logo
ISSN 2734-9020

Tính nhân dân – điểm tựa nội sinh để giáo dục Việt Nam bứt phá trong kỷ nguyên mới

Thứ hai, 10/08/2026 - 14:00

Khi nền giáo dục là một cánh đồng lớn nuôi dưỡng tri thức của dân tộc, thì tính nhân dân chính là “mạch nước ngầm” thấm sâu trong từng “thửa ruộng” tri thức đó. Nó âm thầm mà mạnh mẽ, không phô trương nhưng bền bỉ nâng đỡ toàn bộ kết cấu của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Hành trình tìm lại "mạch nguồn" bản sắc nhân dân trong giáo dục

Khi nền giáo dục là một cánh đồng lớn nuôi dưỡng tri thức của dân tộc, thì tính nhân dân chính là "mạch nước ngầm" thấm sâu trong từng "thửa ruộng" tri thức đó. Nó âm thầm mà mạnh mẽ, không phô trương nhưng bền bỉ nâng đỡ toàn bộ kết cấu của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Điều 3 Luật Giáo dục năm 2019 không ngẫu nhiên đặt "tính nhân dân" lên đầu bảng các tính chất của nền giáo dục nước ta, trước cả tính dân tộc, tính khoa học, tính hiện đại. Từ đó, tính nhân dân sẽ biến thành yếu tố quyết định, chưng cất, cộng hưởng, lan tỏa mọi tính chất khác của giáo dục. Một nền giáo dục không mang tính nhân dân thì dù hiện đại đến đâu cũng trở nên vô cảm, xa rời bản chất cách mạng và nhân văn của dân tộc

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng một nền giáo dục mang tính nhân dân rộng lớn là: "Ai cũng được học hành"[1], thể hiện mong ước của nhân dân ta muốn được học hành, tạo điều kiện cho mỗi người có thể cố gắng phát triển năng lực sẵn có của mình. Vì vậy, hiểu đơn giản "tính nhân dân" là tính chất thể hiện giáo dục vì lợi ích của nhân dân, do nhân dân làm chủ và phục vụ sự phát triển nhân dân. Bảo đảm mọi người dân đều có quyền bình đẳng trong học tập, tiếp cận tri thức, được phát triển toàn diện. Giáo dục phải phục vụ cho số đông, xóa bỏ phân biệt đối xử trong giáo dục, tạo điều kiện cho người yếu thế (người nghèo, dân tộc thiểu số, khuyết tật…) được hưởng cơ hội bình đẳng ngang nhau về giáo dục. Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm công bằng, bình đẳng trong tiếp cận giáo dục.

NỘI DUNG

1. Kết tinh và nâng tầm giáo dục "của dân, do dân, vì dân" của Hồ Chí Minh

Từ những lớp học tranh tre nứa lá trong kháng chiến, phong trào Bình dân học vụ đến Sắc lệnh số 17 ngày 8/9/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh với việc đặt mục tiêu "diệt giặc dốt" lên ngang hàng với diệt giặc đói, giặc ngoại xâm, là một minh chứng cho thấy tính nhân dân là linh hồn của giáo dục ngay từ buổi đầu dựng nước. Trong di sản tư tưởng của Người, giáo dục chiếm một vị trí vô cùng quan trọng, bằng một hệ thống triết lý toàn diện, sâu sắc và thấm đẫm tình yêu thương con người. Câu nói bất hủ của Người "Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người"[2] đã gói trọn tầm nhìn chiến lược, đặt giáo dục vào vị trí quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân. Mục tiêu giáo dục được Bác chỉ rõ, giản dị mà vô cùng sâu sắc: "Học để làm việc, làm người, làm cán bộ"[3]. Ba mục tiêu ấy không tách rời mà hòa quyện làm một: học để có năng lực lao động, để có nhân cách cao đẹp, và để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Tính nhân dân còn thể hiện ở chỗ là mọi người dân không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo, địa vị xã hội đều có quyền bình đẳng trong tiếp cận giáo dục "Trai, gái, trẻ, già, cán bộ, công nhân đều phải học cả"[4]. Những quan điểm trên của Người mang giá trị đặc trưng của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa vì nhân dân.

Bình dân học vụ - Bản hùng ca bất diệt về sức mạnh giáo dục từ nhân dân

Phong trào Bình dân học vụ là một biểu tượng sống động của giáo dục trong lòng nhân dân. Hàng triệu người dân tình nguyện dạy học, học tập trong những điều kiện vô cùng thiếu thốn. Họ vì một khát vọng thoát mù chữ, mở ra chân trời mới cho chính họ và cho cả dân tộc Việt Nam lúc bấy giờ. Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, đứng trước muôn vàn khó khăn, thù trong giặc ngoài, nạn đói, và hơn 95% dân số mù chữ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định "giặc dốt" là một trong những kẻ thù nguy hiểm cần tiêu diệt ngay. Sắc lệnh số 17 ngày 8/9/1945 về việc thành lập Nha Bình dân học vụ đã mở đầu cho một cuộc "cách mạng văn hóa" thực sự, một phong trào xã hội khổng lồ chưa từng có trong lịch sử về giáo dục. Nhiệm vụ thanh toán nạn mù chữ được đặt lên hàng đầu, đồng thời tiếng Việt được quyết định dùng làm ngôn ngữ của nền giáo dục và cho mọi công văn giấy tờ; Sắc lệnh số 18/SL bãi bỏ ngạch học quan do chính sách thực dân Pháp đặt ra; Sắc lệnh số 19/SL hạn trong 6 tháng, làng nào và thị trấn nào cũng phải có ít ra là 1 lớp học bình dân dạy được ít nhất là 30 người; Sắc lệnh số 20/SL quy định việc bắt buộc học chữ Quốc ngữ trong toàn quốc, quy định học không mất tiền, hạn trong một năm tất cả mọi người Việt Nam từ 8 tuổi trở lên phải biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ [5]

Phong trào Bình dân học vụ là minh chứng hùng hồn và sống động nhất cho sức mạnh của giáo dục từ nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Sức mạnh ấy đến từ đâu? Nó xuất phát từ nguyện vọng cháy bỏng của nhân dân, sau bao năm nô lệ, lần đầu tiên người dân được làm chủ đất nước, và họ hiểu rằng, muốn giữ được nền độc lập, muốn xây dựng cuộc sống mới, phải biết đọc, biết viết! Nghe tưởng chừng đơn giản, nhưng đó là khát vọng lớn lao của nhân dân cả nước biến thành sức mạnh vô tận lúc bấy giờ! Với khẩu hiệu "Người biết chữ dạy người chưa biết chữ, chồng dạy vợ, anh dạy em, con dạy cha mẹ người ăn người làm không biết thì chủ nhà bảo, các người giàu có thì mở lớp học ở tư gia dạy cho những người không biết chữ ở hàng xóm láng giềng, các chủ ấp, chủ đồn điền, chủ hầm mỏ, nhà máy thì mở lớp học cho những tá điền, những người làm của mình"[6], cả nước đã trở thành một trường học lớn. Mỗi người dân là một chiến sĩ trên mặt trận "diệt giặc dốt". Lớp học có thể là mái đình, gốc đa, sân nhà... Người thầy có thể là anh bộ đội, cô công nhân, hay chính những người nông dân vừa học được con chữ ban sáng, ban chiều đã đi dạy lại cho người khác…Dù trong hoàn cảnh khốc liệt nhất của kháng chiến chống Pháp, nhưng việc học vẫn được duy trì. Những "trường học dưới hầm", "lớp học giữa rừng" đã trở thành biểu tượng bất tử cho tinh thần hiếu học và ý chí sắt đá của một dân tộc quyết không chịu khuất phục cả giặc ngoại xâm lẫn "giặc dốt"! Khi giáo dục thực sự là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, nó sẽ là sức mạnh kiến tạo ra những thay đổi phi thường đem lại thắng lợi vinh quang cho đất nước

2. Trên lằn ranh của "tính nhân dân" giữa vòng xoáy đổi mới và thị trường

Những thành tựu phổ cập giáo dục, nâng cao dân trí là không thể phủ nhận. Nhưng trong hành trình đi lên cùng đất nước, đặc biệt là trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế sâu rộng, "tính nhân dân" của giáo dục đang đứng trước những thách thức lớn lao. Như đang bước đi trên một lằn ranh của một bên là nguy cơ bị xói mòn, biến dạng bởi các giá trị vật chất, một bên là nỗ lực vươn lên, tự làm mới mình để thích ứng và phát triển.

Cuộc va đập giáo dục - sự giằng co gay gắt giữa lý tưởng và thực tế

Một trong những thắng lợi vĩ đại nhất của nền giáo dục nước ta chính là đã thực hiện thành công công cuộc "đại chúng hóa", đưa giáo dục đến với mọi miền Tổ quốc, hiện thực hóa khát vọng học tập của hàng triệu người - biểu hiện rõ nét của "tính nhân dân". Tuy nhiên, mặt trái của nền kinh tế thị trường đã và đang tạo ra một nghịch lý của sự phân hóa giữa "đại chúng hóa" và nguy cơ "thị trường hóa" giáo dục. Ở các đô thị lớn, những ngôi trường quốc tế, trường tư thục với học phí hàng trăm triệu đồng mỗi năm mọc lên, cung cấp một môi trường giáo dục hiện đại, tiện nghi. Song song với đó, ở những vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đâu đó vẫn còn hình ảnh những lớp học tạm bợ, những điểm trường cheo leo trên sườn núi, nơi thầy và trò còn thiếu thốn đủ bề, vẫn còn hiện hữu… Khoảng cách về điều kiện vật chất, về chất lượng đội ngũ giáo viên, về cơ hội tiếp cận giáo dục tiên tiến giữa các vùng miền, giữa nhóm người có thu nhập cao và thấp đang thực sự được đặt ra cấp bách "vẫn còn tình trạng thiếu trường, lớp mầm non và phổ thông tại một số thành phố lớn, khu công nghiệp và vùng miền núi"[7] "tiếp cận giáo dục còn chênh lệch đáng kể giữa các vùng, miền, nhóm đối tượng xã hội"[8]. "Sự giằng co" còn xảy ra khi lý tưởng cao đẹp "dạy người" đang phải đối mặt với một "căn bệnh" trầm kha mang tên "bệnh thành tích" và áp lực thi cử của thực tế "hiện tượng tiêu cực, bệnh hình thức trong giáo dục còn phổ biến"[9]. Vòng xoáy của điểm số, của các kỳ thi tuyển sinh, của các bảng xếp hạng đã và đang cuốn cả xã hội vào một cuộc đua khốc liệt do "tâm lý trọng danh vị trong xã hội còn nặng nề, chính sách sử dụng cán bộ còn coi trọng bằng cấp hơn thực lực"[10] ...!

Đổi mới, hội nhập quốc tế là tất yếu, tiếp thu tinh hoa giáo dục thế giới là cần thiết. Nhưng làm thế nào để "hòa nhập mà không hòa tan", để phát triển nhưng không đánh mất mình giữa vòng xoáy của thị trường, giữ gìn bản sắc trong kỷ nguyên toàn cầu hóa cũng là điều cần thực hiện song song! Lý tưởng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, hiểu biết lịch sử cần phải được đưa trở lại mạnh mẽ hơn trong chương trình học, dưới hình thức mới mẻ, hấp dẫn, thay vì chỉ là kiến thức sách vở!... Để giáo dục nhân dân luôn được giữ lửa, tạo ra những công dân toàn cầu mang trong mình một trái tim Việt Nam, một tâm hồn Việt Nam.

Khi "tính nhân dân" là kim chỉ nam cho chính sách giáo dục

Nối tiếp dòng chảy đổi mới theo định hướng của Nghị quyết Đại hội XIV và Nghị quyết 71, các chính sách giáo dục hiện đại chính là minh chứng sinh động cho việc giữ trọn và nâng tầm tính Nhân dân. Phải kể đến thành quả của chính sách phổ cập giáo dục đã đmả bảo quyền học tập cho mọi tầng lớp nhân dân, chương trình "Sữa học đường" với hàng triệu ly sữa miễn phí cho học sinh tiểu học, chương trình "Cơm trưa bán trú" cho trẻ em vùng sâu vùng xa, các mô hình giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật, tự kỷ... tất cả đều là những nỗ lực hiện thực hóa "tính nhân dân" trong giáo dục. Hay gần đây nhất, liên tục những chính sách về giáo dục được chỉ đạo, thực hiện trên cả nước, là tin vui của hàng triệu người dân được thụ hưởng:

Việc đầu tư nguồn lực biên soạn sách giáo khoa và tổ chức dạy Tiếng dân tộc thiểu số chuẩn mực theo Chương trình 2018 chính là minh chứng sinh động cho "tính Nhân dân" khi giáo dục không bỏ quên ngôn ngữ, tiếng nói của các cộng đồng yếu thế, bảo đảm quyền được học tập bằng tiếng mẹ đẻ với đầy đủ 4 kỹ năng nghe - nói - đọc - viết một cách bài bản, và giữ gìn cội nguồn văn hóa của 54 dân tộc anh em. Đây là một yêu cầu căn cơ, cấp thiết đáp ứng nhu cầu thực tiễn trong việc nâng cao chất lượng giáo dục đối với học sinh vùng dân tộc thiểu số. Điều này thể hiện "tính nhân dân" ngày càng được quan tâm, khắc họa rõ nét trong chương trình, nội dung, chính sách giáo dục quốc gia.

Không chỉ vậy, với Quyết định số 525/QĐ-TTg ngày 6/3/2025 ban hành Kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 29-CT/TW ngày 5/1/2024 của Bộ Chính trị về công tác phổ cập giáo dục, giáo dục bắt buộc, xóa mù chữ cho người lớn và đẩy mạnh phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông đến năm 2030 - thể hiện rất rõ "tính nhân dân" trong giáo dục khi quy định mọi người dân đều có cơ hội công bằng, bình đẳng về việc tiếp cận giáo dục trong hệ thống giáo dục mở, đa dạng, linh hoạt, liên thông, hiện đại như: bắt buộc phải học tập để đạt được trình độ học vấn tối thiểu và được Nhà nước bảo đảm điều kiện để thực hiện; Hoàn thành việc xóa mù chữ cơ bản đặc biệt là người dân tộc thiểu số, phụ nữ và người lao động tại các khu vực khó khăn; Nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, phấn đấu hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ mẫu giáo. Duy trì phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở, 100% học sinh tiểu học được học 2 buổi/ngày…

Niềm vui hơn nữa, khi lãnh đạo đất nước, kể cả lãnh đạo địa phương cũng rất quan tâm đến cơ hội bình đẳng trong tiếp cận giáo dục của tất cả các tầng lớp nhân dân. Tinh thần nhân văn ấy được thể hiện bằng những cam kết hành động mạnh mẽ và quyết liệt với quyết định lịch sử ngày 28/2/2025 của Bộ Chính trị về việc miễn toàn bộ học phí cho học sinh từ mầm non đến trung học phổ thông công lập trên phạm vi cả nước[11] đã tháo gỡ gánh nặng tài chính cho hàng triệu gia đình. 18/7/2025, Bộ Chính trị thống nhất chủ trương đầu tư xây dựng trường học tại 248 xã biên giới đất liền[12]; cùng thời điểm, ngày 17/7/2025, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Giáo dục đào tạo khẩn trương hoàn thiện Đề án "Xây dựng các trường nội trú, bán trú cho học sinh phổ thông ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo giai đoạn 2026-2030"… Không dừng lại ở những định hướng vĩ mô, hơi ấm chính sách đã nhanh chóng lan tỏa và biến thành hành động gấp gáp tại các địa phương. Điển hình như tại Gia Lai ra thời hạn xây trường bán trú cho học sinh 7 xã biên giới với yêu cầu trường học phải đạt chuẩn, có bán trú để học sinh học ngày 2 buổi, ở lại ăn trưa miễn phí, triển khai ngay việc xây dựng, cho học sinh thụ hưởng cơ sở mới từ năm 2026[13]…Phát triển giáo dục ở vùng sâu, vùng xa, xã đảo và khu vực dân tộc thiểu số từ lâu đã trở thành một trong những ưu tiên hàng đầu trong hành trình xây dựng một nền giáo dục công bằng, mở ra cơ hội vươn lên cho từng cá nhân, góp phần phát triển hài hòa và bền vững đất nước.

Đáng chú ý, tính Nhân dân trong giáo dục Việt Nam không chỉ thể hiện ở những quyết sách mở đường, mà còn ở tinh thần kiên quyết dẹp bỏ mọi rào cản, bảo vệ quyền bình đẳng tuyệt đối cho người học. Minh chứng bằng việc"tuýt còi" với hành vi vi phạm liên quan đến "tính nhân dân" khi có một trường đại học đã đặt ra yêu cầu tuyển sinh khắt khe về chiều cao, thể lực, thị giác[14]... không có trong quy định pháp luật các ngành học đặc thù! Nhanh chóng, việc này đã bị "tuýt còi" để rà soát và thay đổi, bãi bỏ những quy định không phù hợp nhằm đảm bảo các nguyên tắc cơ bản trong giáo dục… Thí sinh phải được đối xử công bằng, không phân biệt đối xử, bình đẳng ngang nhau về tiếp cận cơ hội học tập, không để thí sinh nào bị mất cơ hội dự tuyển do những quy định không liên quan đến trình độ, năng lực làm rào cản, trong khi giáo dục Việt Nam hiện nay luôn luôn đề cao "tính nhân dân" .

Bình dân học vụ số - không ai bị bỏ lại phía sau

Nếu như phong trào "bình dân học vụ" vào năm 1945 khai sáng dân trí bằng con chữ thì 80 năm sau, Việt Nam bước vào cuộc cách mạng số mạnh mẽ, và một lần nữa với "bình dân học vụ số", chúng ta lại tiếp tục bắt đầu khai sáng dân trí trên môi trường số. Nhằm hướng tới việc xóa bỏ khoảng cách giữa các nhóm dân cư, các vùng miền; giúp mọi người dân ở mọi vùng miền đều nắm được kỹ năng cơ bản trong thế giới số…để không ai bị bỏ lại phía sau! Phong trào đang định nghĩa lại cách con người sống, học và giao tiếp, mà "xóa mù số" chính là bước đầu tiên để giữ lấy quyền làm chủ không gian số. Hợp đồng thông minh có thể thay thế hàng chục thủ tục hành chính rườm rà phức tạp; một ví điện tử có thể là "ngân hàng nhỏ" của người dân vùng sâu vùng xa; một nông dân có thể tự dự báo thời tiết chính xác hơn; một người dân bình thường có thể tìm việc, thậm chí khởi nghiệp… nhờ trí tuệ nhân tạo! Trong những năm tới, công nghệ sẽ tiếp tục phát triển với tốc độ vũ bão và nguy cơ xuất hiện một tầng lớp "bị bỏ lại" trong dòng chảy số hóa là hoàn toàn có thể xảy ra. "Bình dân học vụ số" chính là một chiếc cầu nối, kéo những người yếu thế trở lại, không bằng đặc ân, mà bằng sức mạnh của tri thức, công nghệ. Đó là nền móng để xây dựng một Việt Nam số tự tin, độc lập và mỗi người dân đều có quyền làm chủ tương lai của chính mình.

3. Kiến tạo tính nhân dân trong giáo dục ở thời đại số - "công dân toàn cầu"

Trong thời đại ngày nay, nếu chỉ dừng lại ở việc trao cơ hội học tập cho mọi người thôi là không đủ! Sứ mệnh đó phải được nâng lên một tầm cao mới: kiến tạo nên con người mới Xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên số - là những người giàu tri thức và năng lực sáng tạo để tạo ra những giá trị mới, có tư duy phản biện để không bị nhấn chìm trong biển thông tin hỗn loạn, có kỹ năng hợp tác để làm việc hiệu quả trong một thế giới kết nối, có trí tuệ cảm xúc để thấu hiểu và việc học đó phải là hành trang suốt cuộc đời, ở mọi lúc, mọi nơi…

Việc đưa hoạt động giáo dục STEM/STEAM vào nhà trường; triển khai chương trình chuyển đổi số trong giáo dục hay mở rộng mô hình học tập linh hoạt trực tuyến kết hợp trực tiếp; sự bùng nổ của các câu lạc bộ học thuật, tranh biện, nơi học sinh cùng nhau tổ chức sự kiện, nghiên cứu vấn đề và làm việc như một tập thể chuyên nghiệp; các cuộc thi Robotics, khởi nghiệp sáng tạo… đã mở ra không gian nuôi dưỡng tư duy mới, tạo ra con người mới, là những bước đi cần thiết để khẳng định tính bình đẳng và nhân văn của giáo dục trong điều kiện mới. "Công dân toàn cầu" đang được cụ thể hóa bằng việc đưa Tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học[15] và "nâng cao chuẩn năng lực số và trí tuệ nhân tạo cho người học, đội ngũ nhà giáo ở tất cả các cấp học, đưa vào chương trình giáo dục…"[16] bằng nhiều đề án được triển khai ngay trong năm 2026… là những giải pháp đột phá trong bối cảnh công nghệ số và trí tuệ nhân tạo đang tái định hình nền giáo dục toàn cầu.

Tính nhân dân trong giáo dục hiện nay vừa được đảm bảo công bằng về cơ hội tiếp cận giáo dục mà còn được đầu tư vào chiều sâu năng lực mỗi người. Bằng những chính sách quyết liệt và những đổi mới sư phạm triệt để làm hành trang vững chắc để mỗi công dân tự tin làm chủ vận mệnh, hội nhập thế giới và đóng góp cho sự phát triển hùng cường của đất nước.

Giáo dục là sự nghiệp toàn dân - xu hướng xã hội hóa giáo dục

Trước đây, Nhà nước là chủ thể gần như duy nhất kiến tạo và quản lý giáo dục. Thì ngày nay, tính nhân dân đòi hỏi một chuyển dịch từ "giáo dục phục vụ" sang "giáo dục kiến tạo". Vai trò gia đình, cộng đồng, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội... phải cùng tham gia vào hệ sinh thái giáo dục, là xu thế tất yếu. Trong hệ sinh thái đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, định hướng chiến lược và đảm bảo công bằng xã hội, còn vai trò của toàn xã hội phải được phát huy mạnh mẽ hơn bao giờ hết. "Tính nhân dân" ở đây được thể hiện qua việc trao quyền và khơi dậy trách nhiệm của toàn xã hội đối với sự nghiệp trồng người. Các mô hình giáo dục mở, linh hoạt, các nền tảng học tập trực tuyến, các sáng kiến giáo dục từ cộng đồng cần được khuyến khích. Khi đó, giáo dục trở thành một quá trình học hỏi suốt đời, mọi lúc, mọi nơi chứ không chỉ xuất hiện trong Nhà trường!

Hiện nay, mô hình học tập suốt đời được triển khai ở khắp các tỉnh thành "thúc đẩy xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời"[17]. Theo đó, "đã có nhiều tấm gương tiêu biểu là nông dân, người lao động, cán bộ, giáo viên tích cực tự học, sáng tạo trong lao động, công tác, có nhiều đóng góp cho cộng đồng; nhiều tấm gương tiêu biểu trong áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, có nhiều nghiên cứu, sáng kiến giải pháp hiệu quả mang tính ứng dụng cao trong thực tiễn, trong sản xuất và đời sống; nhiều người lớn tuổi nhờ tự học, tự nghiên cứu áp dụng kiến thức, kinh nghiệm để sản xuất đã giúp gia đình thoát nghèo, xây dựng đời sống văn hóa mới và đóng góp cho kinh tế xã hội ở địa phương"[18]. Mô hình học tập suốt đời, xây dựng xã hội học tập là minh chứng rõ rệt cho một nền giáo dục sống động, linh hoạt, bao trùm, mang đậm tính nhân dân. Một nền giáo dục như vậy sẽ giải phóng tiềm năng con người ở mức độ cao nhất, biến mỗi công dân thành một chủ thể sáng tạo, có khả năng tự học suốt đời, làm chủ cuộc sống và đóng góp thiết thực cho sự phát triển của giáo dục, thắng lợi của đất nước.

Giáo dục nhân dân – nền tảng của "sức mạnh mềm" quốc gia

Một dân tộc có nền giáo dục nhân dân là một dân tộc có nội lực trường tồn. Tính nhân dân của giáo dục tạo nên sự đồng thuận xã hội, là lớp "vỏ tinh thần" bảo vệ giá trị truyền thống trong thế giới đầy biến động. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu hiện nay, sức mạnh kinh tế không đủ để tạo nên một quốc gia hùng cường, mà trong đó phải kể đến "sức mạnh mềm" là văn hóa, giáo dục, tri thức - trở thành lực đẩy chiến lược. Khi một đứa trẻ ở vùng cao được cắp sách đến trường trong sự quan tâm của cả cộng đồng, khi một sinh viên tài năng được chắp cánh ước mơ không vì rào cản tài chính, thì lòng biết ơn và tình yêu đối với Tổ quốc sẽ được vun trồng một cách tự nhiên và bền chặt, chính là "vũ khí" lợi hại để bồi đắp nên"sức mạnh mềm" quốc gia.

Suy cho cùng, đích đến tối thượng của giáo dục Xã hội chủ nghĩa là hướng con người đến phát triển toàn diện đáp ứng được yêu cầu bối cảnh mới diễn ra, đưa đất nước phát triển bền vững tiến tới đài vinh quang của dân tộc. Để làm được điều đó, giáo dục phải thực sự trở thành hơi thở, thành sinh khí của quốc gia; là mối quan tâm, là trách nhiệm, là hy vọng của mỗi người dân Việt. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn "Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em"[19]. Bước vào kỷ nguyên mới, câu nói ấy càng trở nên sâu sắc, soi đường cho sứ mệnh giáo dục của dân tộc. Sợi chỉ đỏ xuyên suốt hành trình đưa đất nước bứt phá chính là "tính nhân dân" – lấy nhân dân làm cội nguồn và hướng tới phục vụ nhân dân làm đích đến. Một nền giáo dục thấm đẫm tính nhân dân sẽ là thứ "vũ khí mềm" lợi hại làm nên vận mệnh và tầm vóc của dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế.

Nguyễn Thị Minh Hạnh

Trường chính trị TP Đà Nẵng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 1,2; 2026

2. Luật Giáo dục năm 2019 (sửa đổi bổ sung năm 2025)

3. Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ chính trị ban hành ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo

    Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.161.

    Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t. 11, tr.528

    Hồ Chí Minh - Toàn tập, Sđd, t6, tr. 208

    Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.12, tr.74

    Lê Mậu Hãn (Chủ biên): Biên niên lịch sử Chính phủ Việt Nam 1945-2005, Nxb Văn hóa Thông tin, H, 2006, T.1 (1945-1954), tr. 32-33

    Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 4, tr. 40-41

    Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, 2026, tập 1, tr. 329.

    Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, 2026, tập 2, tr. 131.

    Bộ chính trị, Nghị quyết số 71-NQ/TW ban hành ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

    Bộ chính trị, Nghị quyết số 71-NQ/TW ban hành ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

    https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/bo-chinh-tri-quyet-dinh-mien-hoc-phi-cho-hoc-sinh-pho-thong-cong-lap-11925022817591807.htm

    https://tuoitre.vn/xay-dung-248-truong-noi-tru-o-bien-gioi-chu-truong-nhan-van-kip-thoi-20250724094228498.htm

    https://thanhnien.vn/gia-lai-xay-truong-noi-tru-ban-tru-cho-hon-7000-hoc-sinh-vung-bien-185250724103713773.htm

    https://vnexpress.net/bo-yeu-cau-nam-sinh-cao-1-65m-vi-bi-bo-giao-duc-tuyt-coi-4755574.html

    Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, 2026, tập 2, tr. 274, 224.

    Bộ chính trị, Nghị quyết số 71-NQ/TW ban hành ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

    Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t1, tr.137

    Bài viết "Học tập suốt đời" của Tổng bí thư Tô Lâm

    Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.5, tr.35