chức bộ máy và hiệu quả quản trị, qua đó cho thấy việc sắp xếp đơn vị hành chính và xây dựng mô hình chính quyền địa phương hai cấp là sự vận dụng mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong quá trình tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Từ khóa: đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; sắp xếp đơn vị hành chính; chính quyền địa phương hai cấp; hiệu quả quản trị.

Abstract: This article analyzes the theoretical and practical foundations of the policy on administrative unit reorganization and the establishment of the two-tier local government model from the perspective of addressing the relationship between economic reform and political reform. On that basis, it clarifies the necessity of this policy in enhancing the effectiveness and efficiency of national and local governance, while creating an institutional foundation for a new development model driven by science and technology, innovation, and digital transformation. Through an analysis of the initial results achieved after one year of implementation nationwide and in Ninh Binh Province, the article evaluates changes in organizational structure and governance effectiveness. The findings demonstrate that administrative unit reorganization and the establishment of the two-tier local government model represent the application of the relationship between economic reform and political reform in the ongoing process of improving the Socialist Rule-of-Law State of Vietnam.

Keywords: economic reform and political reform; administrative unit reorganization; two-tier local government model; governance effectiveness.

1. Mở đầu

Trong tiến trình đổi mới đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định phương châm "kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị"[1]. Từ thực tiễn lãnh đạo công cuộc đổi mới, mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi

mới chính trị đã được Đảng đúc kết thành một trong mười mối quan hệ lớn cần

nhận thức sâu sắc và xử lý hài hòa trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Sự vận dụng sáng tạo, đúng đắn mối quan hệ này đã góp phần quan trọng đưa đất nước đạt được những thành tựu to lớn mang tầm vóc lịch sử. Từ nước nghèo, kém phát triển, sau bốn thập kỷ kiên trì đổi mới, đến năm 2025 Việt Nam đã trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình cao, với GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD, quy mô kinh tế đạt 514 tỷ USD, đưa Việt Nam trở thành nền kinh tế lớn thứ tư Đông Nam Á và xếp thứ 32 thế giới[2].

Mặc dù đã đạt được những kết quả quan trọng mang tính bước ngoặt, song trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cùng với quyết tâm hiện thực hoá hai mục tiêu chiến lược 100 năm của Đảng, Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải có những đột phá nhằm tiếp tục giải phóng sức sản xuất, khơi thông mọi nguồn lực cho sự phát triển nhanh và bền vững. Đặt trong xu thế đó, quyết sách tinh gọn, sắp xếp đơn vị hành chính đi đôi với việc thiết lập mô hình chính quyền địa phương hai cấp được xác định là một giải pháp hoàn thiện thể chế mang tính then chốt. Quyết sách này không chỉ góp phần đổi mới phương thức quản trị quốc gia, quản trị địa phương, nâng cao hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị mà còn tạo nền tảng quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, mở đường cho Việt Nam hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

2. Nội dung

2.1. Cơ sở lý luận của chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính và xây dựng mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính và xây dựng mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam xuất phát từ yêu cầu xử lý hài hòa mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong điều kiện phát triển mới của đất nước. Theo thế giới quan duy vật lịch sử, mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị là biểu hiện tập trung của mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, trong đó kinh tế giữ vai trò quyết định đối với chính trị. V.I.Lênin khẳng định: "Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế"[3], "Chính trị tức là kinh tế được cô đọng lại"[4]. Do đó, trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, khi lực lượng sản xuất mới không ngừng vận động và phát triển thì kiến trúc thượng tầng, đặc biệt là bộ máy hành chính nhà nước, cũng phải được điều chỉnh tương ứng nhằm xóa bỏ rào cản, tạo môi trường tốt nhất cho các nguồn lực kinh tế được huy động và sử dụng hiệu quả nhất.

Ở chiều ngược lại, chính trị không thụ động mà có tính độc lập tương đối, có khả năng định hướng hoặc kìm hãm sự phát triển kinh tế. V.I.Lênin nhấn mạnh: "Chính trị không thể không chiếm địa vị hàng đầu so với kinh tế"[5]. Điều đó cho thấy chính trị không chỉ phản ánh kinh tế mà còn tác động mạnh mẽ đến quá trình phát triển kinh tế thông qua hoạt động của hệ thống chính trị, đặc biệt là vai trò quản lý, điều hành, kiến tạo phát triển của nhà nước. Một bộ máy công quyền được tổ chức tinh gọn, khoa học và phù hợp với yêu cầu phát triển của mô hình kinh tế mới sẽ nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực, tạo động lực tăng trưởng và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Ngược lại, một cấu trúc hành chính phân tán, chồng chéo về chức năng và nhiệm vụ sẽ tạo ra lực cản lớn, kìm hãm các động lực phát triển.

Là người học trò xuất sắc của chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý đến sự tác động qua lại giữa kinh tế và chính trị. Người cho rằng việc xử lý đúng đắn mối quan hệ này là một trong những điều kiện quan trọng bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Vì thế, ngay sau khi giành được độc lập, đất nước đứng trước muôn vàn khó khăn, đặc biệt là nạn đói và tình trạng kiệt quệ về kinh tế, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ ngày 3/9/1945, Hồ Chí Minh đã xác định chống nạn đói và phát triển sản xuất là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu. Người chỉ rõ: "Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ"[6]. Bởi lẽ, mục tiêu của độc lập dân tộc, xét đến cùng phải gắn liền với việc chăm lo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân. Mọi hoạt động chính trị, theo Người đều phải hướng tới phục vụ lợi ích tối cao đó. Ngay sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, Người càng đặc biệt quan tâm đến nhiệm vụ xây dựng nền kinh tế vững mạnh theo định hướng xã hội chủ nghĩa, coi đó là tiền đề quan trọng cho sự phát triển toàn diện các lĩnh vực khác trong đời sống xã hội.

Bên cạnh khẳng định vai trò nền tảng của kinh tế đối với chính trị, theo Hồ Chí Minh chính trị cũng có vai trò rất quan trọng - chính trị lãnh đạo kinh tế. Người nói: "Phải nhớ là chính trị đi đầu, chính trị tốt thì sản xuất mới tốt được"[7]. Do đó, trong quá trình phát triển đất nước, cần phát huy mạnh mẽ vai trò lãnh đạo của Đảng và năng lực quản lý, điều hành của Nhà nước. Không có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, không có lý luận cách mạng dẫn đường và không có Nhà nước xã hội chủ nghĩa làm công cụ đắc lực thì không thể phát triển được kinh tế, tạo lập cơ sở hạ tầng mới. Tư tưởng đó đã trở thành cơ sở lý luận quan trọng cho việc xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, gắn bó mật thiết với Nhân dân và đáp ứng tốt hơn yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay.

Quán triệt và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định phải giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Đây không chỉ là yêu cầu mang tính nguyên tắc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, mà còn là nền tảng cốt lõi cho sự phát triển bền vững của đất nước.

Thực tiễn công cuộc đổi mới cho thấy, xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị là nhân tố quan trọng tạo nên những chuyển biến to lớn của đất nước. Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế – xã hội nghiêm trọng những năm đầu đổi mới, Đảng ta đã thể hiện tầm nhìn chiến lược khi ưu tiên đổi mới tư duy và cơ chế quản lý kinh tế, chuyển từ mô hình kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Chủ trương đó đã khơi thông các nguồn lực xã hội, phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống Nhân dân, tạo nền tảng cho những giai đoạn phát triển tiếp theo.

Tuy nhiên, Đảng ta sớm nhận thức sâu sắc rằng đổi mới kinh tế không thể tách rời đổi mới chính trị. Quan điểm "Đồng thời với đổi mới kinh tế, phải từng bước đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị…"[8] phản ánh tư duy đổi mới toàn diện, bảo đảm sự vận động đồng bộ giữa kinh tế và chính trị trong tiến trình phát triển đất nước. Nhờ đó, tổ chức bộ máy nhà nước và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị từng bước được sắp xếp theo hướng tinh gọn, hiệu quả hơn; năng lực quản lý, điều hành của Nhà nước được nâng cao; dân chủ xã hội tiếp tục được phát huy và môi trường chính trị – xã hội được giữ vững ổn định, tạo tiền đề cho tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội.

Bước sang giai đoạn phát triển mới, khi nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, toàn diện, Đảng tiếp tục phát triển tư duy lý luận, làm rõ hơn vai trò then chốt của hiệu quả quản trị quốc gia và chất lượng hoạt động của bộ máy nhà nước đối với phát triển kinh tế – xã hội. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới phương thức tổ chức và vận hành của hệ thống chính trị, đồng thời phát huy vai trò chủ động của các địa phương trong quản lý và phát triển kinh tế – xã hội.

Trên tinh thần đó, nhiều nghị quyết quan trọng của Trung ương đã được ban hành, thể hiện quyết tâm chính trị cao của Đảng trong việc sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng "tinh - gọn - mạnh", nâng cao hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, xây dựng nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp, phục vụ Nhân dân, đồng thời tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới. Trong đó, Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về "Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả" và Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về "tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới" là những minh chứng tiêu biểu. Các nghị quyết này không chỉ thể hiện quyết tâm khắc phục tình trạng cồng kềnh, chồng chéo chức năng, nhiệm vụ mà còn khẳng định yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực và đề cao trách nhiệm của chính quyền địa phương. Đây là cơ sở chính trị - pháp lý quan trọng cho việc sắp xếp đơn vị hành chính và xây dựng mô hình chính quyền địa phương hai cấp, góp phần nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia trong kỷ nguyên mới.

2.2. Cơ sở thực tiễn của chủ trươnng sắp xếp đơn vị hành chính, xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Không chỉ dựa trên nền tảng lý luận, chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính và xây dựng mô hình chính quyền địa phương hai cấp còn là yêu cầu khách quan của thực tiễn giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam hiện nay. Sau bốn thập kỷ thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước được xây dựng và vận hành phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước. Đồng thời, những chuyển biến về kinh tế cũng tạo cơ sở và động lực cho quá trình đổi mới chính trị. Nếu như cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp trước đây dễ dẫn đến tâm lý thụ động, ỷ lại vào Nhà nước, làm hạn chế tính chủ động và trách nhiệm cá nhân, thì quá trình chuyển sang cơ chế thị trường đã đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy, phương thức và phong cách hoạt động của các chủ thể trong hệ thống chính trị. Qua đó, từng bước hình thành tư duy quản lý năng động, xây dựng thiết chế nhà nước gần dân, sát thực tiễn và phát huy dân chủ trong đời sống xã hội.

Song song với quá trình đổi mới kinh tế, hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương cũng được sắp xếp, kiện toàn theo hướng tinh gọn và hiệu quả hơn. Các đầu mối trung gian được cắt giảm; chức năng, quyền hạn của các cơ quan, đơn vị ngày càng được phân định rõ ràng, hạn chế tình trạng chồng chéo trong quá trình thực thi công vụ. Việc tinh giản biên chế và sắp xếp đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý được triển khai phù hợp với yêu cầu cải cách tổ chức bộ máy nhà nước trong giai đoạn mới. Những chuyển biến đó đã nâng cao năng lực quản lý, điều hành của Nhà nước, củng cố hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền các cấp và tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Qua đó, đổi mới chính trị từng bước tạo nền tảng ổn định cho tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội.

Việc nắm vững và xử lý hài hòa mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là cơ sở then chốt để Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đất nước đạt được những thành tựu quan trọng trên các mặt kinh tế - xã hội và xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. Thực tiễn giai đoạn 2021 – 2025 tiếp tục khẳng định tính đúng đắn của sự kết hợp chặt chẽ này. Trong lĩnh vực kinh tế, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt khoảng 6,2%/năm, thuộc nhóm quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực; riêng năm 2025 đạt 8,02%. Quy mô nền kinh tế đạt trên 514 tỷ USD, GDP bình quân đầu người khoảng 5.026 USD, đưa Việt Nam gia nhập nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao. Cùng với đà tăng trưởng kinh tế, tiến bộ và công bằng xã hội tiếp tục được chú trọng, thể hiện qua việc đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân không ngừng được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều đến năm 2025 giảm còn khoảng 1,3%[9]. Trên lĩnh vực chính trị, tổ chức bộ máy nhà nước tiếp tục được kiện toàn theo hướng tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động; nền hành chính quốc gia từng bước được hiện đại hóa, đáp ứng yêu cầu quản trị trong giai đoạn mới. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội được củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động, phát huy ngày càng tốt hơn sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và vai trò làm chủ của Nhân dân.

Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới, đòi hỏi phải nhận diện và đánh giá đầy đủ những hạn chế vẫn còn tồn tại. Tăng trưởng kinh tế dù duy trì được nhịp độ khá nhưng chưa thực sự bền vững, còn phụ thuộc nhiều vào vốn đầu tư và lợi thế lao động giá rẻ. Giai đoạn 2021–2025, năng suất lao động tăng bình quân khoảng 5,3%, chưa đạt mục tiêu đề ra; hệ số ICOR khoảng 6,4 cho thấy hiệu quả sử dụng vốn đầu tư còn thấp[10]. Đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế vẫn diễn ra chậm, chưa tạo được chuyển biến rõ rệt về chất lượng và hiệu quả phát triển. Đồng thời, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo mặc dù được xác định là nhân tố quan trọng nhưng mức độ ứng dụng vào thực tiễn sản xuất, kinh doanh và quản lý còn hạn chế, vì vậy chưa thực sự trở thành nguồn lực dẫn dắt tăng trưởng kinh tế.

Những hạn chế trên phản ánh rằng quá trình đổi mới hệ thống chính trị ở một số lĩnh vực vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Thực tiễn cho thấy, ở một số địa phương, quy mô đơn vị hành chính cấp tỉnh còn nhỏ, dẫn đến sự phân tán nguồn lực, hạn chế khả năng khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế phát triển theo không gian vùng. Bộ máy quản lý nhà nước ở một số nơi còn cồng kềnh, chức năng, nhiệm vụ giữa các cấp, các ngành chưa được phân định thật rõ ràng, vẫn còn tình trạng chồng chéo, làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản trị và hạn chế khả năng huy động, phân bổ nguồn lực xã hội... Những bất cập này đã tác động tiêu cực đến chất lượng quản trị quốc gia, năng lực điều hành và hiệu quả thực thi chính sách trong thực tiễn.

2.3. Kết quả triển khai và chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính, xây dựng chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi cả nước và tại tỉnh Ninh Bình

Triển khai thực hiện chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính và xây dựng mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã tạo ra những chuyển biến quan trọng trong tổ chức bộ máy và hoạt động quản trị từ Trung ương đến địa phương. Sau sắp xếp, cả nước giảm từ 63 xuống còn 34 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; số đơn vị hành chính cấp xã được điều chỉnh từ hơn 10.000 xuống còn 3.321 đơn vị (giảm gần 67%); đồng thời chấm dứt hoạt động của 696 đơn vị hành chính cấp huyện[11]. Việc bỏ cấp trung gian đã tạo điều kiện đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho địa phương, nhất là cấp cơ sở. Trong tổng số 1.377 nhiệm vụ được phân định thẩm quyền có đến 949 nhiệm vụ thuộc về địa phương; riêng cấp xã đảm nhiệm gần 74% số nhiệm vụ được phân cấp. Cùng với đó, tỷ lệ thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của địa phương tăng lên 56% (vượt hơn 23% so với trước đây)[12]. Những thay đổi về tổ chức bộ máy không chỉ góp phần tiết kiệm chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước, mà còn tạo cơ sở để tiếp tục đổi mới phương thức quản trị và nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương.

Sau một năm thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, bộ máy nhà nước từ Trung ương đến cơ sở cơ bản hoạt động ổn định, thông suốt, bảo đảm tính liên tục trong quản lý, điều hành và phục vụ Nhân dân. Công tác phân cấp, phân quyền tiếp tục được đẩy mạnh, gắn với cải cách hành chính và chuyển đổi số, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia. Đến ngày 15/6/2026, cả nước đã tiếp nhận trên 42,5 triệu hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính, trong đó tỷ lệ hồ sơ nộp trực tuyến đạt 91,74%, tỷ lệ giải quyết đúng hạn trên 95%. Kết quả khảo sát cũng cho thấy mức độ hài lòng chung của người dân đạt 83,08%; đồng thời, 89,09%[13] người được hỏi đánh giá tình trạng công chức sách nhiễu, gây phiền hà trong quá trình giải quyết công việc cơ bản đã được khắc phục. Những chuyển biến tích cực về tổ chức bộ máy, cải cách hành chính và chất lượng phục vụ đã góp phần tạo môi trường thể chế thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh đó, tổng sản phẩm trong nước (GDP) sáu tháng đầu năm 2026 tăng 8,18%, mức cao nhất của cùng kỳ trong 15 năm[14], cho thấy nền kinh tế tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực.

Tại tỉnh Ninh Bình, chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính đã được cụ thể hóa bằng việc tổ chức lại không gian phát triển và kiện toàn bộ máy chính quyền địa phương theo hướng tinh gọn, hiệu quả. Việc hợp nhất ba tỉnh Ninh Bình, Nam Định và Hà Nam thành tỉnh Ninh Bình, với trung tâm hành chính đặt tại phường Hoa Lư, đã hình thành một không gian phát triển mới có diện tích gần 4.000 km² và dân số trên 4,4 triệu người. Đồng thời, việc chấm dứt hoạt động của 20 đơn vị hành chính cấp huyện và giảm số đơn vị hành chính cấp xã từ 398 xuống còn 129[15] đã tạo điều kiện nâng cao hiệu quả phân cấp, phân quyền, tinh gọn đầu mối và phát huy tính chủ động của chính quyền cơ sở. Trên nền tảng đó, chất lượng quản trị và cung ứng dịch vụ công tiếp tục được cải thiện. Theo Báo cáo sơ kết một năm thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Bộ chỉ số phục vụ người dân, doanh nghiệp trong giải quyết thủ tục hành chính và cung cấp dịch vụ công của tỉnh đạt mức tuyệt đối 18/18 điểm; tỷ lệ hài lòng đối với việc xử lý phản ánh, kiến nghị đạt 100% và tỷ lệ hài lòng trong tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính đạt 95,61%[16]. Cùng với những chuyển biến về tổ chức bộ máy và môi trường quản trị, GRDP sáu tháng đầu năm 2026 của tỉnh tăng 11,44%, đứng đầu vùng Đồng bằng sông Hồng và xếp thứ hai cả nước[17], phản ánh những kết quả tích cực trong việc chuyển hóa đổi mới tổ chức bộ máy thành động lực phát triển kinh tế - xã hội.

Những kết quả bước đầu đạt được trên phạm vi cả nước và tại tỉnh Ninh Bình cho thấy chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính và xây dựng mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã tạo chuyển biến tích cực trong tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu quả quản trị và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Thực tiễn đó tiếp tục khẳng định tính đúng đắn của chủ trương của Đảng trong đổi mới hệ thống chính trị, đồng thời tạo nền tảng để phát huy hiệu quả mối quan hệ biện chứng giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.

3. Kết luận

Tóm lại, chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính và xây dựng mô hình chính quyền địa phương hai cấp là một đột phá thể chế mang tính chiến lược, thể hiện sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo mối quan hệ biện chứng giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay. Thực tiễn sinh động trên phạm vi cả nước nói chung và những thành tựu bước đầu mang tính bứt phá tại Ninh Bình nói riêng là minh chứng thuyết phục cho tính khoa học, tính đúng đắn và tính tất yếu của mô hình mới, tạo tiền đề vững chắc để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vững bước tiến vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc./.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam (2015): Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, t.55, tr.312.

(2), (9), (10) Đảng Cộng sản Việt Nam (2026): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 1, tr. 47; tr.52; tr.65.

(3), (5) V.I.Lênin (1977): Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcova, t.42, tr.349.

(4) V.I.Lênin (1977): Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcova, t.45, tr.147.

(6) Hồ Chí Minh (2002): Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, t4, tr.152.

(7) Hồ Chí Minh (2002): Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, t.9, tr.400.

(8) Đảng Cộng sản Việt Nam (1991): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự thật, Hà Nội, tr.54.

(11), (12) Thu Giang (2026): Cách mạng tinh gọn bộ máy, vận hành chính quyền địa phương hai cấp: Dấu ấn cải cách lịch sử, https://baochinhphu.vn, ngày 02/01/2026.

(13) Ban Chấp hành Trung ương (2026), Kỷ yếu Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp.

(14) Cục Thống kê Việt Nam (2026): "Thông cáo báo chí về tình hình kinh tế – xã hội quý II và sáu tháng đầu năm 2026", Trang Thông tin điện tử Cục Thống kê Việt Nam, ngày 03/7/2026, https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2026/07/thong-cao-bao-chi-ve-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-quy-ii-va-sau-thang-dau-nam-2026.

(15), (16) Tỉnh uỷ Ninh Bình (2026): Báo cáo số 148 -BC/TU sơ kết 1 năm vận hành bộ máy của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương 2 cấp.

(17) Thống kê tỉnh Ninh Bình (01/7/2026): "Tình hình kinh tế - xã hội tháng Sáu và sáu tháng đầu năm 2026", Thống kê Điện tử tỉnh Ninh Bình, ngày 01/7/2026, https://thongkeninhbinh.nso.gov.vn/tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi/16

 ThS. Phan Thị Hiền- ThS. Quách Đỉnh Phúc

Trường Chính trị tỉnh Ninh Bình