logo
ISSN 2734-9020

Thực trạng và một số yếu tố tác động đến nghiên cứu khoa học trong sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Cần Thơ

Thứ năm, 26/03/2026 - 10:21

Trong bối cảnh giáo dục y tế đang đổi mới, nghiên cứu khoa học (NCKH) của sinh viên đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành tư duy phản biện và kỹ năng nghề nghiệp. Nhóm nghiên cứu đã khảo sát 480 sinh viên hệ chính quy năm học 2024-2025 để tìm hiểu thực trạng, khó khăn và đề xuất giải pháp.

Kết quả khảo sát cho thấy 85% sinh viên hiểu tầm quan trọng của NCKH, nhưng chỉ 32,1% thực sự tham gia. Phân tích hồi quy logistic xác định rằng kỹ năng phương pháp nghiên cứu là yếu tố quyết định (OR = 2,8, p < 0,01), tiếp theo là giảng viên hướng dẫn (OR = 1,9, p = 0,02). Áp lực về thời gian học tập và thực tập có ảnh hưởng tiêu cực (OR = 0,7, p = 0,04), trong khi cơ chế hỗ trợ hiện tại chưa thấy hiệu quả rõ rệt. Kết quả nghiên cứu đề xuất cần tăng cường đào tạo kỹ năng nghiên cứu trong chương trình học, phát huy vai trò giảng viên hướng dẫn, đồng thời sử dụng công cụ số để hỗ trợ sinh viên thực hành nghiên cứu.

1. Đặt vấn đề

NCKH của sinh viên được xem là một phần không thể thiếu trong đào tạo, giúp hình thành tư duy phản biện, năng lực nghề nghiệp và khả năng sáng tạo. Đối với khối ngành y tế, NCKH không chỉ mang ý nghĩa học thuật mà còn trực tiếp hỗ trợ ra quyết định lâm sàng và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe dựa trên bằng chứng. Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2045 [1] nhấn mạnh yêu cầu đổi mới hoạt động NCKH của sinh viên. Tuy nhiên, mức độ tham gia của sinh viên tại nhiều cơ sở còn hạn chế, chủ yếu do thiếu kỹ năng, áp lực học tập và cơ chế hỗ trợ chưa hiệu quả [2, 3]. Từ lý do trên, việc thực hiện đề tài nghiên cứu về "Thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên tại Trường Cao đẳng Y tế Cần Thơ năm học 2024-2025" được thực hiện. Kết quả của đề tài giúp tạo ra cơ sở dữ liệu khách quan về hoạt động nghiên cứu khoa học tại trường, đồng thời phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định và quá trình thực hiện nghiên cứu khoa học của sinh viên, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm thúc đẩy phong trào nghiên cứu khoa học trong sinh viên học tại trường.

2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

2.1. Đối tượng nghiên cứu

480 sinh viên hệ chính quy, đang học tại Trường Cao đẳng Y tế Cần Thơ từ năm học 2024 – 2025, đồng ý tham gia nghiên cứu. Loại trừ đối tượng không hoàn thành câu hỏi khảo sát trên biểu mẫu hoặc gửi phản hồi trễ. Thời gian nghiên cứu: 6 tháng (từ tháng 01/2025 đến tháng 06/2025). Thời gian khảo sát được thực hiện bắt đầu từ ngày 01/04/2025 đến ngày 30/04/2025.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: Sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang.

2.2.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

Sử dụng phương pháp chọn mẫu liên tục trong thời gian nghiên cứu để lựa chọn 480 sinh viên tham gia nghiên cứu theo tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ.

2.2. Công cụ thu thập dữ liệu

Bảng hỏi được thiết kế gồm 2 phần:

Phần 1: Thông tin chung về sinh viên (ngành học, năm học, giới tính). Đây là các câu hỏi trả lời trắc nghiệm có hoặc không.

Phần 2: Hiểu biết và nhận thức của sinh viên về NCKH và sử dụng thang đo likert-5. Độ tin cậy của công cụ đã được xác định bằng hệ số Cronbach's Alpha lớn hơn 0,7. Hệ số Cronbach's Alpha thu được của công cụ trong nghiên cứu là 0,84.

Hình thức thu tập số liệu: Sử dụng hình thức tạo biểu mẫu trên Google Forms. Đối tượng nghiên cứu được cung cấp đường link truy cập trực tiếp và hướng dẫn cách trả lời bảng hỏi thông qua các kênh: Email, Zalo.

2.3. Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu nghiên cứu được lưu trữ trong phần mềm Excel, và xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS 26.0. Sử dụng các tham số thống kê như tần số (n) tỷ lệ phần trăm (%) để mô tả thực trạng. Sử dụng kiểm định Chi-square hay Fisher' exact để so sánh các tỷ lệ giữa các nhóm có biến định tính. Mô hình Hồi quy Logistic đơn biến và đa biến được sử dụng để xác định các yếu tố để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc sinh viên tham gia NCKH.

3. Hạn chế của nghiên cứu

Nghiên cứu chưa mang tính toàn diện các đối tượng, chỉ tập chung vào hệ chính quy tại một trường. Chưa sử dụng phân tích SEM để xác định chất lượng của bảng câu hỏi và mức độ ảnh hưởng các yếu tố. Chưa đánh giá các yếu tố khác như: kinh nghiệm giảng viên hay cơ sở vật chất để làm rõ thêm các yếu tố ảnh hưởng đến NCKH của sinh viên.

3. Kết quả nghiên cứu

3.1. Thông tin chung của đối tượng khảo sát

1. Thông tin chung về tỷ lệ giới tính (n = 480)

STT

Khối ngành

Nam

Nữ

Tổng số

Ngành học

Số lượng

Tỷ lệ

Số lượng

Tỷ lệ

Số lượng

Tỷ lệ

1

Dược-Xét nghiệm

Dược

108

22,5

108

22,5

264

55,0

Xét nghiệm

24

5,0

24

5,0

2

Điều dưỡng

Điều dưỡng

75

15,6

75

15,6

150

31,2

3

Ngành Y

Phục hồi chức năng

12

2,5

12

2,5

66

13,8

Phục hình răng

12

2,5

12

2,5

Hộ sinh

0

0,0

18

3,8

Nhận xét: Sinh viên nữ chiếm nhiều hơn 249/480 (51,9%). Về phân bố ngành học, khối ngành Dược – Xét nghiệm chiếm tỷ lệ cao nhất với 264/480 (55%), trong đó ngành Dược có 216/480 (45%), ngành Xét nghiệm có 48/480 (10%), Điều dưỡng có 150/480 (31,2%), ngành Y có 66/480 (13,8%).

Bảng 2. Bảng mô tả thông tin theo năm học (n =480)

STT

Khối ngành

Năm 1

Năm 2

Năm 3

Số lượng (n)

Tỷ lệ (%)

Số lượng (n)

Tỷ lệ (%)

Số lượng (n)

Tỷ lệ (%)

1

Dược-Xét nghiệm

72

15,0

72

15,0

120

25,0

2

Điều dưỡng

48

10,0

42

8,75

60

12,5

3

Y

24

5,0

18

3,75

24

5,0

Tổng:

144

30,0

132

27,5

204

42,5

Nhận xét: Sinh viên năm 1 chiếm 144/480 (30%), năm 2 chiếm 132/480 (27,5%) và năm 3 chiếm tỷ lệ cao nhất với 204/480 (42,5%). Khối Dược – Xét nghiệm chiếm tỷ lệ cao nhất ở cả ba khóa học: năm 1 (15,0%), năm 2 là 15% và năm 3 là 25%.

3.2. Hiểu biết và nhận thức của sinh viên về NCKH

Bảng 3. Nhận thức của sinh viên về NCKH (n =480)

Nhận thức về NCKH

Số lượng (n)

Tỷ lệ (%)

Đã nghe về NCKH

411

85,6

Biết tham gia đề tài

318

66,2

Biết viết bài công bố kết quả nghiên cứu

208

43,3

Nhận xét: Sinh viên nhìn chung có nhận thức tốt về vai trò của NCKH (85,6%), nhưng tỷ lệ nắm rõ cách thức tham gia nghiên cứu và công bố khoa học vẫn còn hạn chế (43,3%).

Bảng 4. Hình thức tham gia NCKH của sinh viên (n =480)

Hình thức tham gia

Số lượng (n)

Tỉ lệ (%)

Hội thảo, tọa đàm

360

75,0

Đề tài nghiên cứu nhỏ

87

18,1

Viết bài báo khoa học

34

7,1

Nhận xét: Sinh viên chủ yếu tham gia các hội thảo, tọa đàm (75%), trong khi tỷ lệ tham gia đề tài nghiên cứu (18,1%) và viết báo cáo khoa học (7,1%) còn thấp.

Bảng 5. Khó khăn của sinh viên khi tham gia NCKH (n = 480)

Loại khó khăn

Số lượng (n)

Tỉ lệ (%)

Thiếu kỹ năng phương pháp nghiên cứu

312

65,0

Thiếu thời gian (áp lực học tập, thực tập)

279

58,1

Thiếu giảng viên hướng dẫn

221

46,0

Thiếu kinh phí, cơ chế hỗ trợ

187

39,0

Nhận xét: Nguyên nhân chính cản trở sinh viên tham gia NCKH là thiếu kỹ năng phương pháp nghiên cứu (65%), tiếp đến là áp lực thời gian học tập và thực tập (58,1%), cùng với sự hạn chế về giảng viên hướng dẫn (46,0%) và cuối cùng là cơ chế hỗ trợ (39,0%).

3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động NCKH của sinh viên

Bảng 6. Sự khác biệt tham gia NCKH theo năm học

Nhóm sinh viên

Sinh viên tham gia NCKH (n = 318)

n (%)

p

Năm 1 (1) (n = 144)

46 (31,9%)

p1-2 < 0,001

p1-3 < 0,001

P2-3 = 0,012

Năm 2 (2) (n = 132)

98 (74,2%)

Năm 3 (3) (n = 204)

174 (85,3%)

P tính theo Chi-square

Tỉ lệ sinh viên tham gia NCKH tăng theo thời gian học tập, cao nhất là năm 3 (83,8%), thấp nhất là năm 1 (31,9%). Sự khác biệt về tỉ lệ sinh viên tham gia NCKH giữa các năm là có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

Bảng 7. Sự khác biệt tham gia NCKH theo chuyên ngành

Nhóm sinh viên

Sinh viên tham gia NCKH (n = 318)

n (%)

p

Dược-Xét nghiệm (n = 264)

184 (69,7%)

p1-2 = 0,083

p1-3 = 0,746

P2-3 = 0,748

Điều dưỡng (n = 150)

92 (61,3%)

Y (n = 66)

42 (63,6%)

P tính theo Chi-square

Tỉ lệ sinh viên tham gia NCKH cao nhất ở chuyên ngành Dược-Xét nghiệm (69,7%), thấp nhất là ngành điều dưỡng (61,3%). Sự khác biệt về tỉ lệ sinh viên tham gia NCKH giữa các chuên ngành là không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

Bảng 8. Yếu tố liên quan đến việc sinh viên tham gia NCKH

Biến độc lập

OR

95% CI

p

Kỹ năng phương pháp

2,80

1,90–4,12

<0,01

Giảng viên hướng dẫn

1,90

1,25–2,88

0,02

Áp lực thời gian

0,70

0,50–0,98

0,04

Cơ chế hỗ trợ

1,35

0,92–1,99

0,12

p tính theo hồi quy logistic đa biến

Các yếu tố tương quan với việc sinh viên tham gia NCKH là Kỹ năng phương pháp với OR = 2,8 (p < 0,01; 95%CI: 1,90–4,12); Giảng viên hướng dẫn với OR = 1,90 (p = 0,02; 95%CI: 1,25–2,88); và Áp lực thời gian với OR = 1,90 (p = 0,02; 95%CI: 1,25–2,88).
4. Bàn luận

Kết quả nghiên cứu chỉ ra sự khác biệt rõ rệt giữa nhận thức và hành động: mặc dù 85% sinh viên nhận thức được tầm quan trọng của NCKH nhưng chỉ 32,1% thực sự tham gia. Điều này cho thấy hoạt động nghiên cứu chưa thực sự trở thành một phần tất yếu trong chương trình đào tạo của Trường Cao đẳng Y tế Cần Thơ.

Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến việc sinh viên tham gia NCKH gồm: Số năm học, kỹ năng phương pháp nghiên cứu (OR = 2,8 p < 0,01). Sinh viên năm 2, 3 khi đó họ có kỹ năng nghiên cứu tốt có khả năng tham gia NCKH cao hơn gần 2,8 lần so với sinh viên còn hạn chế kỹ năng. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của [2, 4] cho thấy năng lực nghiên cứu là điều kiện tiên quyết để sinh viên chủ động tham gia. Giảng viên hướng dẫn cũng đóng vai trò quan trọng (OR = 1,9, p = 0,02). Việc có giảng viên đồng hành giúp sinh viên định hướng đề tài, giải quyết khó khăn về phương pháp và tăng động lực tham gia. Áp lực thời gian học tập và thực tập ảnh hưởng tiêu cực đến việc tham gia NCKH (OR = 0,7, p = 0,04). Thời gian hạn chế khiến sinh viên khó kết hợp giữa học lý thuyết, thực hành lâm sàng và nghiên cứu khoa học. Đây là rào cản phổ biến trong các cơ sở đào tạo y tế ở Việt Nam và quốc tế [5].

Cơ chế hỗ trợ từ nhà trường chưa có tác động rõ ràng trong mẫu hiện tại (p > 0,05). Tuy nhiên, so sánh với các trường có chính sách khuyến khích mạnh mẽ như Đại học Y Dược Huế, có thể thấy cơ chế hỗ trợ vẫn là yếu tố quan trọng để gia tăng tỷ lệ sinh viên tham gia, đặc biệt khi kết hợp với hệ thống đánh giá và khen thưởng [6, 7]. Nhìn chung, tỷ lệ tham gia NCKH tại Trường Cao đẳng Y tế Cần Thơ phản ánh thực trạng chung của sinh viên khối ngành y tế, với khoảng cách giữa nhận thức và hành vi. Điều này nhấn mạnh nhu cầu cải thiện môi trường học thuật và hỗ trợ kỹ năng nghiên cứu. ngoài ra, trong bối cảnh chuyển đổi số mở ra cơ hội khắc phục các rào cản trên như: Hệ thống quản lý đề tài trực tuyến cho phép sinh viên đăng ký, theo dõi tiến độ, nộp báo cáo mọi lúc mọi nơi, giảm áp lực thời gian. Học liệu e-learning và kho dữ liệu số y tế (bệnh án giả định, số liệu dịch tễ) giúp sinh viên thực hành nghiên cứu ngay cả khi chưa tiếp cận bệnh nhân thực tế. Hội nhập quốc tế và hợp tác liên trường giúp sinh viên nâng cao kỹ năng, mở rộng kinh nghiệm nghiên cứu, tăng khả năng áp dụng kết quả vào thực tiễn.

Kết quả phân tích nhấn mạnh ba hướng can thiệp chính để thúc đẩy NCKH sinh viên: Nâng cao kỹ năng phương pháp nghiên cứu trong chương trình đào tạo; Phát huy vai trò giảng viên hướng dẫn và hỗ trợ mentor-mentee. Ứng dụng chuyển đổi số để giảm rào cản thời gian, tăng khả năng truy cập dữ liệu, nâng cao trải nghiệm nghiên cứu và kết nối sinh viên với môi trường học thuật rộng hơn. Những kết quả này cung cấp cơ sở khoa học cho việc thiết kế các chính sách và giải pháp quản lý giáo dục nhằm nâng cao chất lượng NCKH sinh viên khối ngành y tế ở bậc cao đẳng, phù hợp với xu hướng hội nhập quốc tế và chuyển đổi số.

4. Kết luận

Qua khảo sát 480 sinh viên hệ chính quy Trường Cao đẳng Y tế Cần Thơ, nghiên cứu cho thấy mặc dù phần lớn sinh viên (85%) nhận thức đúng về tầm quan trọng của nghiên cứu khoa học, chỉ có 32,1% thực sự tham gia các hoạt động nghiên cứu. Phân tích hồi quy logistic xác định rằng các yếu tố quyết định chính ảnh hưởng đến sự tham gia của sinh viên gồm: kỹ năng phương pháp nghiên cứu và sự hướng dẫn của giảng viên. Ngược lại, áp lực thời gian học tập và thực tập có tác động tiêu cực, trong khi cơ chế hỗ trợ hiện hành chưa phát huy hiệu quả rõ ràng. Những kết quả này phản ánh thực trạng chung tại các trường cao đẳng y tế, đồng thời nhấn mạnh nhu cầu đổi mới quản lý giáo dục và nâng cao năng lực nghiên cứu sinh viên.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021). Thông tư Quy định về hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên trong cơ sở giáo dục đại học. Hà Nội: Bộ GD&ĐT.

2. Healey, M., & Jenkins, A. (2009). Developing undergraduate research and inquiry. Higher Education Academy.

3. Nguyễn Thị Hương, Trần Văn Phước, Phạm Thị Mai (2022). "Thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học trong sinh viên khối ngành sức khỏe." Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ, Đại học Quốc gia TP.HCM, 25(4), 112–118.

4. Nguyễn Văn Dũng & Trần Thị Bích Hạnh (2021). "Khảo sát nhận thức và động lực tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên ngành Y – Dược tại một số trường cao đẳng." Tạp chí Khoa học Giáo dục, 19(3), 112–119.

5. Lucey C R, Thibault G E, Cate OT. (2018). Competency-Based, Time-Variable Education in the Health Professions: Crossroads. Academic Medicine, 93(1), 1-5.

6. Hồ Thị Phượng, Nguyễn Trường Bá (2021), "Nghiên cứu khoa học của sinh viên trong các cơ sở giáo dục đại học, qua thực tiễn tại trường đại học Luật, đại học Huế" Tạp chí Khoa học Đại học Huế Khoa học Xả hội và Nhân văn, 130 (6C), tr. 197–204.

7. Nguyen, H. L. (2023). "Current status of scientific research of nursing students at Hue University of Medicine and Pharmacy." J. Med. Pharm., 13(04), 13–19.


Nguyễn Thị Huế, Phí Thị Hằng Nga, Phan Thành Đạt

Trường Cao đẳng Y tế Cần Thơ

Email: nguyenhuecmc@gmail.com