logo
ISSN 2734-9020

THỰC THI CHÍNH SÁCH BỒI DƯỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TẠI TRUNG TÂM CHÍNH TRỊ PHƯỜNG THANH XUÂN, HÀ NỘI: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Thứ hai, 05/10/2026 - 00:26

Bài viết phân tích thực thi chính sách bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên tại Trung tâm Chính trị phường Thanh Xuân, Hà Nội, tập trung vào các khâu lập kế hoạch, phổ biến chính sách, phân công và phối hợp, bảo đảm nguồn lực, tổ chức bồi dưỡng, kiểm tra và đánh giá.

. Nghiên cứu sử dụng phân tích, tổng hợp tài liệu kết hợp khảo sát thuận tiện 60 cán bộ, đảng viên đã tham gia bồi dưỡng. Trong mẫu khảo sát, 93,3% đánh giá tích cực về nội dung; 93,3% đánh giá tích cực về phương pháp giảng dạy; 93,3% đánh giá cơ sở vật chất và tài liệu ở mức đáp ứng tốt hoặc cơ bản đáp ứng; 91,7% tự đánh giá có thể vận dụng kiến thức ở mức tốt hoặc nhất định. Kết quả gợi mở yêu cầu tăng cường liên hệ thực tiễn, hỗ trợ vận dụng kiến thức và hoàn thiện cơ chế phản hồi sau bồi dưỡng. Bài viết đề xuất các giải pháp giai đoạn 2026–2030, chú trọng xác định nhu cầu, phối hợp giữa các chủ thể, chất lượng giảng dạy, nguồn lực và theo dõi kết quả sau khóa học.

Từ khóa: thực thi chính sách; bồi dưỡng lý luận chính trị; cán bộ, đảng viên; Trung tâm Chính trị phường Thanh Xuân.

1. Đặt vấn đề

Chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên có ý nghĩa trực tiếp đối với năng lực lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị ở cơ sở. Trong bối cảnh yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ ngày càng cao, bồi dưỡng lý luận chính trị không chỉ nhằm cung cấp, cập nhật kiến thức mà còn góp phần củng cố bản lĩnh chính trị, thống nhất nhận thức và nâng cao năng lực vận dụng lý luận vào thực tiễn công tác. Yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng học tập, nghiên cứu và vận dụng lý luận được thể hiện trong Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 09/02/2018 của Ban Bí thư (Ban Bí thư, 2018).

Trong chuỗi chính sách công, thực thi chính sách là giai đoạn chuyển hóa các mục tiêu và nội dung của chính sách thành những hoạt động cụ thể trong thực tế. Đối với chính sách bồi dưỡng lý luận chính trị, hiệu quả thực thi không chỉ thể hiện ở số lượng chương trình, lớp học hoặc số người được tham gia mà còn ở mức độ phù hợp của nội dung, chất lượng tổ chức, khả năng tiếp cận của đối tượng thụ hưởng và khả năng vận dụng kiến thức sau bồi dưỡng. Cách tiếp cận này kế thừa việc xem xét thực thi chính sách qua chủ thể, quy trình, điều kiện và các yếu tố ảnh hưởng (Lê Như Thanh & Lê Văn Hòa, 2016).

Quy định số 360-QĐ/TW ngày 29/8/2025 xác định chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của trung tâm chính trị xã, phường, đặc khu, trong đó có nhiệm vụ bồi dưỡng lý luận chính trị và cập nhật kiến thức, nghiệp vụ cho các đối tượng thuộc hệ thống chính trị ở cơ sở (Ban Bí thư, 2025). Tại Trung tâm Chính trị phường Thanh Xuân, việc nghiên cứu thực thi chính sách cần xem xét mối liên hệ giữa kế hoạch, đối tượng tham gia, hoạt động tổ chức lớp, nguồn lực và kết quả học tập. Đánh giá của người học cung cấp thông tin để điều chỉnh tổ chức bồi dưỡng.

Bài viết tập trung làm rõ kết quả thực thi chính sách bồi dưỡng lý luận chính trị tại Trung tâm Chính trị phường Thanh Xuân, xác định những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện và đề xuất giải pháp cho giai đoạn 2026–2030. Phân tích chú trọng kết nối giữa quá trình tổ chức thực hiện, đánh giá của người học và yêu cầu nâng cao khả năng vận dụng kiến thức sau bồi dưỡng.

2. Nội dung
2.1. Cơ sở phân tích và phương pháp nghiên cứu
2.1.1. Cơ sở phân tích

Bài viết tiếp cận bồi dưỡng lý luận chính trị dưới góc độ thực thi chính sách công. Theo đó, đánh giá thực thi không chỉ dừng ở kết quả đầu vào hoặc việc hoàn thành kế hoạch mà xem xét toàn bộ quá trình chuyển hóa chính sách thành hoạt động cụ thể và kết quả đối với đối tượng thụ hưởng. Cơ sở phân tích được tham khảo từ nghiên cứu về hoạch định, thực thi chính sách công và giám sát, đánh giá chính sách công (Lê Như Thanh & Lê Văn Hòa, 2016; Lê Văn Hòa, 2016).

Khung phân tích của bài viết gồm năm nhóm nội dung: (1) xây dựng kế hoạch triển khai; (2) phổ biến và tuyên truyền chính sách; (3) phân công và phối hợp giữa các chủ thể; (4) bảo đảm, sử dụng nguồn lực và tổ chức bồi dưỡng; (5) kiểm tra, đánh giá và tổng kết. Các yếu tố được xem xét gồm tính phù hợp và khả thi của chính sách, năng lực chủ thể thực thi, cơ chế phối hợp, nguồn lực và đặc điểm của người học. Khả năng vận dụng kiến thức sau khóa học được sử dụng như một chỉ báo về kết quả do người học tự đánh giá.

Cách tiếp cận này cho phép chuyển trọng tâm đánh giá từ câu hỏi "chính sách có được triển khai hay không" sang câu hỏi "chính sách được triển khai như thế nào và tạo ra kết quả gì đối với người thụ hưởng".

2.1.2. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu để xây dựng cơ sở phân tích từ các công trình về thực thi, giám sát và đánh giá chính sách công; đồng thời xem xét Chỉ thị số 23-CT/TW, Quy định số 360-QĐ/TW và thông tin công khai về các lớp bồi dưỡng tại Thanh Xuân năm 2025. Nguồn tài liệu được sử dụng để làm rõ căn cứ chính sách và minh họa hoạt động tổ chức thực hiện, kết hợp với khảo sát người học.

Phương pháp điều tra khảo sát được sử dụng để thu thập ý kiến của cán bộ, đảng viên đã tham gia các lớp bồi dưỡng tại Trung tâm. Đối tượng khảo sát được lựa chọn theo phương pháp thuận tiện, phù hợp với phạm vi nghiên cứu. Tổng số 60 phiếu được phát ra và thu về 60 phiếu hợp lệ, đạt tỷ lệ 100%. Phiếu khảo sát tập trung vào mức độ phù hợp của nội dung, phương pháp giảng dạy, điều kiện cơ sở vật chất và tài liệu, khả năng vận dụng kiến thức sau khóa học; đồng thời có câu hỏi mở nhằm thu thập đề xuất cải thiện.

Dữ liệu được tổng hợp bằng thống kê mô tả, sử dụng tần số và tỷ lệ phần trăm; tỷ lệ được làm tròn đến một chữ số thập phân. Do sử dụng mẫu thuận tiện, kết quả phản ánh ý kiến của 60 người trả lời và không được suy rộng cho toàn bộ cán bộ, đảng viên. Đánh giá về vận dụng kiến thức là thông tin tự báo cáo, chưa phải bằng chứng đo lường thay đổi năng lực hoặc hiệu quả công việc. Kết quả khảo sát được xem xét cùng phần phân tích tài liệu để nhận diện những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu.

2.2. Thực trạng thực thi chính sách bồi dưỡng lý luận chính trị
2.2.1. Tổ chức triển khai chính sách

Các thông tin công khai về hoạt động năm 2025 ghi nhận sự phối hợp giữa Đảng ủy các phường Thanh Xuân, Khương Đình và Phương Liệt trong tổ chức bồi dưỡng tại Trung tâm Chính trị khu vực Thanh Xuân. Lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng đợt III/2025 khai mạc ngày 18/9/2025 là một minh chứng về phối hợp tổ chức lớp giữa các địa bàn (Trung tâm Chính trị khu vực Thanh Xuân, 2025a).

Ngày 24/9/2025, lớp bồi dưỡng lý luận chính trị dành cho đảng viên mới đợt III/2025 tiếp tục được tổ chức tại Trung tâm với sự phối hợp của Đảng ủy ba phường (Trung tâm Chính trị khu vực Thanh Xuân, 2025b). Các hoạt động này cho thấy việc tổ chức lớp và phối hợp giữa các địa bàn đã được triển khai. Tuy nhiên, thông tin về khai mạc lớp chưa đủ để khẳng định mức độ đồng bộ hoặc hiệu quả của toàn bộ quá trình thực thi; cần đối chiếu thêm hồ sơ kế hoạch, phân công, nguồn lực và kết quả kiểm tra, đánh giá.

Vì vậy, đánh giá về tổ chức thực hiện cần được phân biệt với đánh giá về kết quả học tập và vận dụng. Những khâu như xác định nhu cầu, theo dõi sau bồi dưỡng và sử dụng phản hồi để điều chỉnh kế hoạch cần được xem xét cùng các kết quả khảo sát dưới đây.

2.2.2. Mức độ phù hợp của nội dung bồi dưỡng

Kết quả khảo sát 60 người cho thấy 27 người, chiếm 45,0%, đánh giá nội dung bồi dưỡng "rất phù hợp"; 29 người, chiếm 48,3%, đánh giá "phù hợp"; 3 người, chiếm 5,0%, đánh giá "bình thường"; 1 người, chiếm 1,7%, đánh giá "chưa phù hợp". Như vậy, 93,3% số người được khảo sát đánh giá nội dung ở mức rất phù hợp hoặc phù hợp.

Bảng 1. Đánh giá về mức độ phù hợp của nội dung bồi dưỡng

Phương án

Số ý kiến

Tỷ lệ (%)

Rất phù hợp

27

45,0

Phù hợp

29

48,3

Bình thường

3

5,0

Chưa phù hợp

1

1,7

Tổng cộng

60

100,0

Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả, năm 2026.

Trong mẫu khảo sát, đa số người trả lời đánh giá tích cực về nội dung bồi dưỡng. Bốn ý kiến đánh giá ở mức bình thường hoặc chưa phù hợp, chiếm 6,7%, gợi mở nhu cầu tìm hiểu cụ thể những nội dung chưa đáp ứng kỳ vọng của người học; số liệu này chưa xác định được nguyên nhân của đánh giá.

Điểm đáng chú ý là sự phù hợp của chương trình cần được hiểu không chỉ ở mức độ "đúng chương trình" mà còn ở khả năng giúp người học giải quyết những vấn đề thực tế. Vì vậy, việc tiếp tục cập nhật các tình huống thực tiễn, những vấn đề phát sinh trong quản lý ở cơ sở và yêu cầu mới đối với cán bộ, đảng viên có thể nâng cao hơn nữa giá trị của chính sách.

2.2.3. Phương pháp giảng dạy

Đối với phương pháp giảng dạy, 31 người, chiếm 51,7%, đánh giá "dễ hiểu, sinh động"; 25 người, chiếm 41,7%, đánh giá "tương đối dễ tiếp cận"; 4 người, chiếm 6,7%, cho rằng phương pháp còn nặng về lý thuyết. Tính theo số người trả lời, 56/60 người, tương ứng 93,3%, có đánh giá tích cực.

Bảng 2. Đánh giá về phương pháp giảng dạy

Phương án

Số ý kiến

Tỷ lệ (%)

Dễ hiểu, sinh động

31

51,7

Tương đối dễ tiếp cận

25

41,7

Còn nặng về lý thuyết

4

6,7

Tổng cộng

60

100,0

Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả, năm 2026.

Kết quả cho thấy phương pháp truyền đạt nhìn chung đáp ứng khả năng tiếp nhận của học viên. Tuy nhiên, tỷ lệ 6,7% cho rằng phương pháp còn nặng về lý thuyết là tín hiệu cần lưu ý, nhất là đối với các nội dung có tính khái quát cao.

Do đó, đổi mới phương pháp không nhất thiết phải thay đổi hoàn toàn hình thức giảng dạy mà cần tăng tỷ trọng trao đổi, thảo luận, xử lý tình huống, liên hệ thực tế và khuyến khích học viên chia sẻ kinh nghiệm từ vị trí công tác.

2.2.4. Cơ sở vật chất và tài liệu học tập

Kết quả khảo sát cho thấy 29 người, chiếm 48,3%, đánh giá cơ sở vật chất và tài liệu "đáp ứng tốt"; 27 người, chiếm 45,0%, đánh giá "cơ bản đáp ứng"; 4 người, chiếm 6,7%, cho rằng "chưa đáp ứng". Như vậy, 93,3% người khảo sát đánh giá điều kiện phục vụ học tập ở mức đáp ứng tốt hoặc cơ bản đáp ứng.

Bảng 3. Đánh giá về cơ sở vật chất và tài liệu học tập

Phương án

Số ý kiến

Tỷ lệ (%)

Đáp ứng tốt

29

48,3

Cơ bản đáp ứng

27

45,0

Chưa đáp ứng

4

6,7

Tổng cộng

60

100,0

Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả, năm 2026.

Tỷ lệ "cơ bản đáp ứng" là 45,0%, thấp hơn mức "đáp ứng tốt" là 48,3%. Tuy nhiên, 4 người đánh giá "chưa đáp ứng" cho thấy cần tiếp tục rà soát điều kiện phục vụ học tập. Khảo sát hiện chưa tách riêng đánh giá về phòng học, thiết bị và tài liệu, nên chưa đủ căn cứ xác định hạng mục cần ưu tiên đầu tư. Trung tâm cần thu thập phản hồi cụ thể để lựa chọn nội dung cải thiện phù hợp.

2.2.5. Khả năng vận dụng kiến thức sau bồi dưỡng

Khả năng vận dụng kiến thức phản ánh một khía cạnh của kết quả bồi dưỡng theo tự đánh giá của người học. Có 28 người, chiếm 46,7%, cho rằng có thể "vận dụng tốt"; 27 người, chiếm 45,0%, cho rằng có thể "vận dụng ở mức nhất định"; 5 người, chiếm 8,3%, cho rằng "khó vận dụng". Như vậy, 55/60 người, tương ứng 91,7%, tự đánh giá có thể vận dụng ở mức tốt hoặc nhất định.

Bảng 4. Đánh giá về khả năng vận dụng kiến thức sau khóa học

Phương án

Số ý kiến

Tỷ lệ (%)

Vận dụng tốt

28

46,7

Vận dụng ở mức nhất định

27

45,0

Khó vận dụng

5

8,3

Tổng cộng

60

100,0

Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả, năm 2026.

Tỷ lệ 91,7% cho thấy đánh giá nhìn chung tích cực trong mẫu khảo sát. Tuy nhiên, 27 người chỉ đánh giá vận dụng ở mức nhất định và 5 người đánh giá khó vận dụng là những nhóm cần được tìm hiểu thêm về nhu cầu hỗ trợ. Các tỷ lệ này chưa đủ để kết luận về tác động của bồi dưỡng hoặc mức độ thay đổi hiệu quả thực hiện nhiệm vụ.

Điều này gợi mở một vấn đề quan trọng: hiệu quả của bồi dưỡng lý luận chính trị không nên chỉ được đánh giá tại thời điểm kết thúc khóa học. Cần có cơ chế theo dõi người học sau bồi dưỡng, xem xét kiến thức được vận dụng như thế nào trong công việc và những yếu tố nào cản trở quá trình chuyển hóa kiến thức thành năng lực thực tế.

2.3. Hạn chế và những yếu tố cần làm rõ về nguyên nhân

2.3.1. Hạn chế

Thứ nhất, việc gắn nội dung và phương pháp bồi dưỡng với thực tiễn cần tiếp tục được cải thiện. Trong mẫu khảo sát có 4 người đánh giá phương pháp còn nặng về lý thuyết và 4 người đánh giá nội dung ở mức bình thường hoặc chưa phù hợp. Đây là căn cứ để rà soát, thu thập phản hồi chi tiết theo từng chuyên đề.

Thứ hai, khả năng vận dụng kiến thức sau bồi dưỡng còn có mức độ khác nhau theo tự đánh giá của người học. Có 27 người đánh giá vận dụng ở mức nhất định và 5 người đánh giá khó vận dụng. Việc hỗ trợ người học liên hệ kiến thức với nhiệm vụ cụ thể cần được chú trọng.

Thứ ba, một bộ phận người trả lời cho rằng cơ sở vật chất và tài liệu chưa đáp ứng yêu cầu. Do khảo sát gộp hai nội dung trong cùng một câu hỏi, cần tiếp tục xác định những điều kiện cụ thể còn hạn chế trước khi đề xuất đầu tư.

Thứ tư, bằng chứng đánh giá kết quả sau bồi dưỡng còn hạn chế. Khảo sát dựa trên tự đánh giá của người học, chưa có dữ liệu đối chiếu từ cơ quan sử dụng cán bộ hoặc theo dõi theo thời gian. Vì vậy, chưa thể xác định mức độ chuyển hóa kiến thức thành kết quả thực hiện nhiệm vụ.

Bên cạnh các vấn đề trên, xác định nhu cầu, phối hợp giữa Trung tâm và cơ quan cử người học, sử dụng phản hồi và ứng dụng công nghệ là những nội dung cần tiếp tục rà soát. Các kết quả khảo sát hiện có chưa trực tiếp đo lường đầy đủ những khâu này; cần bổ sung hồ sơ thực hiện và ý kiến của chủ thể tổ chức để đánh giá cụ thể.

2.3.2. Những yếu tố cần làm rõ về nguyên nhân

Các vấn đề được nhận diện gợi mở những yếu tố cần kiểm chứng về nguyên nhân. Về phía tổ chức thực hiện, cần xem xét mức độ phù hợp của cơ chế khảo sát nhu cầu, lựa chọn tình huống thực tiễn, phối hợp hỗ trợ người học và sử dụng phản hồi sau khóa học. Về phía người học, vị trí công tác, trình độ, kinh nghiệm và điều kiện thời gian có thể ảnh hưởng đến tiếp nhận và vận dụng kiến thức. Tuy nhiên, khảo sát hiện có chưa đo lường riêng các yếu tố này nên chưa đủ căn cứ khẳng định quan hệ nhân quả.

Để làm rõ nguyên nhân, cần đối chiếu kế hoạch bồi dưỡng, hồ sơ phối hợp, điều kiện tổ chức lớp và phản hồi theo từng nhóm người học; đồng thời bổ sung ý kiến của giảng viên, cán bộ quản lý và cơ quan cử người học. Kết quả xác minh là căn cứ để lựa chọn giải pháp phù hợp với thẩm quyền và điều kiện của Trung tâm.

2.4. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi chính sách giai đoạn 2026–2030

2.4.1. Gắn kế hoạch bồi dưỡng với nhu cầu và yêu cầu chương trình

Trung tâm cần khảo sát nhu cầu bồi dưỡng định kỳ trước khi xây dựng kế hoạch, kết hợp yêu cầu của chương trình với nhu cầu thực tế của người học. Nhu cầu cần được phân loại theo nhóm đối tượng, vị trí công tác và nhiệm vụ để lựa chọn nội dung liên hệ thực tiễn, thời lượng và hình thức tổ chức phù hợp trong phạm vi quy định.

Kế hoạch cần xác định rõ mục tiêu đầu ra của từng chương trình, trong đó không chỉ xác định số lớp và số người tham gia mà còn xác định yêu cầu về kiến thức, kỹ năng và khả năng vận dụng sau bồi dưỡng.

2.4.2. Tăng cường gắn lý luận với thực tiễn

Nội dung bồi dưỡng cần bảo đảm tính chính trị, tính hệ thống, tính chính xác và yêu cầu của chương trình; các nội dung liên hệ thực tiễn cần được lựa chọn phù hợp với từng chuyên đề. Phương pháp giảng dạy nên kết hợp thuyết trình với thảo luận, xử lý tình huống, phân tích trường hợp và trao đổi kinh nghiệm. Việc gắn học tập với nghiên cứu và vận dụng lý luận cũng phù hợp với yêu cầu đổi mới được đặt ra trong Chỉ thị số 23-CT/TW (Ban Bí thư, 2018).

Đặc biệt, cần khai thác những vấn đề phát sinh từ thực tiễn quản lý ở cơ sở để người học thấy rõ ý nghĩa của kiến thức lý luận đối với công việc hằng ngày.

2.4.3. Hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các chủ thể

Cần xác định rõ trách nhiệm của Trung tâm, cơ quan, đơn vị cử cán bộ tham gia và người học. Phối hợp cần được thực hiện từ khâu xác định nhu cầu, lập danh sách, tổ chức lớp đến đánh giá kết quả.

Đối với cơ quan cử cán bộ đi học, cần tăng cường tạo điều kiện về thời gian và khuyến khích người học vận dụng kiến thức sau khóa học. Đối với Trung tâm, cần chủ động cung cấp thông tin và kết quả đánh giá để các cơ quan liên quan có thể phối hợp theo dõi.

2.4.4. Xây dựng cơ chế đánh giá sau bồi dưỡng

Giám sát và đánh giá chính sách cần cung cấp thông tin cho việc điều chỉnh tổ chức thực hiện, đồng thời phân biệt đo lường kết quả với đánh giá tác động (Lê Văn Hòa, 2016). Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất bổ sung khảo sát hoặc thu thập phản hồi sau bồi dưỡng, bên cạnh đánh giá cuối khóa. Nội dung phản hồi cần làm rõ kiến thức được sử dụng, cách thức vận dụng và những khó khăn người học gặp phải.

Kết quả đánh giá phải được đưa trở lại quá trình xây dựng kế hoạch và thiết kế chương trình tiếp theo. Qua đó hình thành chu trình quản lý khép kín: xác định nhu cầu → tổ chức bồi dưỡng → đánh giá → theo dõi sau bồi dưỡng → phản hồi → điều chỉnh chương trình.

2.4.5. Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên và phương pháp giảng dạy

Trung tâm cần chú trọng lựa chọn giảng viên có kiến thức lý luận vững và khả năng liên hệ thực tiễn. Cùng với đó, tăng cường trao đổi chuyên môn, chia sẻ kinh nghiệm và cập nhật phương pháp giảng dạy.

Mục tiêu của đổi mới phương pháp không phải là giảm vai trò của lý luận mà là làm cho lý luận trở nên dễ tiếp cận và có khả năng giải thích, định hướng cho những vấn đề thực tế mà người học đang gặp phải.

2.4.6. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và bảo đảm nguồn lực

Công nghệ số cần được sử dụng để hỗ trợ cung cấp tài liệu, trao đổi học tập, quản lý học viên và thu thập phản hồi. Việc lựa chọn hình thức trực tiếp, trực tuyến hoặc kết hợp cần căn cứ vào đặc điểm nội dung và đối tượng.

Việc bảo đảm cơ sở vật chất, thiết bị và tài liệu cần dựa trên rà soát điều kiện thực tế và phản hồi cụ thể của người học. Với 4/60 người đánh giá cơ sở vật chất và tài liệu chưa đáp ứng, Trung tâm cần xác định rõ hạng mục hạn chế trước khi ưu tiên nguồn lực. Đầu tư cần gắn với nhu cầu giảng dạy, khả năng khai thác và điều kiện kinh phí.

3. Kết luận

Kết quả khảo sát tại Trung tâm Chính trị phường Thanh Xuân cho thấy phần lớn trong số 60 người trả lời đánh giá tích cực về nội dung bồi dưỡng, phương pháp giảng dạy và điều kiện học tập. Tỷ lệ tự đánh giá có thể vận dụng kiến thức ở mức tốt hoặc nhất định đạt 91,7%. Những kết quả này phản ánh cảm nhận của người học trong mẫu khảo sát, cung cấp thông tin tham khảo cho việc điều chỉnh tổ chức bồi dưỡng.

Các ý kiến đánh giá còn nặng về lý thuyết, điều kiện học tập chưa đáp ứng và khó vận dụng kiến thức cho thấy cần tăng cường liên hệ thực tiễn, hỗ trợ người học và rà soát nguồn lực. Đánh giá hiệu quả thực thi chính sách cần được bổ sung bằng hồ sơ thực hiện, phản hồi từ cơ quan sử dụng cán bộ và dữ liệu theo dõi sau bồi dưỡng.

Trong giai đoạn 2026–2030, các giải pháp cần kết nối khảo sát nhu cầu với kế hoạch bồi dưỡng, nâng cao chất lượng giảng dạy, phân định trách nhiệm phối hợp, bảo đảm nguồn lực và sử dụng phản hồi để điều chỉnh hoạt động. Theo dõi khả năng vận dụng kiến thức sau khóa học là nội dung cần ưu tiên để đánh giá kết quả thực chất của bồi dưỡng.

Nghiên cứu được thực hiện trên phạm vi một Trung tâm và sử dụng mẫu khảo sát thuận tiện với 60 người, do đó kết quả chủ yếu có giá trị tham khảo trong phạm vi nghiên cứu. Đây cũng là cơ sở để các nghiên cứu tiếp theo mở rộng quy mô khảo sát, bổ sung đánh giá từ cơ quan sử dụng cán bộ và theo dõi kết quả vận dụng kiến thức trong thời gian dài hơn.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Ban Bí thư. (2018). Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 09/02/2018 về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới.

[2] Ban Bí thư. (2025). Quy định số 360-QĐ/TW ngày 29/8/2025 về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy trung tâm chính trị xã, phường, đặc khu.

[3] Lê Như Thanh, & Lê Văn Hòa. (2016). Hoạch định và thực thi chính sách công. Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.

[4] Lê Văn Hòa. (2016). Giám sát và đánh giá chính sách công. Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.

[5] Trung tâm Chính trị khu vực Thanh Xuân. (2025a). Khai giảng lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng cho quần chúng ưu tú 03 phường Thanh Xuân, Khương Đình, Phương Liệt. Cổng thông tin điện tử phường Thanh Xuân. https://thanhxuan.hanoi.gov.vn/dang-doan-the/khai-giang-lop-boi-duong-nhan-thuc-ve-dang-cho-quan-chung-uu-tu-03-phuong-thanh-xuan-khuong-dinh-phuong-liet-2690250922092844144.htm (Truy cập ngày 04/10/2026).

[6] Trung tâm Chính trị khu vực Thanh Xuân. (2025b). Khai mạc lớp bồi dưỡng lý luận chính trị dành cho đảng viên mới đợt III năm 2025. Cổng thông tin điện tử phường Thanh Xuân. https://thanhxuan.hanoi.gov.vn/dang-doan-the/khai-mac-lop-boi-duong-ly-luan-chinh-tri-danh-cho-dang-vien-moi-dot-iii-nam-2025-2690250924140440339.htm (Truy cập ngày 04/10/2026).

TS. Tô Trọng Mạnh – Học viện Hành chính và Quản trị công

SV. Nguyễn Phương Linh - Sinh viên ngành Chính sách công,

Khoa Khoa học liên ngành – Ngoại ngữ – Tin học

Học viện Hành chính và Quản trị công